Sử dụng trò choi để đánh giá thường xuyên vào dạy học số tự nhiên trong môn toán ở tiểu học - Pdf 37


LỜ I CẢM ƠN
Trong thời gian qua, ngoài sự nỗ lực của bản thân, luận văn được hoàn
thành với sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của TS. Phùng Như Thụy.
Xin trân trọng gửi đến thầy giáo lòi biết ơn chân thành và sâu sắc
nhất.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thiện khóa luận một cách hoàn
chỉnh nhất, tuy nhiên luận văn này chắc chắn không ữánh khỏi những thiếu
sót càn góp ý, sửa chữa. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của
thầy cô và các b ạ n !
Hà Nội, ngày 30 thảng 11 năm 2015
Học viên


Nguyễn Thị Lan


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
thành quả nghiên cứu của riêng tôi duwois sự hướng dẫn và giúp đỡ của TS.
Phùng Như Thụy. Nội dung trong luận văn không trùng với bất cứ một công
trình nghiên cứu nào. Nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2015
Học viên

Nguyễn Thị Lan


M ỤC LỤC

MỞ ĐẦU............................................................................................................. 1

thường xuyên học sinh Tiểu học theo tinh thần đổi mới............................ 32
1.5. Thực trạng việc sử dụng các ừò chơi trong đánh giá thường xuyên khi
dạy học số tự nhiên ở tiểu học....................................................................... 34
1.5.1 Thực trạng dạy sổ tự nhiên trong môn toán ở tiểu học....................34
CHƯƠNG 2...................................................................................................... 46
THIẾT KẾ MỘT SỐ TRÒ CHƠI ĐÊ ĐÁNH GIÁ THƯỜNG XUYÊN VÀO
DẠY HỌC SỐ T ự NHIÊN TRONG MÔN TOÁN Ở TIỂU HỌC.................46
2.1 Nguyên tắc thiết kế trò chơi ừong môn Toán ở Tiểu học.......................46
2.1.1. Nguyên tắc vừa sức, dễ thực hiện.................................................... 46
2.1.2. Nguyên tẳc khai thác và thực hành..................................................46
2.1.3. Nguyên tẳc đảm bảo sự phù hợp mục đích trò chơi với nội dung và
mục tiêu của từng bài dạy.......................................................................... 47
2.2 Quy trình tổ chức trò chơi trong môn Toán ở Tiểu học..........................47
2.3 Một số lưu ý khi tổ chức trò chơi cho học sinh trong giờ học Toán.... 49
2.4. Thiết kế một số trò chơi để đánh giá thường xuyên vào dạy học số tự
nhiên trong môn Toán ở Tiểu học................................................................. 51
2.4.1. Trò chơi khởi động b à i.................................................................... 51
2.4.2. Trò chơi trong khi dạy..................................................................... 57
2.4.3. Trò chơi kết thúc giờ dạy................................................................. 65
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM.................................................... 71
3.1. Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm............................................ 71
3.1.1. Mục đích thực nghiệm...................................................................... 71
3.1.2. Nhiệm vụ thực nghiệm..................................................................... 71
3.2. Thời gian và cơ sở thử nghiệm.............................................................. 71
3.3. Nội dung thực nghiệm............................................................................ 71
3.4. Phương pháp tổ chức thử nghiệm.......................................................... 71


3.5. Tổ chức thử nghiệm............................................................................... 72
3.5.1. Chuẩn bị thử nghiệm........................................................................ 72

phương châm “Lẩy học sinh làm trung tâm

Thiết kế bài học là thiết kế một

chuỗi các hoạt động, trong đó học sinh tích cực tham gia giải quyết các tình
huống có vấn đề bằng mối quan hệ: Giữa thầy với trò và trò với ữò qua các
hình thức dạy học.


