chính sách công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững từ thực tiễn tại tỉnh ninh bình - Pdf 37

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ LỰU

CHÍNH SÁCH CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN
TỈNH NINH BÌNH

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS. TS. VÕ KHÁNH VINH

Hà Nội, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu ghi trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn
chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

LÊ THỊ LỰU


MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

: (Rapid Rural Appraisal)
PRA là phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có người dân tham gia trong
phát triển cộng đồng.
UBND
: Uỷ ban nhân dân
XĐGN

: Xóa đói giảm nghèo

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Có lẽ loài người đã bắt đầu giúp đỡ nhau ngay từ khi họ xuất hiện trên
trái đất này. Xu hướng trợ giúp người nghèo, ốm đau, yếu đuối, người già,
những người khuyết tật... dường như là bản năng của con người và được tất cả
các tôn giáo khuyến khích. Khi xã hội phát triển hiện đại hơn, loài người bắt
đầu giúp đỡ nhau không chỉ như là một hình thức quyên góp từ thiện đơn
thuần. Trong bối cảnh như thế, công tác xã hội với tư cách là một ngành khoa
học trợ giúp ra đời nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống của người
dân bằng những kĩ năng và phương pháp thực hành chuyên nghiệp của mình.
Những nhóm đối tượng yếu thế, đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt như: người
khuyết tật, người lang thang, cơ nhỡ, người già, người nhiễm HIV..trong đó
có người nghèo chính là những trọng tâm trợ giúp của công tác xã hội.
Đói nghèo là một vấn đề toàn cầu, đã và đang diễn ra trên khắp các
châu lục với những mức độ khác nhau và trở thành một thách thức lớn đối với

Ninh Bình là một tỉnh nằm ở phía nam đồng bằng sông Hồng, giao
thông thủy, bộ thuận tiện, có tiềm năng kinh tế lớn ở cả 3 vùng: đồng bằng,
ven biển, trung du miền núi và 2 thế mạnh: du lịch, vật liệu xây dựng. Ninh
Bình cũng có nhiều nghề truyền thống, như trồng, chế biến cói, thêu ren, chế
tác đá mỹ nghệ, mộc, sinh vật cảnh... Không chỉ có nguồn lao động dồi dào,
người dân Ninh Bình lại cần cù, chăm chỉ và rất có ý chí thoát nghèo, vươn
lên làm giàu. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi ấy, Ninh Bình cũng gặp
nhiều khó khăn, thách thức. Nhiều xã ở vùng sâu, vùng xa, vùng ven biển
điều kiện sản xuất, sinh hoạt còn khó khăn, trình độ dân trí thấp, tỷ lệ hộ
nghèo cao. Tính đến hết năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo vẫn ở mức 12,39%. Đến
cuối giai đoạn 2011-2015 giảm 1.198 hộ nghèo tương ứng tỷ lệ 3,5% . Trung
bình mỗi năm giảm được tỷ lệ hộ nghèo là 1,89%. Tuy nhiên tỷ lệ hộ tái
nghèo, phát sinh nghèo hàng năm còn cao, chênh lệch mức sống giữa nhóm

2


người giàu và người nghèo ngày càng gia tăng. Vì thế việc nghiên cứu về
chính sách công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững từ thực tiễn tại tỉnh
Ninh Bình một cách hệ thống, khoa học làm cơ sở đưa ra các chính sách trợ
giúp xã hội nhằm góp phần xoá đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
được tôi lựa chọn làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu
Nghèo và xoá đói giảm nghèo ở nước ta đang là vấn đề được Đảng và
Nhà nước, các cấp, các ngành cũng như nhiều cơ quan, nhà khoa học đặc biệt
quan tâm nghiên cứu. Hiện nay có khá nhiều nghiên cứu về vấn đề này như:
- Tập thể tác giả Nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam Nxb
Nông nghiệp, Hà Nội- 2001;
- Tiến sỹ Nguyễn Trọng Xuân Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện
nhiệm vụ giúp dân xoá đói giảm nghèo, Nxb Quân đội nhân dân-2008;

3.1. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về chính sách và thực trạng công tác xoá đói giảm
nghèo bền vững và đánh giá thực trạng chính sách công tác xã hội đối với
công tác xoá đói giảm nghèo bền vững từ thực tiễn tại tỉnh Ninh Bình.
- Luận văn nghiên cứu hệ thống quan điểm, phân tích một số giải pháp
đề hoàn thiện và nâng cao hiệu quả chính sách công tác xã hội trong thực hiện
xoá đói giảm nghèo bền vững tại tỉnh Ninh Bình cũng như hỗ trợ bằng
phương pháp công tác xã hội để kết nối các nguồn lực với người dân góp
phần thực hiện mục tiêu: cơ bản không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống
mức tối thiểu trên địa bàn tỉnh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chính sách công tác xã hội trong
giảm nghèo bền vững.

