A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một xã hội có thể coi là phát triển khi và chỉ khi nó có một cơ sở hạ tầng và
kiến trúc thượng tầng phát triển phù hợp với nhau. Không thể nào có được một đất
nước mà cơ sở hạ tầng phát triển song kiến trúc thượng tầng ngược lại không có sự
phát triển thích ứng với cơ sở hạ tầng và ngược lại không thể có được một kiến trúc
thượng tầng “hoàn hảo” mà lại đứng trên một cơ sở hạ tầng lạc hậu thấp kém. Vì
vậy muốn cải tổ, cải cách đất nước theo bất kỳ hướng đi nào đều phải bắt đầu từ
điểm cơ bản này. Sự nghiệp đổi mới của đất nước ta trong bối cảnh chung của thế
giới hiện nay là hết sức phức tạp, việc bám sát tư tưởng Mác- Lênin đặc biệt việc
ứng dụng quy luật phát triển và mối quan hệ qua lại giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng, mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị là cần thiết. Trong thực tế hiện
nay Đảng ta đã xác đinh phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt
đã nói lên tầm quan trọng của hai yếu tố này. Chính vì vậy em đã chọn đề tài “về
mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị”
2. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Tập trung phân tích mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, chính trị ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay
3. Tình hình nghiên cứu có liên quan
Trên thực tế vấn đề mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, chính trị đã được
đề cập tới trong các văn kiện của Đảng, bài viết của các chuyên gia, các nhà khoa
học, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Trên nhiều phương diện và mục tiêu,
mục đích nghiên cứu khác nhau các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đã xem xét nhận
định, đánh giá và qua đó đã đưa ra các giải pháp cụ thể.
Trên cơ sở tiếp thu những nội dung trên em đã mạnh dạn nghiên cứu mối
quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị
1
4.Nhiệm vụ, mục đích:
- Phân tích rõ mối quan hệ giữa đổi mới phát triển kinh tế, đổi mới chính trị.
phương thức sản xuất nhất định, bao gồm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
tương ứng. Lực lượng sản xuất trong kinh tế thị trường dựa trên nền tảng cơ sở kỹ
thuật nhất định do đòi hỏi của cạnh tranh. Những thời kỳ phồn vinh hay suy thoái
kinh tế đều có chung nguồn gốc từ mối quan hệ giữa yêu cầu của lực lượng sản
xuất với quan hệ sản xuất và thể chế quản lý. Đó là mối quan hệ giữa khách quan
(kinh tế) và chủ quan (chính trị) thể hiện trong suốt tiến trình đổi mới vừa qua.
Đường lối, chính sách phải phản ánh được nhu cầu và quy luật kinh tế. Chỉ
trong điều kiện đó, chính trị mới lãnh đạo, quản lý kinh tế có hiệu quả, mới giữ
được vai trò chính trị. Thực tiễn những thời kỳ sau này đã xác nhận tính đúng đắn
của nguyên lý ấy biểu hiện ở những thất bại của các đảng cầm quyền rơi vào chủ
quan duy ý chí trong lãnh đạo và quản lý kinh tế - xã hội.
1.2.2 Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị còn là mối quan hệ giữa xã hội
với chính trị
Sự phát triển phân công lao động xã hội dần dần làm thay đổi cơ cấu xã hội
dân cư. Xã hội Việt Nam sau hơn 20 năm chuyển sang kinh tế thị trường đã khác
3
xã hội trước đổi mới về phân tầng xã hội và cơ cấu xã hội dân cư. Sự biến đổi này
sẽ dẫn đến những thay đổi về yêu cầu việc làm và hưởng thụ, về nhân sinh quan,
thế giới quan của xã hội, trước hết là thế hệ trẻ.
Sự phát triển kinh tế sẽ dần dần làm thay đổi nhu cầu của dân cư về cơ cấu và
chất lượng sản phẩm. Do đó nó làm thay đổi mức sống và lối sống của dân cư, sự
phát triển xã hội và cá nhân. Như vậy, sự phát triển kinh tế thị trường nảy sinh
những đòi hỏi mới về mặt xã hội mà chính trị phải giải quyết. Do phân công lao
động phát triển, nên xã hội dần dần được tổ chức thành các hội nghề nghiệp, đại
biểu cho lợi ích và nguyện vọng của hội viên. Đó là xã hội dân sự, đóng góp ngày
càng tăng cho phát triển kinh tế và ổn định xã hội... Ở các nước phát triển kinh tế
thị trường, mối quan hệ giữa chính trị và xã hội thể hiện ở mối quan hệ giữa nhà
nước pháp quyền và xã hội dân sự. Đó là một trong ba trụ cột của nền dân chủ.
đề điều kiện lẫn nhau trong đó kinh tế có ảnh hưởng quyết định tới chính trị.