2

Cấp tiểu học là cấp học rất quan trọng trong việc đặt nền móng cho việc
hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của học sinh. Trên cơ sở cung
cấp những tri thức ban đầu về xã hội và tự nhiên, phát triển các năng lực tư
duy, trang bị các phương pháp và kỹ năng ban đầu về hoạt động nhận thức và
hoạt động thực tiễn, bồi dưỡng và phát huy các tình cảm, thói quen và đức
tính tốt đẹp của người Việt Nam.
Nếu việc giáo dục của nhà trường đem lại cho học sinh một ngoại lực
có giá trị thì việc phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh sẽ khơi dậy
ữong các em một nội lực rất cần thiết. Chủ động, sáng tạo là những thuộc tính
tâm lý rất quý báu của trẻ, khai thác được các thuộc tính tâm lý đó sẽ tạo điều
kiện thuận lợi để nội lực cộng hưởng ngoại lực. Từ đó chất lượng dạy học sẽ
được nâng cao.Thế nhưng việc tổ chức các hình thức dạy học trên chưa tạo
cho các em một cách học “Nhẹ nhàng - tự nhiên - hiệu quả Việc tổ chức trò
chơi học tập ở một số môn học đối với học sinh tiểu học là một trong những
yêu cầu cần thiết nhằm khắc sâu kiến thức cho các em, góp phần nâng cao
chất lượng dạy học. Đối với lứa tuổi Tiểu học, các em có tính hiếu động, ít
chịu ngồi yên. Nếu các em được tham gia vào các trò chơi bổ ích và lý thú thì
đó là điều kỳ diệu đối vói các em.
Hiện nay, việc đánh giá học sinh tiểu học chuyển từ việc đánh giá bằng

người học nhớ lâu và biết cách vận dụng kiến thức, kĩ năng vào các tình
huống giải quyết các vấn đề cụ thể; Người học muốn thể hiện năng lực của
mình trong một môi trường học tập hợp tác (Có nhiều bạn học cùng tham gia
một hoạt động). Từ đó, giáo viên sẽ dễ dàng đánh giá thường xuyên học sinh
theo thông tư 30/2014/TT-BGDĐT trong quá trình học toán.
Đã có không ít những công trình nghiên cứu về việc tổ chức các trò
chơi toán học cho học sinh, nhưng nghiên cứu thiết kế các trò chơi để đánh
giá thường xuyên vào dạy học số tự nhiên trong môn Toán ở Tiểu học thì


4

chưa có. Cùng với những lý do ở trên, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Sử
dụng trò choi để đánh giá thường xuyên vào dạy học số tự nhiên trong
môn toán ở Tiểu học”.
2. Mục đích nghiền cứu
Sử dụng ừò chơi học tập như một công cụ ữợ giúp thực hiện công tác
đánh giá thường xuyên trong dạy học môn toán ở tiểu học.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về việc sử dụng trò chơi học tập
trong đánh giá thường xuyên vào môn toán trường tiểu học.
3.2 Xây dựng nguyên tắc, quy trình thiết kế trò chơi học tập và sử dụng
một số trò chơi học tập để đánh giá thường xuyên vào dạy học số tự nhiên
trong môn Toán ở tiểu học.
3.3 Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm tính hiệu quả,
khả năng triển khai các trò chơi học tập đã đề xuất.
4. Đổi tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: sử dụng các trò chơi toán học khi dạy học
số tự nhiên
4.2. Phạm vi nghiên cứu: học sinh tại trường tiểu học Nguyễn Thái Học

nâng cao hiệu quả dạy học ưong môn toán ở tiểu học.


