skkn sử dụng tài liệu ngữ văn trong dạy học lịch sử - Pdf 37

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1. Tên sáng kiến: Sử dụng tài liệu Ngữ văn trong dạy học Lịch sử.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn lịch sử trường THCS Ninh Thành.
3. Tác giả :
- Họ và tên : Đào Thị Mai Phương - N÷
- Ngày tháng năm sinh: 01/8/1978.
- Trình độ chuyên môn : CĐ Văn – sử, ĐH Văn
- Chức vụ - Đơn vị công tác: Giáo viên trường THCS Ninh Thành - Tổ
phó tổ Lao động xã hội.
- Điện thoại: 098 3624 356.
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường THCS Ninh Thành, xã Ninh
Thành, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
- Điện thoại: 03203760668.
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường THCS Ninh Thành.
6. Các điều kiện áp dụng sáng kiến: Đối tượng học sinh.
7. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2013-2014.
Họ tên tác giả

Xác nhận của đơn vị áp dụng
sáng kiến

§ào Thị Mai Phương

1


TÓM TẮT SÁNG KIẾN
Chúng ta đều biết, các môn học trong nhà trường phổ thông là một hệ
thống hoàn chỉnh nhằm trang bị cho học sinh kiến thức thuộc tất cả các môn, các
lĩnh vực ở mức độ, tính chất “phổ thông”, giúp các em có một hành trang cơ bản

Để đề tài: “Sử dụng tài liệu Ngữ văn trong dạy học lịch sử ở trường
THCS” đem lại hiệu quả cao trước hết người giáo viên phải hiểu được quan
niệm về sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, thấy
được vai trò của việc đưa tài liệu văn học vào dạy học lịch sử, mặt khác giáo
viên phải nắm được các tài liệu văn học được sử dụng trong quá trình dạy học
môn lịch sử đặc biệt là cách thực hiện phương pháp sử dụng tài liệu văn học
trong dạy học lịch sử. Việc sử dụng kiến thức Ngữ văn vào dạy học môn Lịch sử
có tác dụng rất lớn, đỡ mất thời gian học, học sinh tiếp thu bài một cánh nhanh
nhất, nhớ lâu, dễ hiểu, tránh được một giờ học gò bó, áp đặt. Học sinh tiếp thu
bài một cách nhẹ nhàng giờ học diễn ra sinh động đầy hứng thú. Qua đó học
sinh biết được hiện tượng, sự kiện lịch sử gắn liền với kiến thức bộ môn Ngữ
văn. Học sinh phân tích, so sánh hiểu được bản chất cuả sự kiện, hiện tượng rút
ra được bài học để xây đắp tương lai. Học sinh sẽ hiểu được quy luật và phát
triển của loài người đồng thời cũng tìm ra được đặc thù riêng của môĩ vùng, môĩ
chiến dịch, mỗi địa danh …Học sinh sẽ thấy được cái hay cái đẹp trong khi học
bộ môn lịch sử Khi giảng dạy lịch sử cô giáo đọc thơ, văn minh hoạ, cả lớp
chăm chú lắng nghe và tỏ ra rất thích thú, sau tiết học, nhiều em còn nhờ cô giáo
đọc để chép vào sổ tay. Những tiết học như thế đã để lại trong lòng các em
những ấn tượng lâu bền. Chắc chắn những sự kiện trong bài học Lịch sử sẽ lưu
lại trong ký ức các em sâu hơn, lâu hơn do đó chất lượng giảng dạy và học môn
lịch sử được nâng lên rõ rệt , góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện cho học sinh. Sau đây tôi xin trình bày sáng kiến của mình.