1.2.1 Mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị
1.2.1.1Vai trò quyết định của nền kinh tế với chính trị được biểu hiện:
Trong lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh rõ mỗi hình thái kinh tế
sẽ quyết định hình thành nên một thể chế chính trị tường ứng với nó: Cụ thể với 5
hình thái kinh tế khác nhau đã tạo ra 5 thể chế chính trị khác nhau từ cộng sản
nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, Chủ nghĩa cộng sản
mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội.
Khi nền kinh tế thay đổi thì sớm hay muộn chính trị cũng bị thay đổi theo
thông qua cuộc cách mạng xã hội – đó là sự mâu thuẫn với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất. Khi lực lượng phát triển đến một chừng
mực nhất định sẽ kéo theo quan hệ sản xuất phải phát triển và thay đổi theo để phù
hợp với sự thay đổi của lực lượng sản xuất.
Trong xã hội có giai cấp nếu giai cấp nào giữ được vị trí về kinh tế thì đồng
thời cũng giữ địa vị thống trị về chính trị. Nguyên nhân sâu sa dẫn tới các mâu
thuẫn trong xã hội đều phát sinh từ các mâu thuẫn về lợi ích kinh tế
5
1.2.1.2 Sự tác động trở lại của chính trị đối với kinh tế
Trong xã hội có giai cấp thì chính trị là yếu tố tác động mạnh nhất tới nền
kinh tế. Vì chính trị là tiền đề cho kinh tế vận động và phát triển, chính trị có thể
dự đoán kinh tế, vạch ra phương hướng phát triển kinh tế và điều chính cơ cấu các
thành phần kinh tế thông qua việc ban hành các chủ trương, đường lối, Nghị quyết
để phát triển kinh tế. Sự tác động của chính trị đối với kinh tế diễn ra theo hai
chiều. Nếu chính trị mà tác động phù hợp với các qui luật, các hoạt động khách
quan của kinh tế thì nó sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế. Ngược lại
nếu chính trị đi ngược lại những hoạt động, qui luật phát triển khách quan của kinh
tế thì nó sẽ là rào cản, kìm hãm sự phát triển của kinh tế.
Do nhận thức kịp thời những vấn đề lý luận và thực tiễn rất quan trọng nêu
trên, Đảng, Nhà nước ta đã chủ động và tích cực xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa phù hợp với các quy luật khách
quan, vừa phù hợp với các đặc điểm, điều kiện cụ thể của đất nước và chế độ xã hội
ở Việt Nam. Sự phù hợp của thể chế kinh tế thị trường với chế độ xã hội, trong đó
quan trọng nhất là thể chế chính trị và hệ thống chính trị, là biểu hiện nổi bật, là
thực chất của mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta.
Thông qua sự phù hợp này, những tất yếu kinh tế và những đòi hỏi chính trị khách
quan đã đồng thời được đảm bảo, gắn kết với nhau và tạo tiền đề cho nhau trong cả
thể chế kinh tế thị trường và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Trong xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, sự gắn kết nêu trên được thể hiện ngay trong mục đích của nền kinh tế, chế
độ sở hữu, phương thức vận hành, chế độ phân phối và trong phương châm kết hợp
tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Mục đích phát triển
kinh tế thị trường ở nước ta không phải thuần tuý là làm gia tăng giá trị, lợi nhuận
kinh tế; mà là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là
một nền kinh tế đa hình thức sở hữu, đa thành phần kinh tế, trong đó chế độ công
hữu về các tư liệu sản xuất được duy trì và kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo,
7
kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể là nền tảng của nền kinh tế cả nước. Phương
thức vận hành nền kinh tế là vừa theo cơ chế thị trường, vừa phát huy cao độ vai trò
điều tiết và chức năng quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân. Chế độ phân phối kết hợp phân phối theo quy mô
đóng góp và hiệu quả sử dụng các nguồn lực với các chính sách tái phân phối thu
nhập, đảm bảo phúc lợi xã hội và an sinh xã hội do nhà nước chủ trì triển khai.
Trong xây dựng, đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta, sự gắn kết nêu
trên được thể hiện trước hết qua bước chuyển từ hệ thống chuyên chính vô sản sang
hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, trong đó nổi bật là bước chuyển từ nhà nước
kh ít. Tình trạng thờ ơ, bàng quan về những diễn phức tạp của tình hình chính
trịtrong và ngoài nước đối với lứa trẻ ngày càng nhiều.
