ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
CAO THỊ MAI HIÊN
ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ CHỒNG TRONG QUAN
HỆ KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT VIỆT
NAM HIỆN HÀNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2017
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
CAO THỊ MAI HIÊN
ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ CHỒNG TRONG QUAN
HỆ KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT VIỆT
NAM HIỆN HÀNH
Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số
: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
1.2. Sơ lƣợc lịch sử pháp luật Việt Nam về quan hệ đại diện giữa vợ chồng
trong quan hệ kinh doanh ..................................................................................... 24
1.2.1. Giai đoạn trƣớc cách mạng tháng Tám năm 1945 .................................. 24
1.2.2. Giai đoạn từ 1945 đến nay....................................................................... 26
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 .................................................................................... 30
CHƢƠNG 2 ......................................................................................................... 31
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ CHỒNG
TRONG QUAN HỆ KINH DOANH Ở VIỆT NAM .......................................... 31
2.1. Thực trạng đại diện theo pháp luật giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh
.............................................................................................................................. 31
2.1.1. Đại diện theo pháp luật giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh khi một
bên bị mất năng lực hành vi dân sự. .................................................................... 31
2.1.2. Đại diện theo pháp luật giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh khi
một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. ....................................................... 42
4
2.1.3. Đại diện theo pháp luật giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh khi một
bên gặp khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. .......................................... 46
2.2. Thực trạng đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh
doanh .................................................................................................................... 47
2.2.1. Căn cứ pháp lý của việc đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng trong
quan hệ kinh doanh. ............................................................................................. 47
2.2.2. Quyền và nghĩa vụ của việc đại diện theo ủy quyền giữa vợ chồng trong
quan hệ kinh doanh. ............................................................................................. 50
2.3. Trách nhiệm liên đới của vợ chồng về vấn đề đại diện trong quan hệ kinh
doanh. ................................................................................................................... 52
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 .................................................................................... 57
CHƢƠNG 3 ......................................................................................................... 58
: Giao dịch Dân sự
MỞ ĐẦU
6
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Đại diện là một chế định quan trọng nhằm hỗ trợ việc thực hiện các quan
hệ pháp luật nói chung của các chủ thể. Cũng nhƣ các quốc gia khác trên thế
giới, tại Việt Nam đại diện là một chế định đƣợc quy định trong Bộ luật Dân sự
2005. Luật Hôn nhân và gia đình 2014 lần đầu tiên quy định mới về vấn đề đại
diện của vợ chồng đó là đại diện của vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh.
Xuất phát từ quyền bình đẳng giữa vợ và chồng, bảo vệ quyền và lợi ích
của gia đình mà vợ chồng có quyền đại diện cho nhau theo pháp luật hoặc theo
ủy quyền. Việc vợ, chồng đại diện cho nhau trong các giao dịch dân sự phục vụ
cho sinh hoạt của gia đình hay liên quan đến hoạt động kinh doanh ngày càng
nhiều.
Hiện nay các quan hệ kinh doanh ngày càng đa dạng và phức tạp. Vợ,
chồng có quyền tự do kinh doanh, trong đó có cả việc sử dụng tài sản riêng và tài
sản chung vào các giao dịch này. Chính vì thế việc đặt ra vấn đề đại diện trong
quan hệ kinh doanh đáp ứng nhu cầu phát triển trong xã hội hiện đại, đảm bảo
đƣợc quyền, lợi ích của các bên trong giao lƣu dân sự.
