NHU CẦU TIN VÀ ĐẢM BẢO THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHO
NGƯỜI DÙNG TIN TẠI THƯ VIỆN VIỆN KINH TẾ
VÀ CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI
ThS. Nguyễn Thị Kim Dung*
Nhu cầu thông tin KH&CN là một trong những nhu cầu cơ bản của con người, xuất phát
từ lòng ham hiểu biết và khám phá thế giới khách quan. Nhu cầu thông tin KH&CN nói riêng,
nhu cầu tin nói chung còn là nguồn gốc, mục tiêu hướng tới của hoạt động TT-TV. Vì thế việc
đi sâu nghiên cứu nhu cầu tin và đảm bảo thông tin KH&CN cho người dùng tin là một việc làm
không thể thiếu đối với các cơ quan thông tin-thư viện nói chung, Thư viện Viện Kinh tế và
Chính trị Thế giới (KT&CTTG) nói riêng. Nghiên cứu nhu cầu tin là cơ sở để Thư viện hiểu
được người dùng tin của mình, giúp Thư viện xây dựng định hướng phát triển vốn tài liệu, xác
định phương pháp xử lý thông tin, hệ thống tra cứu tìm tin và tổ chức phục vụ người dùng tin
đạt hiệu quả. