Chính sách công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững từ thực tiễn tỉnh quảng ngãi - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ TIẾN TÂN

CHÍNH SÁCH CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành : CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã số
: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHẠM HỮU NGHỊ

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ
Công tác xã hội “Chính sách Công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững từ
thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề
tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn

ĐỖ TIẾN TÂN

38
38
42
57

Chương 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG TÁC XÃ
HỘI TRONG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 67
QUẢNG NGÃI
3.1. Quan điểm, mục tiêu, định hướng hoàn thiện chính sách công tác xã hội
trong giảm nghèo bền vững
3.2. Các giải pháp hoàn thiện chính sách công tác xã hội trong giảm nghèo bền
vững

67
68

3.3. Lộ trình thực hiện

75

3.4. Một số kiến nghị

75

KẾT LUẬN

79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO



DV

Dịch vụ

5

CTGN

Công tác giảm nghèo

6

BTXH

Bảo trợ xã hội

7

TGXH

Trợ giúp xã hội

8

KT-XH

Kinh tế - xã hội

9

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong hành trình đi đến một xã hội văn minh, phồn thịnh, tất cả các quốc gia,
bên cạnh việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để tập trung phát triển kinh
tế đều chú trọng giải quyết tốt các vấn đề xã hội. Chủ trương của Đảng và Nhà nước
ta là tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và CBXH. Song song với phát triển
kinh tế phải quan tâm giảm nghèo, trợ giúp các đối tượng yếu thế. Nghị quyết
80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ xác định giảm nghèo bền vững là một
trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011 – 2020. Trong những năm
qua, Nhà nước ta đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ cho
người nghèo phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống và tiếp cận
các DV xã hội cơ bản, trong đó đặc biệt quan tâm đối với vùng miền núi, khó khăn.
Kết quả đạt được trong giảm tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam là khá cao, được Liên
hợp quốc ghi nhận. Song giảm nghèo chưa thật sự bền vững, xuất phát từ nhiều
nguyên nhân, trong đó có cả tính khả thi của CSGN được ban hành và phương thức,
biện pháp triển khai, đưa CSGN vào thực tiễn.
CTXH với mục đích vừa giúp đỡ cá nhân, gia đình, cộng đồng phục hồi hay
nâng cao năng lực để tăng cường chức năng xã hội, vừa thúc đẩy các điều kiện xã
hội để các đối tượng tiếp cận được với chính sách, nguồn lực xã hội nhằm đáp ứng
những nhu cầu cơ bản của cuộc sống. Năm 2010, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2011-2020, với mục tiêu phát triển CTXH
trở thành một nghề ở Việt Nam. Theo đó, nhiều chính sách CTXH được ban hành,
tập trung tuyên truyền nâng cao nhận thức, củng cố phát triển mạng lưới các cơ sở
cung cấp DV, đào tạo nguồn nhân lực CTXH … để CTXH dần dần chính thức trở
thành một NCN trợ giúp cho các đối tượng nói chung và người nghèo nói riêng.
Là cơ sở chính trị - pháp lý, thực hiện chức năng định hướng, điều chỉnh các
hoạt động và cũng là điều kiện cần và đủ để thực hiện CTXH trong giảm nghèo,
chính sách CTXH có vai trò quan trọng trong GNBV, thúc đẩy thực hiện tốt quyền
con người, góp phần CBXH và phát triển bền vững. Trong hoạch định và tổ chức
thực hiện, chính sách CTXH trong GNBV trong giai đoạn hiện nay cần tập trung


tỉnh Quảng Ngãi. Trên cơ sở đó đề xuất quan điểm, mục tiêu và giải pháp hoàn
thiện chính sách CTXH trong GNBV, đảm bảo cho nhân viên CTXH triển khai các
cách tiếp cận, phương pháp CTXH đối với người nghèo, chuyên nghiệp hóa trong
DV CTXH đối với người nghèo; góp phần phát triển CTXH thành một NCN nhằm
2


trợ giúp cho các đối tượng nói chung và người nghèo nói riêng là công việc cần
thiết, cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài luận văn là: “Chính sách công
tác xã hội trong giảm nghèo bền vững từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, vấn đề giảm nghèo và CTXH vẫn luôn thu hút sự
quan tâm của nhiều học giả với nhiều bài viết trên các báo, tạp chí, nhiều luận văn,
các đề tài khoa học và các công trình dưới dạng tài liệu tham khảo như:
- Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành kinh tế phát triển “Chính sách xóa đói
giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Kon Tum” của Nguyễn Minh Định (2011). Đề tài đã
nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách xóa đói giảm nghèo; phân tích kết quả thực
hiện và đánh giá các chính sách xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Kon Tum, tìm
ra được những tồn tại và nguyên nhân của từng chính sách; đề ra được một số giải
pháp để hoàn thiện chính sách xóa đói giảm nghèo của tỉnh Kon Tum đến năm
2015.
- Đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế “Giải pháp xóa đói giảm nghèo trên địa bàn
huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam” của Đỗ Thị Dung (2011): Đã nghiên cứu một
số vấn đề lý luận về xóa đói giảm nghèo; thực trạng xóa đói giảm nghèo trên địa
bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam; nghiên cứu kết quả đạt được của từng chính
sách, đánh giá những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân trong công tác xóa đói giảm
nghèo; đưa ra được phương hướng và giải pháp xóa đói giảm nghèo trên địa bàn
huyện Nông Sơn.
- Trong sách chuyên khảo “Chính sách xóa đói giảm nghèo - Thực trạng và

3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng thực thi các chính sách về
CTXH trong GNBV nhằm tìm ra những khoảng trống trong hệ thống chính sách và
những vấn đề bất cập của thực thi, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp góp phần
hoàn thiện chính sách, nâng cao tính chuyên nghiệp của CTXH đối với GNBV.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về chính sách CTXH trong
GNBV và chính sách CTXH trong GNBV ở Việt Nam.
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng thực hiện các chính sách CTXH trong GNBV
từ thực tiễn tại tỉnh Quảng Ngãi.
Thứ ba, trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện chính sách CTXH trong GNBV
tại tỉnh Quảng Ngãi hiện nay, đề ra quan điểm, xác định mục tiêu, nêu giải pháp và
4


lộ trình hoàn thiện chính sách CTXH trong GNBV trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Chính sách CTXH trong GNBV.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Tình hình thực hiện chính sách CTXH trong GNBV.
- Về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2011 đến năm 2016.
- Về địa bàn nghiên cứu: Tại tỉnh Quảng Ngãi.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp kết hợp với phương
pháp quan sát để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên
quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định
của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên
cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá
nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách CTXH trong GNBV ở

sách CTXH trong GNBV được hoàn thiện hơn, tích cực góp phần sớm phát triển
CTXH thành một NCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi và cả nước. Việc thực hiện các
chính sách CTXH trong GNBV đem lại hiệu quả thiết thực, phát huy vai trò của
CTXH trong GNBV thông qua chuyên nghiệp hóa CTXH đối với người nghèo;
giúp người nghèo, vùng nghèo được thụ hưởng DV CTXH một cách đích thực,
nâng cao năng lực, khả năng tiếp cận CSGN và tham gia cùng với Nhà nước để đưa
các CSGN vào trong thực tiễn ngày càng đem lại hiệu quả.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chính sách công tác xã hội trong giảm
nghèo bền vững.
Chương 2: Thực hiện chính sách công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững
tại tỉnh Quảng Ngãi.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách công tác xã hội trong giảm nghèo
bền vững trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH
CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG

1.1. Các khái niệm: Giảm nghèo bền vững, công tác xã hội đối với người nghèo,
chính sách công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững
1.1.1. Giảm nghèo và giảm nghèo bền vững
1.1.1.1. Giảm nghèo
Để hiểu được khái niệm giảm nghèo, trước hết cần nghiên cứu nghèo là gì ?
Trên thế giới, khái niệm về nghèo được thể hiện qua rất nhiều quan niệm