3


MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Cơ sở lí luận.
Môn lịch sử là bộ môn học thuộc nặng về ghi nhớ những sự kiện năm
tháng dài lê thê và xếp vào môn phụ, vì vậy ảnh hưởng không tốt vào mục tiêu

“ Lịch sử là sự kiện”. Đó là một tổng kết mang tính chất kinh điển. Bản
thân những sự kiện lịch sử vốn đã khô khan, nhất là những bài, những chương
viết về các trận đánh có rất nhiều những con số về ngày, tháng, năm xảy ra sự
kiện hoặc những số liệu về các thành tựu đã đạt được trên mọi lĩnh vực. Để
chuyển tải cho học sinh những số liệu một cách khô cứng như vậy, đòi hỏi người
giáo viên phải linh hoạt và sáng tạo trong việc sử dụng phương pháp dạy học
môn lịch sử.
2. Thực trạng.
Trong thực tiễn dạy học lịch sử, các tác phẩm văn học dân tộc cũng như
thế giới có vai trò to lớn đối với việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông. Nhưng
không phải dễ dàng khi vận dụng lý luận này vào thực tiễn. Việc thay sách
THCS được tiến hành từ năm học 2002 - 2003 các cấp các ngành đã có chỉ đạo
nâng cao chất lượng dạy học ở trường THCS, trong đó có môn lịch sử, đòi hỏi ở
môn này là phải có bước chuyển biến nhất định trong nhận thức và trong dạy
học bộ môn lịch sử ở trường THCS, muốn vậy người giáo viên phải có khả năng
tự nghiên cứu một số vấn đề mà quá trình dạy học đặt ra và phải giải quyết nhất
là về phương pháp dạy học lịch sử trong đó có phương pháp sử dụng tài liệu văn
học trong dạy học lịch sử. Qua điều tra thực tế cho thấy: Trình độ chuyên môn
của giáo viên đứng lớp môn sử hiện nay ở trường phổ thông là không đồng đều.
Có người dạy tốt thì sử dụng nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học lịch sử
trong đó có phương pháp sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử. Có giáo
viên có chuyên môn dạy ở mức trung bình ngược lại vẫn có giáo viên dạy sử yếu
nhưng lại không thể xếp loại nghiệp vụ yếu vì họ phải đứng lớp không đúng
chuyên môn chẳng hạn: Giáo viên văn dạy sử, giáo viên văn dạy giáo dục công
dân…
Khi dự giờ, thăm lớp và thực tế giảng dạy nếu giáo viên sử có kiến thức
vững vàng có chuyên môn sâu rộng, lời giảng truyền cảm, làm chủ kiến thức thì
5




Thứ hai: Các tác phẩm văn học góp phần quan trọng làm cho bài giảng
sinh động, hấp dẫn.
Từ thực tế trên ta thấy tác dụng vai trò to lớn không thể không thừa nhận
của việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử.
3.3. Các tài liệu văn học sử dụng trong giảng dạy lịch sử.
- Trong việc dạy học lịch sử ở trường THCS, giáo viên thường sử dụng
các loại tài liệu văn học chủ yếu sau:
- Văn học dân gian.
- Các tác phẩm ra đời vào thời kỳ xảy ra sự kiện lịch sử.
- Tiểu thuyết lịch sử.
- Hồi ký cách mạng.
- Tác phẩm thơ.
Mỗi loại có ý nghĩa khoa học riêng trong việc nghiên cứu và dạy học lịch
sử. Xác định các loại tài liệu văn học phải phù hợp với mục đích yêu cầu bài
giảng và tính chất của từng sự kiện, hiện tượng lịch sử. Chúng ta phải loại bỏ
những loại truyện kiếm hiệp, tiểu thuyết võ hiệp, xuyên tạc lịch sử, hay những
bài vè mang tính chất phản diện ,xuyên tạc có nội dung không lành mạnh...có
ảnh hưởng xấu đến việc hình thành tri thức lịch sử, giáo dục tư tưởng tình cảm
cho học sinh.
3.3.1. Văn học dân gian ra đời rất sớm và phong phú bao gồm các thể
loại như: Thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, ca dao, dân ca, thơ. Đây là
những tài liệu có giá trị phản ánh nội dung nhiều sự kiện quan trọng trong lịch
sử dân tộc. Nếu gạt bỏ yếu tố thần bí, hoang đường, chúng ta có thể tìm được
những yếu tố hiện thực của lịch sử trong văn học dân gian.
Ví dụ A: Truyện : Thánh Gióng. nếu gạt bỏ những yếu tố hoang đường đi
ta xác đinh được niên đại lịch sử của sự kiện là: Thời Hùng Vương thứ 6 nước
ta tương ứng với thời nhà Ân (nhà Thương) ở Trung Quốc.
7