6

NÔI DUNG
CHƯƠNG 1: C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TIỄN

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, một số nhà khoa học giáo dục Nga
như: P.A.Bexonova, OP.Seina, V.I.Đalia, E.A.Pokrovxki ... đã đánh giá cao
vai trò giáo dục, đặc biệt và tính hấp dẫn của trò chơi dân gian Nga đối vói ưẻ
mẫu giáo. E.A.Pokrovxki ữong lời đề tựa cho tuyển tập “Trò chơi của ữẻ em
Nga” đã chỉ ra nguồn gốc, giá trị đặc biệt và tính hấp dẫn lạ thường của trò
chơi dân gian Nga. Bên cạnh kho tàng ừò chơi học tập trong dân gian còn có
một số hệ thống trò chơi dạy học khác do các nhà giáo dục có tên tuổi xây
dựng. Đại diện cho khuynh hướng sử dụng ừò chơi dạy học làm phương tiện
phát triển toàn diện cho trẻ phải kể đến nhà sư phạm nổi tiếng người tiệp khắc
I.A.Komenxki (1592-1670). Ông coi ừò chơi là hình thức hoạt động cần thiết,
phù hợp với bản chất và khuynh hướng của trẻ. Trò chơi dạy học là một dạng
hoạt động trí tuệ nghiêm túc, là nơi mọi khả năng của trẻ em được phát triển,
mở rộng phong phú thêm vốn hiểu biết. Với quan điểm ừò chơi là niềm vui
sướng của tuổi thơ, là phương tiện phát triển toàn diện cho trẻ I.A.Komenxki
đã khuyên người lớn phải chú ý đến ừò chơi dạy học cho ữẻ và phải hướng
dẫn, chỉ đạo đúng đắn cho trẻ chơi. Trong nền giáo dục cổ điển, ý tưởng sử
dụng ừò chơi với mục đích dạy học được thể hiện đầy đủ trong hệ thống giáo
dục của nhà sư phạm người Đức Ph.Phroebel (1782-1852). Ông là người đã
khởi xướng và đề xuất ý tưởng kết hợp dạy học với trò chơi cho trẻ. Quan
điểm của ông về trò chơi phản ánh cơ sở lý luận sư phạm duy tâm thần bí.

trong lúc chơi. Chơi với trẻ vừa là học, vừa là lao động, vừa là hình thức giáo
dục nghiêm túc” [25]. Trong các giáo trình Giáo dục học, Giáo dục học Tiểu
học cũng luôn nhấn mạnh việc tổ chức trò chơi học tập chiếm vị trí quan


8

ừọng trong phương pháp dạy học “trò chơi là một hình thức tổ chức dạy học
nhẹ nhàng, hấp dẫn, lôi cuốn học sinh vào học tập tích cực, vừa chơi, vừa học,
và học có kết quả” [4].
Bên cạnh đó, tính tích cực cũng được các nhà khoa học như
B.P.Exipov, A.M.Machiuskin(Liênxô); OKon(Balan), Skinner, Bruner(Mỹ),
Xavier, Roegiers (Pháp)... nghiên cứu theo các khía cạnh khác nhau.
Thứ nhất, nghiên cứu và xem xét tính tích cực nhận thức của người học
trong mối quan hệ giữa nhận thức và tình cảm, ý chí (A.I.Serbacov,
I.F.Kharlamov, R.A.Nhidamov, V.Okon ...) hướng nghiên cứu này đã bổ ữợ
rất nhiều cho các nhà giáo dục trong việc tìm kiếm những con đường và điều
kiện cần thiết nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của người học.
Thứ hai, nghiên cứu về bản chất và cấu trúc của tính tích cực nhận thức
của người lớn và trẻ em, trong đó đặc biệt lưu ý tới vai trò chủ động và chủ
thể trong quá trình nhận thức (B.P.Êxipop, LP.Anstova, Xavier Roegiers,
Jean-Marc Dénommé, Madedine Roy...) các tác giả này coi tính tích cực nhận
thức là thái độ của chủ thể nhận thức đối với đối tượng nhận thức thông qua
việc huy động các chức năng tâm lý ở mức độ cao nhằm giải quyết những vấn
đề nhận thức.
1.1.2 Ở trong nước
Ở Việt Nam, có nhiều tác giả nghiên cứu về việc thiết kế và sử dụng ữò
chơi dạy nghiên cứu biên soạn một số trò chơi và trò chơi học tập [15], [18]...
Những hệ thống ừò chơi và ừò chơi học tập được các tác giả đề cập đến chủ
yếu nhằm củng cố kiến thức phục vụ một số môn học như: Hình thành biểu

chẳng hạn:
Trương Thị Xuân Huệ nghiên cứu việc xây dựng và sử dụng trò chơi
nhằm hình thành biểu tượng toán ban đầu cho trẻ 5-6 tuổi.
Tác giả Ngô Đức Lanh đã cho xuất bản cuốn “Giúp em vui học toán 2”
[17]. Cuốn sách đã đưa ra những câu đố và rất nhiều ừò choi toán học giúp
các em củng cố nội dung bài học, rèn trí thông minh, khả năng sáng tạo mà
vẫn đảm bảo “Học mà vui, vui mà học”.