mặt trái của nền kinh tế thị trường là sự phân hóa giàu nghèo, đồng thời với một bộ
phận giàu lên, còn có một bộ phận vì nhiều nguyên nhân khác nhau sẽ bị rơi xuống
nghèo khổ cũng là một nguyên nhân dẫn đến nghèo.
Để xác định người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo, Chính phủ ban hành chuẩn
hộ nghèo phù hợp với điều kiện và tình hình phát triển KT-XH của từng thời kỳ.
Người nghèo là người thuộc thành viên của hộ được xác định là hộ nghèo. Hộ
nghèo là hộ được xác định trên cơ sở đảm bảo các điều kiện theo quy định của
chuẩn hộ nghèo. Huyện nghèo, xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn là huyện, xã thỏa
mãn các tiêu chí về vị trí địa lý, điều kiện KT-XH và tỷ lệ hộ nghèo theo quy định
của Chính phủ. Từ năm 1992 đến nay, Việt Nam có 7 lần thay đổi chuẩn hộ nghèo,
sau mỗi lần thay đổi đều có xu hướng ngày càng nâng lên mức sống theo sự phát
triển của nền KT-XH, khả năng cân đối ngân sách và phương pháp tiếp cận gần dần
với chuẩn nghèo của thế giới, với định hướng nhằm đảm bảo GNBV.
Chuẩn nghèo giai đoạn hiện nay (2016-2020), lần đầu tiên Chính phủ ban
hành chuẩn nghèo theo hướng tiếp cận đa chiều. Theo đó, có hai tiêu chí tiếp cận đo
lường nghèo đa chiều là tiêu chí về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận DV xã hội
cơ bản. Trên cơ sở đó, tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 không
những chỉ ban hành chuẩn hộ nghèo, cận nghèo mà cả hộ trung bình để làm cơ sở
để định hướng các chính sách phát triển kinh tế vùng, lĩnh vực, CSGN và an sinh xã
hội. Có thể nói, với việc tiếp cận nghèo đa chiều để ban hành chuẩn hộ nghèo nêu
trên, Việt Nam đã dần dần tiếp cận với thế giới trong việc xác định hộ nghèo, làm
cơ sở tiền đề để ban hành và thực hiện chính sách GNBV. Việc tìm hiểu kỹ khái
8


niệm nghèo là cơ sở và bao giờ cũng đặt trong mối liên hệ tương quan với khái
niệm giảm nghèo.
Giảm nghèo, xét theo nghĩa đơn thuần số học, giảm có nghĩa là bớt đi, làm ít
lại một hoặc một số đối tượng thực thể nào đó. Theo nghĩa này, giảm nghèo là giảm
bớt số người nghèo, hộ nghèo trên địa bàn; giảm số xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn,

Như vậy, có thể cho rằng GNBV là khái niệm chỉ tập hợp các giải pháp,
chính sách, hoạt động của Nhà nước, xã hội và chính bản thân người nghèo, hộ
nghèo, cộng đồng nghèo nhằm tạo điều kiện cho hộ nghèo thoát ra khỏi nghèo khổ
trong hiện tại và đảm bảo cho họ vẫn tiếp tục phát triển trong tương lai xa. Đồng
thời GNBV còn là các giải pháp, chính sách, hoạt động nhằm ngăn ngừa tình trạng
phát sinh nghèo mới trong cộng đồng, hay nói cách khác là tạo điều kiện cho các
cộng đồng nghèo phát triển bền vững.
Từ khái niệm trên, ta thấy GNBV có một số đặc điểm chính sau đây:
- Các giải pháp, chính sách, các hoạt động của Nhà nước, xã hội và của chính
bản thân người nghèo, hộ nghèo, cộng đồng nghèo để GNBV phải đặt trong chương
trình, định hướng và trong sự tương quan với phát triển KT-XH của một địa
phương, vùng và quốc gia, được chính quyền Nhà nước các cấp xác định đó là một
nhiệm vụ trọng tâm của phát triển KT-XH.
- Các giải pháp, chính sách, các hoạt động của Nhà nước, xã hội và của chính
bản thân người nghèo, hộ nghèo, cộng đồng nghèo giúp cho người nghèo có sinh kế
mang lại thu nhập ổn định không những vượt mức chuẩn nghèo mà còn ở mức sống
trung bình trở lên từ thực lực của chính bản thân người nghèo, hộ nghèo.
- Các giải pháp, chính sách, các hoạt động của Nhà nước, xã hội định hướng
và tạo điều kiện cho người nghèo, cộng đồng nghèo nâng cao năng lực, nhận thức,
tự lực vươn lên không trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, cộng đồng.
- Các giải pháp, chính sách, các hoạt động của Nhà nước, xã hội và của chính
bản thân người nghèo, hộ nghèo, cộng đồng nghèo giúp cho điều kiện sống của người
nghèo được cải thiện rõ rệt, trước hết là về y tế, giáo dục, văn hóa, nước sinh hoạt, nhà
ở, thông tin; người nghèo tiếp cận thuận lợi và đầy đủ các DV xã hội cơ bản.
- Các giải pháp, chính sách, các hoạt động của Nhà nước, xã hội và của chính
bản thân người nghèo, hộ nghèo, cộng đồng nghèo để GNBV còn đặc biệt chú trọng
tình trạng phát sinh nghèo mới trong cộng đồng, hay nói cách khác là tạo điều kiện
cho các cộng đồng nghèo phát triển bền vững.
10


tượng cụ thể như cá nhân, nhóm, cộng đồng. Trong quá trình hoạt động, nhân viên
11