4


- Luận văn đi sâu nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách công tác xã
hội trong công tác giảm nghèo tại Ninh Bình: Chính sách đã thực hiện trong
giai đoạn 2011-2015 và Chính sách thực hiện trong giai đoạn 2016-2020.
- Trên cơ sở các giải pháp đã và đang thực hiện, Luận văn đưa ra kiến
nghị hoàn thiện chính sách công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững tại
tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Chính sách công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững từ thực tiễn tại
tỉnh Ninh Bình.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
- Thời gian: từ năm 2011 đến năm 2015.

trình nghiên cứu, các báo cáo, số liệu thống kê....:
- Báo, tạp chí: Công báo, Tạp chí Lao động xã hội, tạp chí Cộng sản,
Báo Nhân dân....
- Mạng internet....
5.2.2. Phương pháp quan sát
Là phương pháp thu thập thông tin xã hội sơ cấp về đối tượng nghiên
cứu bằng cách quan sát, ghi chép các yếu tố những vấn đề có liên quan tới đề
tài nghiên cứu, có tính hệ thống, có kế hoạch và đặc trưng riêng của phương
pháp này. Phương pháp quan sát được sử dụng trong suốt quá trình nghiên
cứu, kết hợp trong quá trình vãng gia.
Trong quá trình thực hiện đề tài tác giả nghiên cứu đã tiến hành quan
sát các nội dung sau: Nơi sinh sống, tiện nghi sinh hoạt, các mối quan hệ của
các hộ gia đình nghèo....

6


5.2.3. Phương pháp định tính, phỏng vấn sâu
Là phương pháp thu thập thông tin qua hỏi đáp. Người điều tra đặt câu
hỏi cho đối tượng khảo sát, sau đó ghi vào phiếu hoặc sẽ tái hiện nó vào phiếu
sau khi kết thúc cuộc phỏng vấn, hoặc người phỏng vấn ghi âm lại cuộc
phỏng vấn sau đó nghe lại và phân tích thông tin thu được. Ở đây người
phỏng vấn và đối tượng khảo sát tiếp xúc trực tiếp với nhau
Phỏng vấn là một công việc có tính chất nghề nghiệp và đòi hỏi nhân
viên CTXH phải chuẩn bị kĩ lưỡng những nội dung, câu hỏi phỏng vấn đối
với thân chủ. Nhân viên CTXH luôn phải để ý những thông tin thiếu sót,
những còn mơ hồ cần làm rõ và các nhầm lẫn, thiếu sót của nhân viên xã hội
cần được xử lí bằng các kĩ năng giải quyết vấn đề.
Tác giả luận văn đã tiến hành 5 phỏng vấn sâu trong quá trình thực
hiện đề tài:

7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu và kết luận kiến nghị, tài liệu tham khảo,
phụ lục, nội dung chính của Luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chính sách công tác xã hội trong
giản nghèo bền vững
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách công tác xã hội trong giảm
nghèo bền vững tại tỉnh Ninh Bình
Chương 3: Hoàn thiện chính sách công tác xã hội trong giảm nghèo bền
vững

8


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG TÁC
XÃ HỘI TRONG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH
NINH BÌNH
1.1. Những vấn đề lý luận về công tác xã hội trong
giảm nghèo bền vững
1.1.1. Khái niệm chính sách công tác xã hội
Theo Từ điển tiếng Việt thì “chính sách” là “sách lược và kế hoạch cụ
thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và
tình hình thực tế mà đề ra”.
Theo tác giải Vũ Cao Đàm thì “chính sách là một tập hợp biện pháp
được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra,
trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ
hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến
lược phát triển của một hệ thống xã hội”. Theo tác giả thì khái niệm “hệ thống
xã hội” được hiểu theo một ý nghĩa khái quát. Đó có thể là một quốc gia, một
khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường.

