BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
HOÀNG MAI YẾN
MSV: 1101613
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG
CEFTRIAXON TRÊN TRẺ SƠ SINH
TẠI TRUNG TÂM CHĂM SÓC
VÀ ĐIỀU TRỊ SƠ SINH - BỆNH VIỆN
PHỤ SẢN TRUNG ƢƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ
HÀ NỘI - 2016
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
HOÀNG MAI YẾN
MSV: 1101613
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG
CEFTRIAXON TRÊN TRẺ SƠ SINH
TẠI TRUNG TÂM CHĂM SÓC
VÀ ĐIỀU TRỊ SƠ SINH - BỆNH VIỆN
PHỤ SẢN TRUNG ƢƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ
Người hướng dẫn
1. ThS. Cao Thị Bích Thảo
2. ThS. Thân Thị Hải Hà
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ.................................................................................................................. 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN ........................................................................................... 2
1.1. Tổng quan về nhiễm khuẩn sơ sinh. .................................................................2
1.1.1. Dịch tễ và nguyên nhân ..............................................................................2
1.1.2. Dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng ...........................................................2
1.1.3. Các yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn sơ sinh ...................................................4
1.2. Tổng quan về sử dụng kháng sinh ở trẻ sơ sinh ...............................................5
1.2.1. Kháng sinh điều trị nhiễm khuẩn sơ sinh ...................................................5
1.2.2. Kháng sinh dự phòng nhiễm khuẩn sơ sinh ...............................................6
1.3. Tổng quan về kháng sinh ceftriaxon .................................................................8
1.3.1. Dƣợc động học ...........................................................................................8
1.3.2. Cơ chế tác dụng, cơ chế đề kháng ............................................................10
1.3.3. Phổ tác dụng .............................................................................................10
1.3.4. Chỉ định ....................................................................................................11
1.3.5. Chống chỉ định .........................................................................................12
1.3.6. Liều dùng- cách dùng ...............................................................................13
1.3.7. Tác dụng không mong muốn ....................................................................14
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................. 16
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu .....................................................................................16
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn .................................................................................16
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ ...................................................................................16
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................................16
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu .................................................................................16
2.2.2. Phƣơng pháp chọn mẫu ...........................................................................16
2.3. Chỉ tiêu nghiên cứu .........................................................................................17
4.1.4. Đặc điểm về xét nghiệm vi sinh ...............................................................37
4.2. Đặc điểm sử dụng ceftriaxon ..........................................................................38
4.2.1. Lý do chỉ định kháng sinh ........................................................................38
4.2.2. Đặc điểm phác đồ sử dụng .......................................................................39
4.2.3. Đặc điểm về liều dùng, cách dùng, thời gian dùng ceftriaxon .................42
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ........................................................................................... 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: PHIẾU THU THẬP THÔNG TIN BỆNH ÁN
PHỤ LỤC 2: THÔNG TIN BỆNH NHÂN
CHƢƠNG 1.
WHO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Tổ chức y tế thế giới
(World Health Organization)
NICE
Viện Y tế Quốc gia về Chất lƣợng điều trị, Vƣơng quốc Anh
(National Institute for Health and Care Excellence)
FDA
Cục quản lý thực phẩm và dƣợc phẩm Hoa Kỳ
(Food and Drug Administration)
BNFC
Hình 3.1 Quy trình lấy mẫu ..................................................................................................... 22
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trẻ sơ sinh (trẻ mới sinh có tuổi thực dƣới 28 ngày) là đối tƣợng có hệ miễn
dịch chƣa hoàn thiện, rất dễ bị các loại vi khuẩn tấn công gây nên tình trạng nhiễm
khuẩn. Do đó kháng sinh là nhóm thuốc đƣợc sử dụng phổ biến trong các đơn vị
chăm sóc tích cực sơ sinh. Bên cạnh việc sử dụng kháng sinh để điều trị nhiễm
khuẩn sơ sinh, nhiều tài liệu khuyến cáo rằng cần sử dụng kháng sinh trên trẻ sơ
sinh có nghi ngờ nhiễm khuẩn [12], [63]. Tuy nhiên, đây là đối tƣợng có các đặc
điểm sinh lý, bệnh lý khác biệt làm cho dƣợc động học của nhiều thuốc trở nên thay
đổi so với các đối tƣợng khác, đáp ứng điều trị trở nên khó dự đoán và nguy cơ xuất
hiện các tác dụng không mong muốn tăng lên. Ví dụ, sử dụng aminoglycosid kéo
dài trên 7 ngày làm tăng độc tính trên tai và thận, dùng ceftriaxon trên trẻ có vàng
da, tăng bilirubin máu làm tăng nguy cơ độc tính trên thần kinh. Vì vậy việc lựa
chọn kháng sinh để điều trị cần cân nhắc dựa trên tình trạng sinh lý, bệnh lý của
bệnh nhân, kết hợp với đặc điểm vi sinh của địa phƣơng để đƣa ra phác đồ điều trị
an toàn, hiệu quả, hạn chế tình trạng kháng thuốc.