10

Tuy nhiên, các tác giả chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu chủ yếu là sử
dụng ừò chơi ừong dạy học nhằm nâng cao tính tích cực của học sinh, giúp
giờ học trở nên sinh động hấp dẫn. Tóm lại, điểm qua các kết quả nghiên cứu
trên cho thấy từ trước đến nay tuy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về
trò chơi dạy học song chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào việc
xây dựng và sử dụng trò chơi học tập nhằm mục đích đánh giá, nhận xét
thường xuyên cho học sinh, cần nhấn mạnh rằng những thành tựu nghiên cứu
đã điểm dẫn ở trên chứa đựng những nội dung quan trọng, trực tiếp góp phần
làm cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu đề tài.
1.2 Đánh giá
1.2.1 Khái niệm về đánh giá
- Theo Jean-Marie De Ketele (1989), đánh giá có nghĩa là “thu thập
một tập họfp thông tin đủ thích hợp, có giá trị và đáng tin cậy và xem xét mức
độ phù hợp giữa tập hợp thông tin này và một tập họp tiêu chí phù hợp với
các mục tiêu định ra ban đầu hay đã được điều chỉnh trong quá trình thu thập
thông tin nhằm đưa ra một quyết định”.
- Theo Nitko & Brookhart (2007) đánh giá trong giáo dục là một khái
niệm rộng, nó được định nghĩa như là một quá trình thu thập thông tin và sử
dụng các thông tin này để ra quyết định về học sinh, về chương trình, về nhà

học sinh tiểu học.
❖ Mục đích đánh giá
a.

Giúp giáo viên điều chinh, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức

hoạt động dạy học, hoạt động trải nghiệm ngay trong quá trình và kết thúc
mỗi giai đoạn dạy học, giáo dục; kịp thòi phát hiện những cố gắng, tiến bộ
của học sinh để động viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn chưa thể tự
vượt qua của học sinh để hướng dẫn, giúp đỡ; đưa ra nhận định đúng những
ưu điểm nổi bật và những hạn chế của mỗi học sinh để có giải pháp kịp thòi
nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của học
sinh; góp phàn thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học.


12

b. Giúp học sinh có khả năng tự đánh giá, tham gia đánh giá; tự học, tự
điều chỉnh cách học; giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để
tiến bộ.
c. Giúp cha mẹ học sinh hoặc người giám hộ (sau đây gọi chung là cha
mẹ học sinh) tham gia đánh giá quá trình và kết quả học tập, rèn luyện, quá
trình hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của con em mình; tích cực
họp tác với nhà trường trong các hoạt động giáo dục học sinh.
d. Giúp cán bộ quản lí giáo dục các cấp kịp thời chỉ đạo các hoạt động
giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá nhằm đạt hiệu
quả giáo dục.
❖ Nguyên tắc đánh giá
a. Đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh; coi trọng việc động viên, khuyến
khích tính tích cực và vượt khó trong học tập, rèn luyện của học sinh; giúp

thức, kĩ năng ở nhà trường, gia đình và cộng đồng.
b. Trong đánh giá thường xuyên, giáo viên ghi những nhận xét đáng chú
ý nhất vào sổ theo dõi chất lượng giáo dục, những kết quả học sinh đã đạt được
hoặc chưa đạt được; biện pháp cụ thể giúp học sinh vượt qua khó khăn để hoàn
thành nhiệm vụ; các biểu hiện cụ thể về sự hình thành và phát triển năng lực,
phẩm chất của học sinh; những điều cần đặc biệt lưu ý để giúp cho quá trình
theo dõi, giáo dục đối với cá nhân, nhóm học sinh trong học tập, rèn luyện.
I.2.2.I.