CTXH phải phát hiện ra được các vấn đề khó khăn của đối tượng và muốn giải
quyết tốt các khó khăn này cần phải huy động nhiều nguồn lực, từ các cơ quan trung
ương, các tổ chức xã hội, cộng đồng và các cá nhân sẵn sàng giúp đỡ.
(iv). Nội dung hoạt động của CTXH rất đa dạng, CTXH tiếp cận tìm hiểu
khó khăn, vướng mắc của đối tượng và giải quyết các khó khăn này, CTXH tham
gia huy động các nguồn lực khác nhau trong xã hội, tham gia đề xuất các chính sách
phù hợp giải quyết các vấn đề xã hội. Tham gia nghiên cứu tìm hiểu về các vấn đề
xã hội, đưa ra các dự báo về vấn đề xã hội mới nảy sinh và đưa ra các giải pháp mới
phù hợp.
(v). CTXH có phương pháp hoạt động riêng: để đạt được mục đích giúp đỡ
đối tượng tự thân vượt qua hoàn cảnh khó khăn, CTXH sử dụng tới các phương
pháp đặc thù cho từng đối tượng, như đối với cá nhân có Phương pháp CTXH cá
nhân, đối với nhóm có phương pháp CTXH nhóm và đối với cộng đồng sử dụng
phương pháp Phát triển cộng cộng hay Tổ chức cộng đồng. Để các phương pháp
này có hiệu quả cao thì CTXH sử dụng các kỹ năng khá đặc thù như kỹ năng tham
vấn, kỹ năng cùng tham gia, kỹ năng thúc đẩy sự thay đổi v.v.
(vi). Hoạt động CTXH thường tuân thủ theo 7 nguyên tắc cơ bản, như: (1)
Nguyên tắc chấp nhận đối tượng trên cơ sở tôn trọng đối tượng và tôn trọng các
quyền của con người, (2) Nguyên tắc đối tượng cùng tham gia giải quyết vấn đề của
chính họ, có như vậy kết quả đạt được sẽ cao và bền vững, (3) Nguyên tắc dành
quyền tự quyết cho đối tượng khi cần phải quyết định một giải pháp phù hợp giải
quyết vấn đề của chính họ, (4) Nguyên tắc cá biệt hoá sự giúp đỡ, tránh sự cứng
nhắc về phương pháp cách thức giúp đỡ đối tượng, (5) Nguyên tắc giữ bí mật thông
tin của đối tượng, nhất là những thông tin nhạy cảm, dễ gây tổn thương cho đối
tượng, (6) Nguyên tắc tự ý thức về bản thân, tránh việc quá lạm dụng vào quyền lực
hay vị thế của mình để áp đặt ý chí của đối tượng và (7) Đảm bảo mối quan hệ nghề

nghèo có được cơ hội thực hiện các quyền con người của mình.
CTXH tập trung vào hai hình thức DV chính, đó là DV trực tiếp hỗ trợ cá
nhân, gia đình, cộng đồng và tham gia vào mảng đưa ra các chính sách, chương
trình giải quyết vấn đề nghèo. DV hỗ trợ trực tiếp nhằm mục đích hỗ trợ đáp ứng
nhu cầu trực tiếp của người nghèo. Hình thức DV này đối với cá nhân người nghèo,
CTXH cung cấp DV cung cấp thức ăn, áo ấm, tìm kiếm chỗ ở an toàn, kết nối tới
chăm sóc sức khỏe thể chất, tinh thần, học tập, học nghề, tìm kiếm việc làm, khuyến
13