8


Hai câu ca dao đó phản ánh thật là rõ cái tình trạng rối ren của triều đình
Huế sau khi Vua Tự Đức chết Ba ông Vua này đó là Đồng Khánh (Vua sống),
Kiên Phúc (Vua chết), Hàm Nghi (cùng Tôn Thất Thuyết sau khi phản công kinh
thành Huế đánh Pháp thất bại đã phải chạy ra Sơn Phòng, đều là con em của
Kiến Thái Vương (con một nhà) tất nhiêu khi minh hoạ câu ca này ta phải lưu ý
học sinh từ Thua chạy Dài ở đây là thuộc quan điểm của bọn tay sai bán nước và
thực dân Pháp xâm lược.
Những câu chuyện cổ tích, truyền thuyết, thần thoại được học trong các
giờ học văn cũng góp phần giúp cho học sinh những tư liệu sống động để tạo
biểu tượng về một thời đại lịch sử. Những truyện thần thoại, truyền thuyết, như
Thánh Gióng; Sơn Tinh - Thuỷ Tinh ra đời gần như đồng thời phản ánh cuộc đấu
tranh của nhân dân ta trong buổi bình đầu lịch sử, vừa là dựng nước và giữ nước.
(Truyện “Thánh Gióng nêu cao truyền thống yêu nước, đoàn kết chống giặc
ngoại xâm, bảo vệ lãnh thổ của dân tộc, truyện "Sơn Tinh - Thuỷ Tinh" lại tạo
biểu tượng đoàn kết đồng sức, đồng lòng của dân tộc ta để đắp đê chống bão lũ
lụt (chống lại thiên nhiên), đặc trưng rất rõ của cư dân nông nghiệp trồng lúa
nước.
- Sử dụng tài liệu văn học dân gian, giáo viên có thể tiến hành có kết quả
việc giáo dục tư tưởng đạo đức nói chung giáo dục truyền thống dân tộc nói
riêng.
3.3.2. Các tác phẩm văn học xuất hiện vào thời kỳ diễn ra các sự kiện
lịch sử có ý nghĩa đối với việc khôi phục hình ảnh quá khứ.
Trong quá trình lịch sử dân tộc nhất là phần lịch sử đầu thế kỷ XX, giáo
viên có thể sử dụng nhiều tác phẩm văn học có giá trị như “Tắt đèn” của Ngô
Tất Tố, "Bước đường cùng" của Nguyễn Công Hoan, “Bỉ vỏ” của Nguyên Hồng,
tuyển tập của Nam Cao. Qua các tác phẩm này giáo viên giúp học sinh hình

Thứ hai: Có thể dùng một đoạn trích để cụ thể hoá sự kiện, nêu ra một
kết luận khái quát, giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn một thời kỳ, một sự kiện lịch
sử.
10


Ví dụ 1: Khi kết thúc bài: Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40), bài 17, bài
18, Trương Vương và cuộc kháng chiến chống xâm lược Hán ta có thể kết thúc
bài học bằng bài diễn ca:
Bà Trưng quê ở Châu Phong
Giận người tàn bạo, thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền
Phất cờ nương tử, thay quyền tương quân
Ngàn tây nổi áng phong trần
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên
Hồng quân nhẹ bước chinh yên
Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên thành
Đô Kỳ đóng cõi Mê Linh
Lĩnh nam riêng một triều đình nước ta
Ba thu gánh vác Sơn Hà
Một là bá phụ - hai là bá vương.
(Trích: Đại nam quốc sử diễn ca)
Thứ ba là: Tài liệu Văn học được sử dụng để tổ chức những buổi sinh
hoạt ngoại khoá môn lịch sử. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng hoạt động ngoại
khoá có hai đặc điểm nổi bật là tính tự nguyện và sự phát triển nhận thức tích
cực độc lập, năng khiếu của học sinh trong lĩnh vực lịch sử. Điều này góp phần
định hướng nghề nghiệp cho các em sau này.
Do hoạt động ngoại khoá mang tính chất tự nguyện nên khi sử dụng tài
liệu văn học trong hoạt động ngoại khoá môn lịch sử cũng phải tiến hành dưới
nhiều hình thức khác nhau và phụ thuộc vào nhiều điều kiện (về hoàn cảnh của