Đánh giá thường xuyên hoạt động học tập, sự tiến bộ và kết

quả học tập theo chuẩn kiến thức, kĩ năng từng môn học, hoạt động giáo
dục khác theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học
a. Tham gia đánh giá thường xuyên gồm: giáo viên, học sinh (tự đánh
giá và nhận xét, góp ý bạn qua hoạt động của nhóm, lớp); khuyến khích sự
tham gia đánh giá của cha mẹ học sinh.
b. Giáo viên đánh giá:


14

Trong quá trình dạy học, căn cứ vào đặc điểm và mục tiêu của bài học,
của mỗi hoạt động mà học sinh phải thực hiện trong bài học, giáo viên tiến
hành một số việc như sau:
- Quan sát, theo dõi, ừao đổi, kiểm tra quá trình và từng kết quả thực
hiện nhiệm vụ của học sinh, nhóm học sinh theo tiến trình dạy học;
- Nhận xét bằng lời nói trực tiếp với học sinh hoặc viết nhận xét vào
phiếu, vở của học sinh về những kết quả đã làm được hoặc chưa làm được;
mức độ hiểu biết và năng lực vận dụng kiến thức; mức độ thành thạo các thao
tác, kĩ năng cần thiết, phù hợp với yêu cầu của bài học, hoạt động của học

sinh tham gia các hoạt động; ừao đổi vói giáo viên các nhận xét, đánh giá học
sinh bằng các hình thức phù hợp, thuận tiện nhất như lòi nói, viết thư.
I.2.2.2.

Đánh giá thường xuyên sự hình thành và phát triển năng

lực của học sinh
Thứ nhất: Các năng lực của học sinh được hình thành và phát triển
trong quá trình học tập, rèn luyện, hoạt động trải nghiệm cuộc sống trong và
ngoài nhà trường. Giáo viên đánh giá mức độ hình thành và phát triển một số
năng lực của học sinh thông qua các biểu hiện hoặc hành vi như sau:
a) Tự phục vụ, tự quản: thực hiện được một số việc phục vụ cho sinh
hoạt của bản thân như vệ sinh thân thể, ăn, mặc; một số việc phục vụ cho học
tập như chuẩn bị đồ dùng học tập ở lớp, ở nhà; các việc theo yêu cầu của giáo
viên, làm việc cá nhân, làm việc theo sự phân công của nhóm, lớp; bố trí thòi
gian học tập, sinh hoạt ở nhà; chấp hành nội quy lớp học; cố gắng tự hoàn
thành công việc;
b) Giao tiếp, hợp tác: mạnh dạn khi giao tiếp; trình bày rõ ràng, ngắn
gọn; nói đúng nội dung cần trao đổi; ngôn ngữ phù hợp với hoàn cảnh và đối
tượng; ứng xử thân thiện, chia sẻ vói mọi người; lắng nghe người khác, biết
tranh thủ sự đồng thuận;
c) Tự học và giải quyết vấn đề: khả năng tự thực hiện nhiệm yụ học cá
nhân trên lớp, làm việc trong nhóm, lớp; khả năng tự học có sự giúp đỡ hoặc


16

không cần giúp đõ; tự thực hiện đúng nhiệm vụ học tập; chia sẻ kết quả học
tập vói bạn, với cả nhóm; tự đánh giá kết quả học tập và báo cáo kết quả trong
nhóm hoặc với giáo viên; tìm kiếm sự trợ giúp kịp thời của bạn, giáo viên