Theo một khảo sát sử dụng kháng sinh trên trẻ sơ sinh năm 2015 tại Trung tâm
chăm sóc và điều trị sơ sinh bệnh viện Phụ Sản Trung Ƣơng, gần ½ bệnh nhân có
sử dụng kháng sinh trong thời gian nằm viện (44,2%), trong đó ceftriaxon đƣợc sử
dụng phổ biến nhất (85,9%), đáng lƣu ý là 31,8% lƣợt kháng sinh có chỉ định không
phù hợp theo tiêu chí của nghiên cứu này đều là của ceftriaxon [8].
Từ thực tế trên, chúng tôi muốn làm rõ hơn tình trạng sử dụng kháng sinh
ceftriaxon tại đây, cũng là lý do chúng tôi tiến hành đề tài: “Khảo sát tình hình sử
dụng ceftriaxon trên trẻ sơ sinh tại Trung tâm chăm sóc và điều trị sơ sinh
bệnh viện Phụ Sản Trung Ƣơng” với 2 mục tiêu:
Escherichia coli, Enterobacteriaceae [47], [77].
1.1.2. Dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng
Khi chƣa có kết quả vi sinh và các xét nghiệm cận lâm sàng để cho một chẩn
đoán chắc chắn về nhiễm khuẩn sơ sinh, các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu lâm sàng
đƣợc sử dụng để xác định nguy cơ nhiễm khuẩn trên trẻ giúp đƣa ra các can thiệp
kịp thời. Các dấu hiệu lâm sàng của nhiễm khuẩn sơ sinh thƣờng không đặc hiệu, dễ
3
bị nhầm lẫn với các bệnh không phải nhiễm khuẩn, bao gồm: rối loạn thân nhiệt (sốt
cao hoặc hạ thân nhiệt), da tái, nổi vân tím, đôi khi có các nốt xuất huyết trên da, vẻ
mặt nhiễm trùng, hốc hác, môi khô, sụt cân, li bì, đôi khi có co giật, động kinh, thở
rên, phổi có ran, ăn kém, nôn trớ, thiểu niệu… [6].
Các xét nghiệm cận lâm sàng là cần thiết để đánh giá tình trạng bệnh nhân, có
thể không hữu ích trong việc ra quyết định có điều trị kháng sinh hay không nhƣng
có thể hỗ trợ trong quyết định ngừng điều trị [63]. Cấy máu và các dịch cơ thể, đo
nồng độ CRP, procalcitonin, xét nghiệm công thức máu là các biện pháp cận lâm
sàng cho giá trị đáng tin cậy trong việc đánh giá nhiễm khuẩn [21], [63].
Phân lập vi khuẩn từ máu, dịch não tủy, dịch mủ của bệnh nhân là tiêu chuẩn
vàng để chẩn đoán nhiễm khuẩn, tuy nhiên độ nhạy của phƣơng pháp nuôi cấy
tƣơng đối thấp do việc sử dụng kháng sinh đồng thời, thể tích mẫu bệnh phẩm nhỏ
và các hạn chế về kỹ thuật khác [23].
Theo Hƣớng dẫn điều trị nhiễm khuẩn sơ sinh của Bộ Y Tế (2015), giá trị
bạch cầu lớn hơn 25000/mm3 hoặc nhỏ hơn 5000/mm3, tiểu cầu nhỏ hơn
100000/mm3, CRP > 10mg/l có liên quan tới một tình trạng nhiễm khuẩn [6].Trong
báo cáo của Gaetano Chirico, bạch cầu nhỏ hơn 5000/mm3 hoặc lớn hơn
20000/mm3 đã gợi ý nhiễm khuẩn ở trẻ sơ sinh; tuy nhiên độ chính xác không cao
do độ đặc hiệu (31-100%) và độ nhạy (17-90%) dao động ở khoảng lớn bởi nhiều
nguyên nhân khác nhau [23].