- Tên sách.
- Tác giả.
12


- Thời gian đọc.
- Nội dung chủ yếu của sách theo từng phần, từng chương trình, ghi chép
những câu thích thú.
- Những vấn đề rút ra sau khi đọc sách những vấn đề liên quan đến bài
học vấn đề thích nhất, những thắc mắc cần giải quyết, ý định sử dụng những
kiến thức đã đọc được.
Cách ghi chép như vậy là bước chuẩn bị cho việc kể chuyện nói chuyện,
trao đổi thảo luận về sách.
Điều quan trọng là phải xây dựng cho học sinh nề nếp thói quen tránh tuỳ
tiện khi đọc sách ở nhà mà phải có chủ đích có hiệu quả.
Tóm lại: Tài liệu văn học là phương tiện cần thiết và quan trọng đối với
việc dạy học lịch sử của giáo viên và học sinh, mỗi loại tài liệu có vị trí và tác
dụng nhất định, nếu được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ thì hiệu quả sư phạm của
nó rất lớn. Vì vậy phương pháp sử dụng các tài liệu này phải tiến hành trên cơ sở
lý luận của việc dạy học lịch sử theo yêu cầu giáo dưỡng giáo dục của bộ môn
và thực tiễn của nhà trường phổ thông.
Trong các loại tài liệu văn học giáo viên chú ý hướng dẫn học sinh sử
dụng các hồi ký của những chiến sỹ cách mạng lão thành, phản ánh sinh động cụ
thể các sự kiện lịch sử có tác dụng cao.
Sau đây là các VD minh hoạ cụ thể của phương pháp sử dụng tư liệu văn
học trong giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông.
3.5. Một số lưu ý khi khai thác và vận dụng kiến thức thơ văn vào dạy
lịch sử.
- Trước hết, giáo viên phải hiểu cặn kẽ và thật tâm đắc với những tư liệu
mình đã lựa chọn.

chiến tranh cổ đại ... Sử thi Ô-đi-xê là sự tiếp nối của I-li-at: Sau khi giành thắng
14


lợi ở Tơ-roa, quân Hi-Lạp lên chiến thuyền trở về, con đường gặp đầy trắc trở
Uy-li-xơ là người long đong nhất, phiêu bạt 10 năm trời, sau bao thử thách đã
trở về đoàn tụ quê hương, vợ con.
Giáo viên nói qua về nghệ thuật sử thi đặc sắc: tính chất hoành tráng đồ
sộ, nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn. Sự kết hợp bút
pháp hoành tráng, sôi nổi kết hợp trữ tình sâu lắng. Đó là đặc điểm của anh hùng
ca Hô-me.
Giáo viên cần làm chủ kiến thức văn học, không sa đà kể lể, cốt thấy được
giá trị nổi bật để từ đó học sinh có ấn tượng, nhớ và tìm đọc.
3.6.3.Ví dụ 3 : Dạy mục 1 bài 3 - Sử 7: Cuộc đấu tranh của giai cấp tư
sản chống phong kiến thời hậu kì trung đại ở châu Âu.
1. Phong trào văn hoá Phục hưng (Thế kỉ XIV – XVII)
- Dạy mục này giáo viên cần đạt được:
- Sau khi hình thành cho học sinh khái niệm văn hoá Phục hưng? Đó là sự
Phục hưng tinh thần của nền văn hoá cổ Hi lạp và Rôma sáng tạo ra nền văn hoá
mới của giai cấp tư sản.
- Thời kì hậu kì Trung đại: Chế độ phong kiến châu Âu khủng hoảng,
CNTB đang hình thành và chuẩn bị cho sự thắng thế của nó trên phạm vi toàn
thế giới.
- Nguyên nhân dẫn đến phong trào văn hoá phục hưng: giai cấp Tư sản
có thế lực về kinh tế nhưng không có địa vị xã hội nên đấu tranh giành địa vị xã
hội, mở đầu bằng cuộc đấu tranh trên lĩnh vực văn hoá.
- Giáo viên bổ sung tư liệu về nội dung của phong trào văn hoá Phục
hưng: là đối tượng học sinh lớp 7, giáo viên cần đưa ra dẫn chứng gần gũi, dễ
hiểu:
Trước thời đại Phục hưng, phương Tây đắm chìm trong bóng đêm trung