17

b) Tự tin, tự trọng, tự chịu trách nhiệm: mạnh dạn khi thực hiện nhiệm
vụ học tập, trình bày ý kiến cá nhân; nhận làm việc vừa sức mình; tự chịu
trách nhiệm về các việc làm, không đổ lỗi cho người khác khi mình làm chưa
đúng; sẵn sàng nhận lỗi khi làm sai.
c) Trung thực, kỉ luật, đoàn kết: nói thật, nói đúng về sự việc; không
nói dối, không nói sai về người khác; tôn trọng lời hứa, giữ lòi hứa; thực hiện
nghiêm túc quy định về học tập; không lấy những gì không phải của mình;
biết bảo vệ của công; giúp đỡ, tôn trọng mọi người; quý ttọng người lao động;
nhường nhịn bạn.
d) Yêu gia đình, bạn và những người khác; yêu trường, lớp, quê hương,
đất nước: quan tâm chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh em; kính trọng người lớn,
biết ơn thầy giáo, cô giáo; yêu thương, giúp đỡ bạn; tích cực tham gia hoạt
động tập thể, hoạt động xây dựng trường, lớp; bảo vệ của công, giữ gìn và bảo
vệ môi trường; tự hào về người thân trong gia đình, thầy giáo, cô giáo, nhà
trường và quê hương; thích tìm hiểu về các địa danh, nhân vật nổitiếng ở địa
phương.
Thứ hai: Hàng ngày, hàng tuần, giáo viên quan sát các biểu hiện trong
các hoạt động của học sinh để nhận xét sự hình thành và phát triển phẩm chất;
từ đó động viên, khích lệ, giúp học sinh khắc phục khó khăn, phát huy ưu
điểm và các phẩm chất riêng, điều chỉnh hoạt động, ứng xử kịp thời để tiến
bộ. Hàng tháng, giáo viên thông qua quá trình quan sát, ý kiến trao đổi vói
cha mẹ học sinh và những người khác (nếu có) để nhận xét học sinh, ghi vào
sổ theo dõi chất lượng giáo dục.
1.3 Trò choi học tập
1.3.1 Trò chơi học tập
K*Khái niệm về trò choi



19

Theo cách hiểu chung của mọi người thì ưò chơi là một hoạt động
thường dùng để giải trí và đôi khi cũng được sử dụng như một công cụ giáo
dục. Trò chơi còn là một hình thức dưỡng sinh của người lớn tuổi, giúp họ thư
giãn và vui vẻ...
Trong giáo dục thì ưò chơi là một phương pháp giáo dục thực hành và
hiệu nghiệm nhất đối với việc hình thành nhân cách, trí dục của trẻ.
Trò chơi của trẻ em rất đa dạng và phong phú về nội dung, tính chất
cũng như cách thức tổ chức chơi. Mỗi loại ừò chơi đều mang tính chất riêng
biệt của mình. Nhiều công trình khoa học ừong nước và ngoài nước đều
nghiên cứu và cho thấy hoạt động trò chơi ở trẻ em thường mang một số đặc
điểm chung sau:
- Động cơ của ừò chơi không nằm ở kết quả mà nằm ở ngay ừong bản
thân hành động chơi. Trong trò chơi, trẻ em không bị phụ thuộc vào nhu cầu
thực tiễn, trẻ chơi xuất phát từ nhu cầu và hứng thú trực tiếp của bản thân. "Trẻ
chơi chỉ cốt cho vui, có vui thì mới chơi và chơi là phải vui" [25]
- Trò chơi là một hoạt động tự nguyện, một hoạt động mang tính tự do..
Trẻ chơi xuất phát từ nguyện vọng và hứng thú cá nhân không có sự ép buộc
nào cả. Nếu thích ừẻ sẽ chơi và sẽ thôi không chơi khi đã chán. Tính tự do đó
giúp trẻ có được sự thoải mái, vui vẻ. Đó chính là điều kiện để trẻ hăng say
tìm tòi, khám phá và làm nảy sinh nhiều sáng kiến.
- Trong trò chơi luôn mang lại cảm xúc chân thực, mạnh mẽ, đa dạng.
Trẻ tham gia vào cuộc chơi với tất cả sự say mê và lòng nhiệt tình vốn có của
nó. Nhờ có sự tạo ra nhiều hoàn cảnh chơi nên cảm xúc của trẻ được biểu hiện
với nhiều sắc thái. Trò chơi thâm nhập vào thế giới tình cảm của trẻ một cách
dễ dàng, nó tác động mạnh mẽ đến tình cảm của các em làm cho đứa trẻ bị
hấp dẫn bởi trò chơi, dường như nó lẫn lộn giữa chơi với thực, khiến trẻ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status