xúc trực tiếp với da, mắt của trẻ hoặc đôi khi trẻ có nuốt nƣớc ối [63]. Khoảng 40%
các ca nhiễm khuẩn sơ sinh khởi phát sớm có liên quan đến nhiễm khuẩn ối; các
yếu tố nghi ngờ nhiễm khuẩn ối gồm: mẹ sốt trên 380C, tăng bạch cầu (> 15000 tế
bào/ml), nhịp tim nhanh (> 100 nhịp/phút), đau tử cung, nƣớc ối có mùi, nhịp tim
của thai nhi nhanh (> 160 nhịp/phút) [74]. Mẹ bị nhiễm liên cầu nhóm B, vỡ ối kéo
dài trên 18h, vỡ ối non đều là các yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn khởi phát sớm ở con
[21].
5
1.2. Tổng quan về sử dụng kháng sinh ở trẻ sơ sinh
Trên trẻ sơ sinh, kháng sinh có thể dùng để điều trị các bệnh lý nhiễm khuẩn
sơ sinh hoặc dự phòng nhiễm khuẩn sơ sinh.
1.2.1. Kháng sinh điều trị nhiễm khuẩn sơ sinh
Khi điều trị các bệnh nhiễm khuẩn, kháng sinh có thể đƣợc kê theo phác đồ
kinh nghiệm (phác đồ sử dụng cho BN khi chƣa có bằng chứng vi sinh, nhƣng có
bằng chứng lâm sàng rõ rệt về nhiễm khuẩn), hoặc theo phác đồ khi có bằng chứng
vi sinh (xét nghiệm phân lập vi khuẩn, kháng sinh đồ).
Theo Hƣớng dẫn điều trị nhiễm khuẩn sơ sinh của Bộ Y tế (2015), điều trị
nhiễm trùng sơ sinh sớm bằng phác đồ phối hợp β-lactam và aminoglycosid; khi
chƣa có kết quả kháng sinh đồ, có thể sử dụng ampicilin (hoặc penicilin) phối hợp
với gentamicin hoặc amikacin; nếu ngƣời mẹ đƣợc sử dụng kháng sinh trƣớc đó mà
trẻ nghi ngờ nhiễm vi khuẩn kháng ampicilin (E. coli, Enterobacter) kháng sinh lựa
chọn có thể là cefotaxim, ceftriaxon, imipenem phối hợp aminoglycosid [6].
Theo Sanford Guide Antimicrobial Therapy 2011, phác đồ cho viêm màng não
ở trẻ sơ sinh là ampicilin phối hợp cefotaxim hoặc gentamicin; điều trị viêm phổi
bằng ampicilin phối hợp gentamicin có hoặc không có cefotaxim; điều trị nhiễm
khuẩn huyết bằng phác đồ ampicilin phối hợp cefotaxim (phác đồ thay thế là
ampicilin phối hợp ceftriaxon) [31].
dụng kháng sinh hợp lý, tức là chỉ sử dụng kháng sinh trên những bệnh nhân có
nguy cơ bị nhiễm khuẩn, ngƣng kháng sinh kinh nghiệm khi không có bằng chứng
nhiễm khuẩn, sử dụng các kháng sinh phổ hẹp khi có thể (dựa trên kết quả thử
nghiệm tính nhạy cảm) và điều trị trong thời gian thích hợp. Giảm điều trị bằng các
kháng sinh phổ rộng giúp giảm phát triển kháng thuốc trong các đơn vị chăm sóc
tích cực sơ sinh.