Nghiên cứu vấn đề đại diện giữa vợ và chồng, đặc biệt là đại diện giữa vợ
và chồng trong quan hệ kinh doanh là cần thiết nhằm đảm bảo việc thực hiện
chức năng của gia đình, đảm bảo lợi ích của vợ chồng trong các giao dịch dân sự
và trách nhiệm liên đới (trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại) trong quan hệ kinh
vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, do Nguyễn Phƣơng Lan chủ
nhiệm (2008), “Chế định đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam – nhìn
từ góc độ luật so sánh” của PGS.TS Ngô Huy Cƣơng, Tạp chí nhà nƣớc và pháp
luật (04/2009), Luận văn thạc sĩ “Pháp luật Việt Nam về đại diện trong quan hệ
hợp đồng” của Đỗ Hoàng Yến (2012), Luận văn thạc sĩ “Đại diện giữa vợ và
chồng theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành” của Nguyễn Thị Hạnh
(2012).
Với tính chất là một vấn đề mới và trong thực tiễn cuộc sống cũng phát
sinh nhiều tranh chấp liên quan đến này, nên việc nghiên cứu một cách hệ thống
8
quy định về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh là cần thiết và
phù hợp.
3.
Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
-
Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ các quy định của pháp luật về đại
diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh. Phân tích và làm rõ những vấn
đề về lý luận và thực tiễn của đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh
doanh để từ đó làm cơ sở cho các cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh
chấp liên quan đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh, góp phần
nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật, cũng nhƣ đƣa ra một số định
hƣớng, kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về đại diện giữa vợ và
+ Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật vào thực tế.
-
Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu về vấn đề đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh
doanh, vì vậy luận văn đi từ cái chung đến cái riêng, với nguồn cơ bản là Bộ luật
Dân sự. Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này chỉ nghiên cứu
các vấn đề về đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh ở Việt Nam hiện
nay.
5.
Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh cũng nhƣ các quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc về pháp luật, hôn nhân và
gia đình.
Các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể đƣợc sử dụng là phân tích, tổng hợp,
lịch sử, so sánh, thống kê, logic v.v...
6.
Tính mới và đóng góp của đề tài
Hiện nay, chƣa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về vấn đề đại diện
giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh. Là vấn đề mới đƣợc cụ thể hóa
trong luật nên hiện nay chỉ dừng lại ở việc có những bài viết, bài giảng riêng lẻ
đánh giá về nó.
Luận văn cố gắng làm sáng tỏ những vấn đề mà thực tế trong cuộc sống
đang xảy ra, đánh giá cặn cẽ tác động của luật định đối với vấn đề này trong
1.1.1. Khái niệm chung về “Đại diện”
Đại diện là một chế định pháp lý theo đó ngƣời đại diện độc lập thực hiện
sự thể hiện ý chí làm phát sinh hậu quả pháp lý trực tiếp đối với ngƣời đƣợc đại
diện. Xét từ góc độ lý luận thì ngƣời thực hiện các hành vi pháp lý đồng thời là
ngƣời tiếp nhận kết quả của các hành vi đó. Có thể thấy đại diện là một chế định
pháp luật thể hiện sự linh hoạt, mềm dẻo trong cách thức tham gia vào giao dịch
dân sự (GDDS) của các chủ thể.
Theo cách diễn giải tại cuốn Từ điển tiếng Việt thì đại diện là sự “thay mặt
(cho cá nhân, tập thể)” [35, tr.279].
Từ điển Luật học giải thích đại diện là “việc một ngƣời, một cơ quan, tổ
chức nhân danh ngƣời, cơ quan, tổ chức khác xác lập, thực hiện hành vi pháp lý
trong phạm vi thẩm quyền đại diện” [36, tr225].
Với các cách hiểu này có thể thấy chủ thể tham gia giao dịch gồm có
ngƣời đại diện, ngƣời đƣợc đại diện và một bên thứ ba khi ngƣời đại diện thay
mặt ngƣời đƣợc đại diện giao dịch vớibên thứ ba. Cả ba bên đều có thể là cá
nhân, tổ chức. Nhƣ vậy mối quan hệ giữa ngƣời đại diện và ngƣời đƣợc đại diện
là sự thỏa thuận tự nguyện và đúng theo quy định của pháp luật. Các giao dịch
mà ngƣời đại diện thay mặt ngƣời đƣợc đại diện thực hiện với Bên thứ ba sẽ tạo
ra quyền và nghĩa vụ đối với ngƣời đƣợc đại diện.