9
CHƯƠNG II NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP
NHẰM VẬN DỤNG TỐT MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VỚI CHÍNH TRỊ
2.1 NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG VẬN DỤNG MỐI
QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VỚI CHÍNH TRỊ
Trong suốt chiều dài lịch sử Đảng ta cũng đã nhận thức được mối quan
hệ biện chứng giữa kinh tế với chính trị. Nhưng được thể hiện rõ từ năm 1975
đến nay:
2.1.1 Giai đoạn 1975 – 1986
Đây là thời kỳ chuyển từ mối quan hệ giữa chính trị với quân sự sang quan
hệ giữa chính trị với kinh tế. Đảng và Nhà nước đã bỏ nhiều công sức vào việc tìm
tòi một chiến lược kinh tế làm cơ sở cho việc thực hiện mục tiêu đi lên chủ nghĩa
xã hội. Sự quan tâm đó là đúng đắn. Nhưng lựa chọn mô hình kinh tế nào để thực
hiện mục tiêu đó thì gặp nhiều khó khăn. Mô hình kinh tế ở các nước xã hội chủ
nghĩa đã rơi vào trì trệ, suy thoái dần, nhiều biến động chính trị phát sinh từ kinh tế,
thậm chí rối loạn chính trị như ở Trung Quốc vào cuối thập kỷ 60, đầu thập kỷ 70.
Cuối cùng thì Đảng lựa chọn chiến lược công hữu hóa, nhà nước hóa toàn bộ lĩnh
vực kinh tế thông qua cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng mô hình kinh tế 500
huyện, bỏ qua thời kỳ khôi phục kinh tế sau chiến tranh lâu dài. Kết cục là kinh tế
trì trệ và suy thoái, đời sống nhân dân nghèo nàn trong cơ chế bao cấp tràn lan,
không được bảo đảm về nhu cầu y tế và giáo dục.
Nguyên nhân thất bại trong thực hiện mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị
thời kỳ này được Đại hội VI của Đảng chỉ ra một cách tổng quát là bệnh chủ quan
duy ý chí. Bài học kinh nghiệm này của Việt Nam (cũng như của các nước khác)
GIỮA KINH TẾ VỚI CHÍNH TRỊ
Tiếp tục giữ vững sự ổn định về chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật thông
qua việc tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam nâng cao hiệu quả,
hiệu lực quản lý của Nhà nước phát huy tối đa quyền làm chủ của nhân dân. Thúc đẩy
hình thành tổ chức và thể chế Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Phát
11
huy vai trò của các tổ chức quần chúng, các hội trong thực hiện chiến lược phát
triển, nhằm thực hiện mục tiêu "nhân dân làm chủ" của Đảng đã đề ra.
Cần triệt để xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, từng bước hoàn thiện cơ chế
kinh tế thị trường có sự định hướng, quản lý của Nhà nước. Nhà nước thực hiện
quản lý và định hướng về sự phát triển kinh tế, có hệ thống chính sách đồng bộ,
nhất quán nhằm tạo môi trường ổn định và thuận lợi, khắc phục những bất cập, khó
khăn, tiêu cực do cơ chế thị trường tạo ra qua đó sẽ tạo điều kiện tốt cho các hoạt
động kinh tế nói chung v việc thu hút các nhà sản xuất kinh doanh trong và ngoài
nước yên tâm đầu tư nói riêng.
Cấn tham khảo các bộ luật quốc tế hiện có nhằm nắm lấy cái chung kết hợp
với với cái riêng về thực trạng xã hội, tập quán của ta để xây dựng nên bộ luật kinh
tế hoàn chỉnh; ban hành các chính sách, qui định, luật định về bảo vệ sở hữu tư
nhân, khuyến khích các doanh nghiệp, hộ kinh tế tư nhân đầu tư vào sản xuất kinh
tế. Đồng thời tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động không
đem lại hiệu quả hoặc hiệu quả không cao.
.
Phải có các chính sách phát triển kinh tế đồng bộ nhưng chú ý tới đặc thù giữa
các vùng miền, giữa đồng bằng với miền núi, giữa thành thị với nông thôn nhằm
khai thác triệt để lợi thế và hạn chế những khó khăn về điều kiện tự nhiên, xã hội.
Qua đó, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền, giữa thành thị với nông thôn.
triển sẽ đảm bảo chính trị ổn định và chính trị ổn định sẽ tác động tương ứng trở lại
kinh tế. Nhận thức đúng bản chất, đồng thời giải quyết tốt mối quan hệ này tạo cơ
sở thế giới quan và phương pháp luận cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực
tiễn thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Trong thời gian ngắn, bài tiểu luận này
không thể tránh khỏi những khiếm khuyết. Em rất mong được sự đóng góp ý kiến
và bổ sung từ phía các thầy cô, cùng toàn thể các bạn học viên đóng góp, bổ sung
để nội dung bài thêm sâu sắc và phong phú.
.
14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. T.S. Trần Ngọc Trâm (2011), quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam
2. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(bổ sung, phát triển năm 2011).
3. Một số bài viết có liên quan trên mạng điện tử.
15