Theo NICE 2012 [12], cần đánh giá các yếu tố nguy cơ và các chỉ số lâm sàng
trên trẻ sơ sinh để đƣa ra quyết định theo dõi hoặc bắt đầu điều trị càng sớm càng
tốt ngay sau khi sinh. Có yếu tố nguy cơ và chỉ số lâm sàng đƣợc đánh giá là các
dấu hiệu cờ đỏ, cần có sự can thiệp bằng kháng sinh càng sớm càng tốt. Các yếu tố
7
nguy cơ bao gồm: đứa con trƣớc bị nhiễm liên cầu nhóm B; mẹ bị nhiễm liên cầu
nhóm B, nhiễm khuẩn niệu hoặc có nhiễm khuẩn tại thời điểm sinh; sinh non sau
chuyển dạ tự nhiên (tuổi thai < 37 tuần); vỡ ối non; nghi ngờ hoặc xác định vỡ ối
trên 18h với trẻ sinh non; sốt trong chuyển dạ hoặc xác định hay nghi ngờ nhiễm
khuẩn ối; mẹ có sử dụng kháng sinh điều trị nhiễm khuẩn trong quá trình sinh đẻ,
không tính các kháng sinh dự phòng chuyển dạ (dấu hiệu cờ đỏ); nghi ngờ hoặc xác
định nhiễm khuẩn trong trƣờng hợp đa thai (dấu hiệu cờ đỏ). Các chỉ số lâm sàng:
phản ứng chậm, co cứng, bỏ bú, không dung nạp thức ăn (nôn, trớ…), nhịp tim bất
thƣờng (quá nhanh hoặc quá chậm), suy hô hấp, vàng da sau sinh 24h, có vấn đề
liên quan tới đông máu, thiểu niệu kéo dài trên 24h sau sinh, nhiễm toan chuyển
hóa, nhiệt độ bất thƣờng (dƣới 360C hoặc trên 380C không do môi trƣờng), có dấu
hiệu của nhiễm khuẩn tại chỗ (thay đổi màu da hoặc màu mắt…), thay đổi đƣờng
huyết, động kinh (dấu hiệu cờ đỏ), suy hô hấp xuất hiện 4h sau khi sinh (dấu hiệu
cờ đỏ), trẻ đủ tháng cần thở máy (dấu hiệu cờ đỏ), có dấu hiệu của sốc (dấu hiệu cờ
đỏ). Khi có một dấu hiệu cờ đỏ hoặc từ hai yếu tố nguy cơ không phải dấu hiệu cờ
đỏ trở lên, nên bắt đầu điều trị kháng sinh; khi chỉ có một yếu tố nguy cơ hoặc một
Nghiên cứu của Craft AP cho thấy dự phòng vancomycin trong các trƣờng
hợp đặt catheter làm giảm tỷ lệ nhiễm trùng huyết, tuy nhiên tác giả cho rằng không
nên dự phòng thƣờng quy với vancomycin [27].
1.3. Tổng quan về kháng sinh ceftriaxon
Ceftriaxon là kháng sinh thuộc nhóm cephalosporin thế hệ 3, đƣợc tổng hợp
lần đầu năm 1982. Đây là kháng sinh đƣợc ứng dụng nhiều trong điều trị các bệnh
nhiễm khuẩn ở cả ngƣời lớn và trẻ em. Kể từ khi ra đời, đã có nhiều công trình
nghiên cứu về sử dụng ceftriaxon trên trẻ sơ sinh đƣợc thực hiện, làm sáng tỏ nhiều
vấn đề về trong việc sử dụng cũng nhƣ hình thành nên các khuyến cáo về việc sử
dụng ceftriaxon trên đối tƣợng đặc biệt này.
1.3.1. Dược động học
1.3.1.1. Hấp thu, phân bố
Ceftriaxon không hấp thu qua đƣờng tiêu hóa, do vậy đƣợc sử dụng qua đƣờng
tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp, sinh khả dụng sau khi tiêm bắp là 100% [5].
9
Sau tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch, thuốc phân bố rộng khắp các mô trong cơ
thể bao gồm túi mật, phổi, xƣơng, tim, mô tử cung, màng phổi, phúc mạc…, nồng
độ thuốc trong dịch não tủy cao hơn ở những bệnh nhân bị viêm [62]. Nghiên cứu
tiến cứu của Martin E (1984) khi so sánh diện tích dƣới đƣờng cong của dịch não
tủy so với nồng độ thuốc trong máu cho thấy ceftriaxon có khả năng xâm nhập vào
dịch não tủy của trẻ sơ sinh viêm màng não do vi khuẩn là 17%, trong khi đó ở trẻ
bị viêm màng não không do vi khuẩn là 4%, nồng độ ceftriaxon trong dịch não tủy
ở trẻ bị viêm màng não do vi khuẩn là 2,8mg/ml sau 24h, lớn hơn nhiều lần nồng độ
ức chế tối thiểu các vi khuẩn là nguyên nhân phổ biến gây viêm màng não [46].