Trong xã hội La Mã, ngƣời chủ trong gia đình đƣợc quyền sở hữu mọi thứ
do những ngƣời trong gia đình có đƣợc từ các nguồn khác nhau hoặc do nô lệ tạo
12
nên. Vì vậy mà luật La Mã không có quy định nào cụ thể về đại diện nhƣ các
nƣớc theo truyền thống Common Law [7, tr.26-31].
Càng về sau, do yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, giao lƣu trong
thƣơng mại và vấn đề đại diện đƣợc đề cập đến nhiều hơn. Cho đến ngày nay,
chế định này đã phổ biến rộng rãi trong đời sống giao lƣu dân sự. Nó thừa nhận
quan hệ pháp luật dân sự thì đại diện còn có những đặc điểm riêng:
-
Đại diện làm phát sinh hai mối quan hệ cùng tồn tại: Đó là quan hệ bên
trong và quan hệ bên ngoài [18, tr.142].
Quan hệ bên trong là quan hệ đƣợc hình thành giữa ngƣời đƣợc đại diện và
ngƣời đại diện theo quy định của pháp luật (đại diện theo pháp luật) hoặc theo
hợp đồng (đại diện theo ủy quyền). Ngƣời đại diện là cá nhân có đầy đủ năng lực
hành vi dân sự, nhân danh chủ thể trong việc thực hiện các giao dịch pháp luật
cho phép hoặc theo nội dung đƣợc ủy quyền. Ngƣời đƣợc đại diện có thể là cá
nhân hoặc tổ chức có nhu cầu ủy quyền cho một cá nhân khác thay mình thực
hiện một công việc, một giao dịch dân sự nào đó.
Ví dụ: Theo quy định của pháp luật hiện hành thì mọi giao dịch dân sự của
ngƣời chƣa đủ 6 tuổi đều phải do ngƣời đại diện xác lập, thực hiện. Nhƣ vậy
quan hệ đại diện ở đây đƣợc xác lập theo quy định của pháp luật chứ không phải
dựa trên sự thỏa thuận của các bên.
Quan hệ bên ngoài là quan hệ đƣợc xác lập giữa ngƣời đƣợc đại diện và
ngƣời thứ ba. Quan hệ bên trong là tiền đề, là cơ sở cho sự xuất hiện và tồn tại
của quan hệ bên ngoài.
-
Ngƣời đại diện nhân danh ngƣời đƣợc đại diện thực hiện các giao dịch dân
sự với bên thứ ba.
Ở đây ngƣời đại diện xác lập quan hệ với ngƣời thứ ba nhân danh ngƣời
đƣợc đại diện chứ không nhân danh bản thân mình, vì vậy các quyền và nghĩa vụ
do ngƣời đại diện thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện với ngƣời thứ ba
đều thuộc về ngƣời đƣợc đại diện. Ngƣời đại diện có thể đƣợc hƣởng những lợi
lập thực hiện với ngƣời thứ ba đều thuộc về ngƣời đƣợc đại diện, điều này có
nghĩa là quan hệ pháp luật dân sự phát sinh giữa ngƣời đƣợc đại diện và ngƣời
thứ ba, chứ không phải giữa ngƣời trực tiếp tiến hành xác lập giao dịch dân sự ngƣời đại diện với ngƣời thứ ba.
15
Trong trƣờng hợp ngƣời đại diện thực hiện giao dịchvƣợt quá phạm vi đại
diện thì ngƣời đƣợc đại diện sẽ không phải chịu trách nhiệm đối với phạm vi
vƣợt quá đó trừ trƣờng hợp ngƣời đƣợc đại diện đồng ý.
Nguyên tắc của quan hệ đại diện
-
Dựa trên nguyên tắc bảo đảm quyền tự do của công dân theo Hiến pháp.