lực và cải thiện cuộc sống.
Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh: Định nghĩa cổ điển: CTXH nhằm giúp
cá nhân và cộng đồng tự giúp. Nó không phải là một hành động ban bố của từ
thiện mà nhằm phát huy sứ mệnh của hệ thống thân chủ (cá nhân, nhóm và
cộng đồng) để họ tự giải quyết vấn đề của mình [19, 15]
Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế: CTXH chuyên nghiệp
thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con
người, sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc
sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành
vi con người và các hệ thống xã hội. CTXH can thiệp ở những điểm tương tác
giữa con người và môi trường của họ [19, 16]
Tuy nhiên đối với đề tài nghiên cứu, tác giả sử dụng khái niệm theo đề
án 32 về phát triển nghề công tác xã hội đến năm 2020 của Thủ tướng Chính
phủ: CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con
người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống
của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc
cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến.

11


Từ việc khái quát các định nghĩa về khái niệm chính sách và khái niệm
công tác xã hội cho chúng ta thấy cái nhìn tổng quát chung về khái niệm
chính sách công tác xã hội: Chính sách công tác xã hội là tập hợp các quyết
định của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn những giải pháp, công cụ để giải
quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh
các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng
tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc, dân chủ và tiên tiến.
1.1.2. Khái niệm giảm nghèo bền vững
* Khái niệm nghèo

đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy thành tiền. Nếu người có thu
nhập thấp dưới mức chuẩn nghèo thì được đánh giá thuộc diện hộ nghèo. Đây
chính là chuẩn nghèo đơn chiều do Chính phủ quy định. Tuy nhiên, chuẩn
nghèo này của Việt Nam được đánh giá là thấp so với thế giới. Trên thực tế,
nhiều hộ dân thoát nghèo nhưng mức thu nhập vẫn nằm cận chuẩn nghèo, do
đó số lượng hộ cận nghèo vẫn rất lớn, tỷ lệ tái nghèo còn cao, hàng năm cứ 3
hộ thoát nghèo thì lại có 1 hộ trong số đó tái nghèo.
Thực tế cho thấy sử dụng tiêu chí thu nhập để đo lường nghèo đói là
không đầy đủ. Về bản chất, đói nghèo đồng nghĩa với việc bị khước từ các
quyền cơ bản của con người, bị đẩy sang lề xã hội chứ không chỉ là thu nhập
thấp. Có nhiều nhu cầu tối thiểu không thể đáp ứng bằng tiền. Nhiều trường
hợp không nghèo về thu nhập nhưng lại khó tiếp cận được các dịch vụ cơ bản
về y tế, giáo dục, thông tin. Mặc dù một số hộ không có tên trong danh sách
hộ nghèo nhưng lại thiếu thốn các dịch vụ y tế, nước sạch, ở vùng sâu vùng
xa học sinh phải học trong những căn nhà lá đơn sơ, bốn bề gió lùa… Do đó,

13


nếu chỉ dùng thước đo duy nhất dựa trên thu nhập hay chi tiêu sẽ dẫn đến tình
trạng bỏ sót đối tượng nghèo, dẫn đến sự thiếu công bằng, hiệu quả và bền
vững trong thực thi các chính sách giảm nghèo.
Ngày 15/9/2015 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
1614/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án tổng thể chuyển đổi phương pháp tiếp cận
đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.
Chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020 của Việt Nam được xây dựng theo
hướng: sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp
cận các dịch vụ xã hội cơ bản [22, 2]. Theo đó, tiêu chí đo lường nghèo được
xây dựng dựa trên cơ sở: (1) Các tiêu chí về thu nhập, bao gồm: chuẩn mức
sống tối thiểu về thu nhập, chuẩn nghèo về thu nhập, chuẩn mức sống trung

- Phát triển kế hoạch: Các kế hoạch phát triển là từng bước của một lộ
trình thay đổi hiện trạng thực tế với những nguồn lực hiện có để đạt được
tương lai mong muốn.
Trình tự của việc phát triển kế hoạch thông thường bao gồm các bước sau:
Khai thác nội lực tại cộng đồng -> Vẽ bản đồ các nguồn tài nguyên
trong cộng đồng -> Huy động nội lực để phát triển -> Kế hoạch tự phát triển
-> Các chương trình phát triển bền vững.