Khả năng liên kết protein (chủ yếu liên kết với albumin) của ceftriaxon phụ
thuộc vào nồng độ thuốc trong máu. Ở ngƣời trƣởng thành, 93-96% lƣợng phân tử
thuốc gắn kết với protein huyết tƣơng ở nồng độ < 70µg/ml, 84-87% tại nồng độ
khuẩn có sự thay đổi cấu trúc màng tế bào để ngăn cản thấm kháng sinh; 4) hình
thành các bơm protein ngƣợc dòng [36]. Cơ chế phổ biến nhất của đề kháng
cephalosprin là sự phá hủy cấu trúc của kháng sinh thông qua việc thủy phân vòng
β-lactam [44].
1.3.3. Phổ tác dụng
Các vi khuẩn nhạy cảm với ceftriaxon bao gồm: Streptococcus (Nhóm
A,B,C,D), Staphylococcus aureus (nhạy cảm với methicilin), Streptococcus
pneumoniae, Streptococcus pyogenes, Streptococcus viridans, Klebsiella oxytoca,
Klebsiella pneumoniae, Haemophilus influenzae, Neisseria gonorrhoeae, N.
meningitidis, Enterobacter aerogenes, Enterobacter cloacae, E. coli , Actinomyces
[31], [36].
Vi khuẩn không nhạy cảm với ceftriaxon gồm có: L. monocytogenes, E.
coli/Klebs sp sinh ESBL, E. coli/Klebs sp sinh Klebsiella pneumoniae
carbapenemase (KPC), Staphylococcus aureus kháng methicillin [31].
11
Ceftriaxon có khả năng chống Pseudomonas aeruginosa kém hơn so với
aminoglycosid, aztreonam, imipenem, cefoperazon, ceftazidim, piperacilin [17].
Nghiên cứu của Phan Thị Xuân Tú tại khoa sơ sinh bệnh viện đa khoa Saint
Paul (2009) cho thấy Klebsiella pneumoniae, E. coli, Acinetobacter, Staphylococcus
aureus, Streptococcus pyogenes đều đã kháng ceftriaxon (tỷ lệ kháng 87,5-100%)
[10].
Một nghiên cứu khác thực hiện tại bệnh viện Nhi Trung Ƣơng với 62,2% là
bệnh nhân sơ sinh cho thấy P.aeruginosa, Acinetobacter spp. đã đề kháng với các
cephalosporin thế hệ 3 [9].
1.3.4. Chỉ định
Ceftriaxon đƣợc chỉ định trong các bệnh nhiễm trùng có căn nguyên vi khuẩn:
nhiễm khuẩn đƣờng hô hấp, viêm tai giữa cấp, nhiễm khuẩn da và mô mềm, nhiễm
Năm 2006, AFSSAPS (French Health Products Safety Organization) đã ban
hành một thông báo về tƣơng tác giữa ceftriaxon và sản phẩm có chứa calci, đề cập
tới một ca tử vong năm 2002. Năm 2007, một nghiên cứu của FDA đã báo cáo 9
trƣờng hợp tử vong do tƣơng tác giữa ceftriaxon và calci đƣờng tĩnh mạch [15]. Do
đó, ceftriaxon đƣợc khuyến cáo chống chỉ định trên trẻ sơ sinh cần hoặc đang dùng
một chế phẩm chứa calci đƣờng tĩnh mạch, bao gồm cả dinh dƣỡng tĩnh mạch. Hiện
nay chƣa có bằng chứng về tƣơng tác giữa ceftriaxon và calci đƣờng uống [39].
Ngoài chống chỉ định cho các trẻ sơ sinh có sử dụng calci đƣờng tĩnh mạch,
ceftriaxon còn đƣợc khuyến cáo không sử dụng trên đối tƣợng trẻ sơ sinh có một số
đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng đặc biệt.
Theo Dƣợc thƣ Quốc gia Việt Nam (2015), ceftriaxon chống chỉ định trên trẻ
sơ sinh có tăng bilirubin huyết, đặc biệt ở trẻ đẻ non [5].
Dƣợc thƣ Anh cho trẻ em (British National Formulary for Chidren – BNFC)
khuyến cáo ceftriaxon chống chỉ định trên trẻ sơ sinh có tuổi thai hiệu chỉnh dƣới
41 tuần; trẻ sơ sinh bị vàng da, tăng bilirubin, giảm albumin trong máu [52].
13
Thông tin về đặc tính sản phẩm Rocephin (ceftriaxon sodium) cho thấy
ceftriaxon chống chỉ định trên trẻ sơ sinh có tuổi thai hiệu chỉnh nhỏ hơn 41 tuần,
trẻ sơ sinh có tăng bilirubin máu [36].