khích tham gia các hoạt động xã hội, … Đối với gia đình, CTXH cung cấp các DV
tham vấn, kết nối gia đình tới các DV chương trình, chăm sóc sức khỏe, … Đối với
cộng đồng, CTXH đưa ra các DV phát triển cộng đồng, nâng cao nhận thức của
người dân về vấn đề nghèo và khuyến khích tương trợ, hỗ trợ của cộng đồng với
người nghèo và gia đình họ. Hình thức DV CTXH liên quan đến chính sách,
chương trình hỗ trợ cho người nghèo, CTXH tích cực tham gia vào việc xây dựng
chính sách. Nhân viên CTXH là người hỗ trợ Chính phủ tìm hiểu tâm tư, nguyện
vọng, nhu cầu của người nghèo từ đó đề xuất với cơ quan chức năng nghiên cứu
đưa ra chính sách, chương trình giảm nghèo có tính khả thi và thực tế cao.
Từ phân tích trên, khái niệm CTXH đối với người nghèo có thể hiểu là DV
hỗ trợ cho người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo vượt qua khó khăn, tiếp cận và sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực (kể cả nội tại và bên ngoài) để đáp ứng nhu cầu trực
tiếp của người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo; đồng thời tích cực tham gia vào việc
hoạch định CSGN nhằm đảm bảo mục tiêu tiến bộ, CBXH trên cơ sở các phương
pháp tiếp cận và hoạt động chuyên nghiệp của nghề CTXH.
1.1.3. Chính sách, chính sách xã hội và chính sách công tác xã hội trong giảm
nghèo bền vững
1.1.3.1. Chính sách
Chính sách là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống KT-XH. Tuy
nhiên, qua tìm hiểu các tài liệu, các nghiên cứu cho thấy khái niệm chính sách được

công cụ quản lý xã hội, thể hiện ý chí của Đảng, Nhà nước. Chính vì vậy nó là một
phương tiện quan trọng định hướng mọi hoạt động và hành vi của các chủ thể tham
gia hoạt động trong lĩnh vực xã hội theo những mục tiêu, phương hướng đã định
trước của Nhà nước. (ii). CSXH điều chỉnh các vấn đề xã hội, chức năng này thể
hiện ở chỗ, để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực
của nền kinh tế thị trường, Nhà nước sử dụng công cụ chính sách để điều chỉnh các
mối quan hệ xã hội, tác động vào quá trình phân phối thu nhập, tạo cơ hội phát triển
cho các đối tượng yếu thế, bị ảnh hưởng. (iii). CSXH là loại chính sách liên quan
đến con người và bao trùm mọi mặt cuộc sống của con người. Vì vậy, đặc trưng bao
trùm nhất của CSXH là lấy con người, các nhóm người trong cộng đồng làm đối
tượng tác động để hoàn thiện và phát triển toàn diện con người; lấy con người làm
trung tâm, coi trọng yếu tố con người. (iv). CSXH còn có chức năng thúc đẩy sự
phát triển.
15


Từ cách tiếp cận trên, khái niệm CSXH có thể hiểu là sự thể chế hóa, cụ thể hóa
các giải pháp của Nhà nước trong việc giải quyết vấn đề xã hội liên quan đến từng
nhóm người hay toàn bộ dân cư, trên cơ sở phù hợp với quan điểm, đường lối của
Đảng, nhằm hướng tới công bằng, tiến bộ xã hội và phát triển toàn diện con người.
1.1.3.3. Chính sách công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững
Trước hết, chính sách CTXH cũng là một CSXH. Bởi lẽ, như phân tích trên,
CTXH là một nghề và nghề CTXH cũng là một lĩnh vực hoạt động lao động mà
trong đó, nhờ được đào tạo, nhân viên CTXH có được những tri thức, những kỹ
năng, đạo đức nghề nghiệp để cung cấp các DV CTXH, đáp ứng được những nhu
cầu nâng cao năng lực, tăng cường chức năng xã hội của cá nhân, gia đình và cộng
đồng cần sự trợ giúp. Chính sách CTXH định hướng, điều chỉnh cho sự vận động,
phát triển của CTXH và suy cho cùng, chính sách CTXH là để phát triển con người
và thúc đẩy sự phát triển.
Vậy, chính sách CTXH là sự thể chế hóa, cụ thể hóa các giải pháp của Nhà