(Ca dao chống Pháp)
16


hoặc:
“Cha trốn ra Hòn Gai cuốc mỏ
Anh chạy vào Đất Đỏ làm phu
Bán thân đổi mấy đồng xu
Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng”
(Tố Hữu)
b) Làm sáng tỏ: “Thuế khoá trong bất cứ thời gian nào cũng là nguồn bóc
lột chủ yếu của thực dân đế quốc nói chung và thực dân Pháp đối với nhân dân
Đông Dương nói riêng”
“… Thuế đến cả phấn son phường phố
Thuế môn bài, thuế đuốc, thuế đèn
Thuế nhà cửa, thuế chùa chiền
Thuế rừng tre gỗ, thuế tiền bán buôn

Trăm thứ thuế, thuế gì cũng ngặt
Thắt chặt dần như thắt chỉ xe”
(Á tế á ca)
- Ngoài ra tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố là một tác phẩm văn học
hiện thực phê phán nói về cuộc sống khốn khổ của tầng lớp nhân dân Việt nam
đầu TK XX dưới ách đô hộ của thực dân Pháp.
+ Chị Dậu vì không có tiền đóng sưu thuế cho nên chịu cảnh ức hiếp của
kẻ có quyền, chị đau lòng đứt ruột bán đi đứa con đầu lòng của mình, bán hết tất
cả những gì chị có để đóng tiền sưu thế chỉ mong sao chồng chị được trở về, đây
cũng chính là hình ảnh thường gặp của người nông dân Việt Nam dưới ách áp
bức bóc lột của chính quyền phong kiến tay sai.
3.6.4.2. Chương II : ViÖt Nam trong nh÷ng n¨m 1930-1939.



Không có lẽ ta ngồi chịu chết
Phải cùng nhau kiên quyết một phen
Tổng này, xã nọ kết liên
Ta hò, ta hét, thét lên thử nào”
(Tố Hữu)
* Bài 21 - Chương III: Cuéc vËn ®éng tiÕn tíi c¸ch m¹ng th¸ng T¸m
1945.
a) Nhằm khắc họa hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh và tình cảm của Người
khi trở về quê hương sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, có thể khai thác
sử dụng:
“Ôi sáng xuân nay, xuân bốn mốt
Sáng rừng Việt Bắc trắng hoa mơ
Người về. Im lặng. Con chim hót
Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ”
(Tố Hữu)
b) Mở rộng thêm về Mặt trận Việt Minh, để khắc hoạ hình ảnh của Mặt Trận
Việt Minh thực hiện chính sách của mình trong một “nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa thu nhỏ” đầy tính ưu việt, có thể sử dụng thơ của Chủ tịch Hồ Chí
Minh:
“… Có mười chính sách bày ra
Một là ích nước, hai là lợi dân
Bao nhiên thuế ruộng, thuế thân
Đều đem bỏ hết cho dân khỏi phiền
Hội hè, tín ngưỡng, báo chương
Họp hành, đi lại có quyền tự do
19