Công dân có quyền và lợi ích dù không thực hiện các giao dịch dân sự có liên
quan tới mình và đƣợc thực hiện thông qua ngƣời đại diện. Đại diện bảo đảm
cho quyền của công dân không bị gián đoạn khi mà họ có nhu cầu giao dịch
nhƣng vì những lý do khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng mà không thể tự
mình thực hiện giao dịch đƣợc.
-
Dựa trên nguyên tắc tự do giao kết của các chủ thể trong xã hội. Công dân
có quyền làm những việc mà pháp luật không cấm. Vì vậy mà trong khuôn khổ
quy định của pháp luật, các cá nhân có quyền thay mặt nhau thực hiện những
công việc theo thỏa thuận. Ngƣời đại diệnnhân danh ngƣời đƣợc đại diện trong
-
Kinh tế, xã hội ngày càng phát triển thì đại diện ngày càng đƣợc biết đến
nhƣ là một dịch vụ trong nền kinh tế tri thức. Những ngƣời có đủ năng lực, trình
độ chuyên môn sẽ thực hiện cáccông việc mà ngƣời có nhu cầu mong muốn
thông qua hợp đồng ủy quyền. Ví dụ nhƣ ông A có tranh chấp đối với ông B và
ông A kiện ông B ra tòa. Vì lý do sức khỏe mà ông A không muốn trực tiếp tham
gia vào vụ kiện này mà muốn ủy quyền cho một ngƣời khác thay mặt mình giải
quyết các công việc liên quan đến nội dung của vụ kiện. Ông A đã thuê ông C –
Luật sƣ của Văn phòng luật sƣ Z để thay mặt và nhân danh mình thực hiện tất cả
các thủ tục với cơ quan có thẩm quyền cũng nhƣ giải quyết tất cả các vấn đề về
vụ kiện.
Đây là một nhu cầu thực tế và thiết yếu hiện nay khi mà có nhiều giao
dịch dân sự ngƣời có nhu cầu không thể tự mình thực hiện đƣợc và phù hợp
trong nền kinh tế thị trƣờng ngày nay.
Chế định đại diện là một chế định quan trọng và có ý nghĩa lớn không chỉ
trong khoa học pháp lý mà còn có ý nghĩa quan trọng trong các giao dịch dân sự
hàng ngày, liên quan đến nhiều lĩnh vực của cuộc sống. Tuy nhiên trong phạm vi
nghiên cứu của luận văn này chỉ đề cập tới vấn đề đại diện giữa vợ và chồng
trong quan hệ kinh doanh mà không đề cập đến các vấn đề đại diện khác nhƣ đại
diện hành chính, ngoại giao.....
Bộ luật Dân sự 2015 và những điểm mới về đại diện
17
BLDS 2005 sau 10 năm thi hành, đã có tác động tích cực đến sự phát triển
2015), với 06 phần, 27 Chƣơng, 689 điều (giảm 88 điều so với BLDS 2005).
Phạm vi sửa đổi Bộ luật dân sự là sửa đổi căn bản, toàn diện, trong đó quy
định về đại diện cũng đƣợc sửa đổi phù hợp hơn với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc trong thời kỳ hội nhập. Những điểm mới về đại diện trong
BLDS 2015 so với BLDS 2005 gồm:
Một là: Quy định rõ ràng bên đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân.
Nếu nhƣ BLDS 2005 quy định bên đại diện chỉ là cá nhân thì trong BLDS 2015
đã mở rộng đối tƣợng đƣợc là ngƣời đại diện có thể tham gia vào quan hệ pháp
luật dân sự.
Hai là: Pháp nhân có thể có nhiều ngƣời đại diện theo pháp luật. Đây là
quy định mới lần đầu tiên đƣợcđƣa vào BLDS. Quy định này phù hợp với Luật
Doanh nghiệp 2014, đảm bảo sự hài hòa giữa quy định của luật chung cũng nhƣ
luật chuyên ngành.