sách hỗ trợ trực tiếp là vì mục tiêu giảm nghèo.
Các nhóm chính sách tác động vào bản chất đa chiều của đói nghèo gồm:
nhóm chính sách tạo điều kiện cho đối tượng nghèo tăng thu nhập; nhóm chính sách
tạo điều kiện cho đối tượng nghèo tiếp cận các DV xã hội cơ bản; nhóm chính sách
giảm thiểu rủi ro và dễ bị tổn thương và nhóm chính sách tăng cường tiếng nói và
quyền lực cho người nghèo. Mục tiêu của các chính sách trong từng nhóm chính
sách này rất cụ thể, tác động đến một khía cạnh nào đó của đói nghèo. Tuy nhiên
trong mỗi nhóm chính sách có những chính sách tác động trực tiếp hoặc gián tiếp.
Mối quan hệ giữa chính sách GNBV với chính sách CTXH trong GNBV, thể
hiện ở một số điểm sau đây:
(i). Trong hoạch định và thực thi chính sách CTXH trong GNBV, chính sách
GNBV được xem xét như là những chủ trương, hành động của Nhà nước được thực
hiện qua các chương trình, DV liên quan đến đối tượng nghèo.
(ii). Chính sách GNBV là cơ sở, căn cứ pháp lý, là nguồn lực mà chính sách
CTXH trong GNBV phải sử dụng để hoàn thiện chính sách CTXH của mình nhằm
mục đích trợ giúp cho đối tượng nghèo.
(iii). Ta biết rằng, nhân viên CTXH trong GNBV tham gia vào quá trình
nghiên cứu, hoạch định cũng như thực thi chính sách GNBV. Họ có nhiệm vụ triển
khai và cung cấp các DV trợ giúp trên cơ sở các chính sách GNBV hiện có. Như
17


vậy, chính sách CTXH trong GNBV có vai trò chuyển tải, đưa chính sách GNBV
vào cuộc sống, góp phần quan trọng vào sự thành công của một CSGN cụ thể, giúp
CSGN đến được với đối tượng nghèo và phát huy tác dụng cao nhất.
(iv). Nhân viên CTXH trong GNBV còn tham gia vào việc đánh giá quá trình
thực hiện, tính phù hợp của chính sách GNBV. Do vậy, chính sách CTXH trong
GNBV là điều kiện, cơ sở cần thiết để các cơ quan chức năng hữu quan có thông tin
và nguồn dữ liệu quan trọng phục vụ cho quá trình điều chỉnh chính sách GNBV có
hiệu quả nhất.

Định hướng, điều chỉnh trong việc đào tạo nguồn nhân lực CTXH nói chung và
nguồn nhân lực CTXH đối với người nghèo nói riêng cả về trình độ đào tạo, kỹ
năng nghề, đạo đức nghề nghiệp, việc làm sau khi học nghề và cả đối tượng tiếp
xúc. Định hướng, điều chỉnh sự hình thành, củng cố, phát triển mạng lưới cơ sở DV
CTXH, hệ thống DV CTXH cho các đối tượng cần sự trợ giúp và người nghèo.
Đồng thời đảm bảo để nhân viên CTXH triển khai các cách tiếp cận, phương
pháp CTXH và chuyên nghiệp hóa DV CTXH trong cung cấp, kết nối DV xã hội,
thực hiện nhiệm vụ biện hộ, giáo dục, trị liệu, tư vấn, quản lý, điều phối theo các
trường hợp, làm việc theo nhóm và làm việc với cộng đồng nghèo.
1.2.3. Là một trong những điều kiện cần và đủ để thực hiện có hiệu quả CSGN
bền vững
Chính sách CTXH trong GNBV quy định và đảm bảo cho CTXH trong giảm
nghèo giúp cho đối tượng nghèo nâng cao năng lực giải quyết những công việc
nhằm đảm bảo ổn định đời sống, vươn lên thoát nghèo một cách bền vững mà họ
phải thực hiện. Sự hỗ trợ đó không chỉ giúp cho chính sách GNBV được thực hiện
đúng đối tượng nghèo, mà còn giúp cho họ có năng lực vươn lên thoát nghèo một
cách bền vững sau khi được chính sách GNBV tác động. Mặt khác, CTXH đối với
người nghèo tạo ra sự liên kết giữa người nghèo, hộ nghèo, cộng đồng nghèo với hệ
thống DV, tạo ra các cơ hội để đối tượng nghèo tiếp cận với hệ thống nguồn lực bao
gồm cả nguồn lực chính thức và nguồn lực không chính thức. Hơn thế nữa, CTXH
trong giảm nghèo góp phần cải thiện các hoạt động của hệ thống DV, nguồn lực đối
với đối tượng nghèo bằng những tác động hỗ trợ của mình, hoặc góp phần tạo điều
kiện để các nguồn lực có đầy đủ thông tin về người nghèo, hộ nghèo và cộng đồng
nghèo mà nguồn lực sẽ phục vụ.
Với ba khía cạnh phân tích trên là điều kiện cần. Điều kiện đủ để chính sách
19


CTXH trong GNBV góp phần quan trọng thực hiện có hiệu quả chính sách GNBV
thể hiện ở chỗ: Chính sách CTXH trong GNBV quy định và đảm bảo cho CTXH


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status