Khi sử dụng ceftriaxon trên trẻ sơ sinh, phân tử thuốc có thể cạnh tranh đẩy
bilirubin ra khỏi liên kết bilirubin-albumin làm tăng nồng độ bilirubin tự do trong
máu [5], khi đó bilirubin tự do có thể ngấm vào tổ chức não, đặc biệt là nhân não
gây bệnh vàng da nhân não ở trẻ sơ sinh. Khoảng 10% bệnh nhân vàng da nhân não
tử vong và 70% bị tổn thƣơng vĩnh viễn, phần lớn trẻ sơ sinh vàng da nhân não có
mức bilirubin cao hơn 20mg/dl [37]. Hiện nay chƣa có một mức bilirubin đƣợc coi
là giới hạn an toàn ở trẻ sơ sinh để sử dụng ceftriaxon, tuy nhiên giới hạn nguy hiểm
của bilirubin trên trẻ sơ sinh là 15 mg/dl (256,5µmol/l) [2].
Theo Dƣợc thƣ Quốc gia Việt Nam (2015), ceftriaxon không đƣợc pha lẫn
hoặc dùng chung dây truyền, bơm tiêm mà không có tráng rửa cẩn thận khi dùng
chung với các thuốc tƣơng kỵ: dung dịch calci, aminoglycosid, amsacrin,
vancomycin, fluconazol [5].
1.3.7. Tác dụng không mong muốn
Các tác dụng không mong muốn có thể gặp là sốc phản vệ, đau tại vị trí tiêm,
phản ứng trên da (ngứa, nổi ban), giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, tiêu chảy, tăng men
gan, tạo bùn hoặc giả sỏi mật, tăng bilirubin máu, tƣơng tác với chế phẩm calci
đƣờng tĩnh mạch [5], [36]. Một số trƣờng hợp xảy ra tan huyết gây tử vong trên trẻ
em đã đƣợc mô tả [53].
Một nghiên cứu chỉ ra rằng ceftriaxon làm giảm nồng độ albumin dự trữ trong
huyết thanh của trẻ sơ sinh tới 39%, làm tăng nguy cơ bệnh não do bilirubin ở trẻ sơ
sinh có vàng da; trẻ sinh non bị bệnh có nồng độ albumin giảm đáng kể sau khi sinh
và thƣờng ít hơn 100µmol/l nên ảnh hƣởng của ceftriaxon lên nồng độ bilirubin sẽ
nghiêm trọng hơn [68]. Nghiên cứu trên trẻ sơ sinh sử dụng ceftriaxon ở mức liều
50mg/kg, truyền tĩnh mạch trong 30 phút, nồng độ albumin dự trữ (nồng độ
albumin có sẵn để liên kết với bilirubin tự do) giảm từ 91,9 ± 25,1µmol/l xuống còn
15
38,6 ± 10,1µmol/l (p = 0,0001), chỉ số bilirubin huyết tƣơng độc tính (PBTI) tăng từ
0,64 ± 0,40 trƣớc khi truyền lên 0,96 ± 0,44 sau khi truyền (p = 0,0001), hệ số dịch
chuyển (DF) cao nhất đo đƣợc là 2,8 ± 0,6 tại thời điểm kết thúc truyền, ghi nhận sự
cạnh tranh đáng kể của ceftriaxon với bilirubin trong liên kết với albumin [45]. Việc
giảm nồng độ albumin dự trữ, tăng PBTI làm tăng nguy cơ bệnh não do bilirubin
[22].
Ceftriaxon dùng liều cao và kéo dài có thể xảy ra tình trạng đọng muối calci ở
mật gây hiện tƣợng tạo bùn hoặc giả sỏi mật, thƣờng chỉ phát hiện đƣợc thông qua
hình ảnh siêu âm, khoảng 25% trẻ em đƣợc điều trị bằng ceftriaxon gặp tình trạng
định không lựa chọn bệnh án của nhóm này đƣa vào khảo sát. Tỷ lệ bệnh án của các
nhóm đƣợc sử dụng để tính số mẫu cần phải lấy cho mỗi nhóm trên cỡ mẫu nghiên
cứu là 200.
Chúng tôi lấy ngẫu nhiên phân tầng bệnh án của các đối tƣợng này để chọn ra
các bệnh án sử dụng ceftriaxon thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ
cho đến khi đủ 200 bệnh án. Thời điểm lấy mẫu cho phép nhóm nghiên cứu rà soát
các bệnh án ra viện từ tháng 3/2016 ngƣợc trở về trƣớc.