cho các dân tộc thuộc địa biết vùng lên giành quyền tự do , độc lập cho dân tộc
mình.
"Hoan hô chiến sĩ Điện Biên
Hoan hô đồng chí Nguyễn Văn Giáp
Sét đánh ngày đêm xuống đầu giặc Pháp!
Vinh quang Tổ quốc chúng ta
Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa!
Vinh quang Hồ Chí Minh, cha của chúng ta
Ngàn năm sống mãi
Quyết chiến quyết thắng, cờ đỏ sao vàng vĩ đại!
Kháng chiến ba ngàn ngày
Không đêm nào vui bằng đêm nay
Đêm lịch sử, Điện Biên sáng rực
Trên đất nước, như huân chương trên ngực
Dân tộc ta, dân tộc anh hùng!
Điện Biên vời vợi nghìn trùng
Mà lòng bốn biển nhịp cùng lòng ta
Đêm nay bè bạn gần xa
Tin vui chắc cũng chan hòa vui chung
Hoan hô chiến sĩ Điện Biên
Chiến sĩ anh hùng
Đầu nung lửa sắt
Năm mươi sáu ngày đêm, khoét núi, ngủ hầm,
mưa dầm cơm vắt
Máu trộn bùn non
Gan không núng
Chí không mòn!
Những đồng chí, thân chôn làm giá súng
21


Núi kia, đồi nọ, sông này của ta!
22


Chúng bay chỉ một đường ra:
Một là tử địa hai là tù binh.
Hạ súng xuống, rùng mình run rẩy
Nghe pháo ta lừng lẫy thét gầm!
Nghe trưa nay, tháng năm mồng bẩy
Trên đầu bay, thác lửa hờn căm!
Trông: bốn mặt, lũy hầm sập đổ
Tướng quân bay lố nhố cờ hàng
Trông: chúng ta cờ đỏ sao vàng
Rực trời đất Điện Biên toàn thắng!
Hoan hô chiến sĩ Điện Biên!
( Trích Hoan hô chiến sĩ Điện Biên- Tố Hữu)

- GV đọc cho học sinh nghe đoạn thơ để thấy được chiến thắng Điện Biên
Phủ kết thúc thắng lợi 9 năm chống Pháp xâm lược , chiến thắng này được ghi
vào lịch sử như một Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa ở Thế kỉ XX và đi vào lịch
sử thế giới như một chiến công chói lọi.
4. Kết quả.
Sau khi áp dụng phương pháp giảng dạy này ở môn học, tôi nhận thấy học
sinh thật sự có hứng thú hơn. Mỗi tiết học tôi cố gắng cho học sinh tìm hiểu
thêm một số câu ca dao hay thơ có cùng chủ đề tạo cho học sinh có thêm thói
quen tìm tòi , vận dụng kiến thức và điều tôi mong muốn đó là giúp các em thật
sự yêu thích môn học này. Sau thời gian áp dụng sáng kiến tôi đã thu được kết
qủa như sau:
- Lớp 9A.6A giảng dạy khi chưa áp dụng văn học .
- Lớp 9B ,6B đã áp dụng văn học trong giảng dạy lịch sử .

%

6A

20

5

25

10

50

4

20

1

5

9A

22

4

18,1


0

6B

21

8

28,6

11

61,9

2

9,5

0

0

Một trong cách thức dạy học để góp phần đổi mới nội dung phương pháp
dạy học của tôi nhằm nâng cao chất lượng dạy - học của nhà trường tôi đã sử
dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy nhằm giúp học sinh rèn luyện kỹ năng
trong dạy học lịch sử như trên tôi đã khái quát trình bầy. Nhờ đó đến nay, chất
lượng dạy học lịch sử của chúng tôi nâng lên rõ ràng; Chất lượng đại trà thường
đạt 90 - 95% (khảo sát), năm nào tôi cũng có học sinh giỏi cấp huyện và được
tuyển chọn dự thi cấp tỉnh, giáo viên giảng dạy đã đạt giải cao Hội thi Giáo viên
giái cấp huyện.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status