17


Áp dụng phương pháp ABCD trong công tác xóa đói giảm nghèo cần
xuất phát từ thực trạng nghèo đói, nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói
của người dân để từ đó xây dựng mục tiêu, kế hoạch để giảm nghèo bền
vững. Vận dụng phương pháp này, các chính sách công tác xã hội được xây
dựng nhằm mục đích phát huy nội lực của cộng đồng: nguồn tài nguyên thiên
nhiên (điều kiện tự nhiên, đất, nước, khí hậu, địa lý…); nguồn lực con người
– đó chính là bản thân người nghèo; Chính sách của địa phương…. Như vậy,
công tác giảm nghèo dựa vào mô hình này sẽ giúp cho công tác giảm nghèo
hiệu quả và bền vững
1.1.2.2. Lý thuyết nhu cầu
Nhu cầu là yếu tố tất yếu, cần thiết để đảm bảo cho sự tồn tại và phát
triển của mỗi cá nhân, nhóm và cộng đồng. Nếu nhu cầu được thoả mãn thì sẽ
tạo nên cảm giác thoải mái và an toàn cho sự phát triển. Ngược lại nếu không
được đáp ứng thì sẽ gây nên sự căng thẳng và có thể dẫn đến những hậu quả
nhất định. Nhu cầu khác với ý muốn. Ý muốn là điều mà ta mong muốn, còn
nhu cầu là cái gì đó mà khi thiếu thì sẽ dẫn đến những hạn chế trong quá trình
phát triển con người. Chính vì vậy mà mục tiêu của công tác xã hội là tăng
cường khả năng hoạt động cá nhân hay tổ chức thông qua đáp ứng nhu cầu của
đối tượng.

- Nhu cầu được tiếp cận thông tin: Do những hạn chế về thu nhập thấp,
thường sống ở vùng sâu, vùng xa nên người nghèo thường thiếu thông tin,
chính vì vậy, họ cũng có nhu cầu được tiếp cận các thông tin như: Thông tin
cơ bản về các loại hình thiên tai, hiểm họa tự nhiên, thảm họa, biến đổi khí
hậu; Thông tin, kiến thức và kỹ năng sản xuất, chăm sóc sức khỏe; Thông tin
về kinh tế, chính trị, xã hội; Thông tin về chính sách, pháp luật, thủ tục hành

19


chính và các loại hồ sơ giấy tờ cần thiết để được nhận hỗ trợ, bảo trợ từ Nhà
nước và các tổ chức xã hội…; Nhu cầu hỗ trợ các phương tiện thông tin như
sách, báo, đài radio…
- Nhu cầu được chăm sóc y tế: Đây là nhu cầu có thể nói là rất cần thiết
và được đa số người nghèo quan tâm. Bởi đa số họ, do sống trong điều kiện
thiếu thốn nên dễ ốm đau, bệnh tật, hơn nữa lại thu nhập thấp nên khi mắc
bệnh lại không có tiền để chi trả chi phí khám chữa bệnh. Chính vì vậy họ rất
cần sự trợ giúp của Nhà nước, các tổ chức xã hội… để giúp họ được chăm sóc
y tế.
- Đảm bảo sinh hoạt trong môi trường an toàn, vệ sinh: Phần lớn người
nghèo sống trong tình trạng thiếu thốn mọi mặt cơ sở vật chất thiết yếu cho
cuộc sống. Chính vì vậy họ đều mong muốn được sống, sinh hoạt và sản xuất
trong một môi trường an toàn, đảm bảo những nhu cầu căn bản như nhà ở,
điện, nước sạch và thức ăn hợp vệ sinh để có thể đảm bảo cho sức khỏe, có
khả năng tái sản xuất sức lao động, tránh bị bệnh tật.
1.2. Chính sách công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững hiện
nay ở Việt Nam
Giảm nghèo là đòi hỏi cấp bách của toàn nhân loại. Ở nước ta, giảm
nghèo bền vững là một chủ trương, quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước,
giảm nghèo là một cuộc cách mạng sâu sắc, là phong trào quần chúng, nhất là

thể để triển khai các nội dung của kế hoạch 12.
Hiện nay, Sở Lao động Thương binh và Xã hội đang tham mưu UBND
tỉnh ban hành Đề án phát triển đội ngũ cộng tác viên công tác xã hội cấp xã
triên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020.

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status