Ba là: Theo BLDS 2005, ngƣời đại diện theo pháp luật của hộ gia đình là
Chủ hộ, của tổ hợp tác là Tổ trƣởng. Tuy nhiên đến nay, BLDS2015 đã không
còn ghi nhận tƣ cách ngƣời đại diện theo pháp luật của hộ gia đình, tổ hợp tác,
thay vào đó các thành viên trong hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có
tƣ cách pháp nhân có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy
quyền để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của các
thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tƣ cách pháp nhân đó.
Thứ tƣ: Bổ sung quy định về thời hạn đại diện
BLDS 2015 bổ sung thêm quy định về việc xác định thời hạn đại diện
trong trƣờng hợp không xác định đƣợc thời hạn đại diện theo văn bản ủy quyền;
quyết định của cơ quan có thẩm quyền; điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy
19
định của pháp luật. Cụ thể: Nếu quyền đại diện đƣợc xác định theo giao dịch dân
sự cụ thể thì thời hạn đại diện đƣợc tính đến thời điểm chấm dứt giao dịch dân sự
đó; Nếu quyền đại diện không đƣợc xác định với giao dịch dân sự cụ thể thì thời
chung sẽ đƣợc coi là trách nhiệm của cả hai vợ chồng. Trong nền kinh tế thị
trƣờng, quyền tự do, bình đẳng luôn đƣợc đề cao. Vợ chồng có nghĩa vụ duy trì
và bảo đảm tài sản mình sử dụng để kinh doanh đạt hiệu quả, mang lại nguồn lợi
kinh tế cho gia đình.
1.1.3. Đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh
Khái niệm đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh
Quyền đại diện giữa vợ chồng đƣợc quy định trong phần nghĩa vụ của vợ
và chồng về việc quản lý tài sản chung và riêng trong BLDS. Ngoài ra Luật HN
& GĐ cũng quy định về việc vợ chồng đƣợc đại diện cho nhau trong các giao
dịch dân sự thông qua đại diện.
Cơ sở của hôn nhân là tình yêu giữa nam và nữ. Mục đích của hôn nhân là
xây dựng gia đình no ấm bình đẳng tiến bộ hạnh phúc bền vững. Để hôn nhân
đạt đƣợc mục đích đó thì điều cơ bản là hai ngƣời trong quan hệ hôn nhân phải
yêu thƣơng, chung thủy, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Sự quý trọng chăm sóc giúp
đỡ nhau giữa vợ và chồng thể hiện ở hành vi cách xử sự và thái độ của họ với
nhau. Cơ sở lâu dài của hôn nhân là sự bình đẳng của vợ chồng. Quyền bình
đẳng đó đƣợc thể hiện ở việc vợ chồng cùng bàn bạc và quyết định các vấn đề
liên quan đến nhân thân và tài sản của bản thân vợ chồng và của mỗi thành viên
trong gia đình, liên quan đến đời sống chung của gia đình. Vợ chồng cùng nhau
thực hiện các chứng năng của gia đình để đảm bảo cho việc thỏa mãn đầy đủ các
nhu cầu về vật chất và tinh thần. Vợ chồng ràng buộc lẫn nhau bởi nhiều bổn
phận, trong đó có những bổn phẩn ảnh hƣởng đến quyền hạn của vợ, chồng trong
việc xác lập các giao dịch liên quan đến tài sản. Suy cho cùng, tất cả tài sản của
21
đã không còn phù hợp với tình hình phát triển chung, cần đƣợc sửa đổi cho phù
hợp.
Từ những quy định của pháp luật về đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ
kinh doanh và những phân tích ở trên, ta có thể định nghĩa đại diện giữa vợ
chồng trong quan hệ kinh doanh nhƣ sau:
Đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh là việc một bên vợ hoặc
chồng nhân danh người còn lại thực hiện các giao dịch liên quan đến quan hệ
kinh doanh bằng tài sản chung hoặc tài sản riêng dựa theo quy định của pháp
luật hoặc sự thỏa thuận của vợ chồng vì lợi ích chung.
Đặc điểm của đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh
-
Chủ thể trong quan hệ đại diện:
So với quan hệ đại diện chung, chủ thể của đại diện giữa vợ chồng không
có nhiều điểm khác biệt. Vợ chồng đại diện cho nhau trong các giao dịch liên
quan đến tài sản chung thì tƣ cách chủ thể đôi khi lại dễ dàng đƣợc xác định. Vì
ngoài mối quan hệ liên quan đến tài sản, vợ chồng có mối quan hệ đặc biệt là
quan hệ nhân thân đã đƣợc xác lập nhờ sự kiện kết hôn. Xác định chủ thể đại
diện quan trọng khi xác lập giao dịch với bên thứ ba vì nó sẽ phát sinh quyền và
nghĩa vụ của các bên. Vợ hoặc chồng đại diện cho ngƣời còn lại thực hiện các
giao dịch liên quan đến kinh doanh sẽ định đoạt toàn bộ những nội dung có liên
quan và ngƣời còn lại sẽ phải có trách nhiệm liên đới đối với quyết định của
ngƣời đại diện giao kết.
-
Ý chí của chủ thể trong quan hệ đại diện:
pháp lý sẽ cao hơn, bảo đảm sự tin tƣởng với bên thứ ba.
1.2.
Sơ lƣợc lịch sử pháp luật Việt Nam về quan hệ đại diện giữa vợ chồng
trong quan hệ kinh doanh
1.2.1. Giai đoạn trước cách mạng tháng Tám năm 1945
Trong xã hội phong kiến Việt Nam, các quy định về hôn nhân và gia đình
chiếm một vị trí quan trọng. Tuy nhiên trong cổ luật Việt Nam những quy định
liên quan đến tài sản của vợ chồng cũng nhƣ việc sử dụng tài sản đó nhƣ thế nào
24
trong quan hệ hàng ngày lại hầu nhƣ không đƣợc quy định. Ví dụ nhƣ Quốc triều
hình luật ban hành dƣới triều Lê trong khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470 1497) và Hoàng Việt luật lệ ban hành dƣới triều Nguyễn (1892) [8, tr.50].
Vấn đề đƣợc đặt lên hàng đầu trong quan hệ hôn nhân đó là vấn đề tình
cảm, tình nghĩa vợ chồng, cha mẹ và các con theo thuyết Khổng giáo, đề cao
truyền thống gia đình, lợi ích chung lên trên hết. Do đó tài sản vợ chồng có đƣợc
tạo thành một khối thống nhất, ngƣời chồng có quyền ký kết bất kỳ hợp đồng
nào liên quan đến tài sản của gia đình và đều đƣơng nhiên đƣợc coi là có hiệu
lực. Quan hệ đại diện hầu nhƣ không đƣợc đặt ra trong thời kỳ này. Quyền sở
hữu tập trung vào tay ngƣời chồng và không có sự bình đẳng giữa vợ và chồng
đối với tài sản.
Trƣớc năm 1945, Việt Nam là nƣớc thuộc địa nửa phong kiến, quan hệ
hôn nhân thời kỳ này đƣợc điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật trong một số bộ
luật dân sự đƣợc áp dụng cho từng khu vực của Việt Nam đó là Bộ dân luật Bắc
Kỳ năm 1931, Bộ dân luật Trung Kỳ 1936 và Bộ dân luật giản yếu năm 1883.
Pháp luật thời kỳ này chịu ảnh hƣởng của Bộ luật Dân sự Pháp. Nhào nặn
tƣ duy pháp lý cổ xƣa với các tƣ tƣởng của luật học phƣơng Tây, xây dựng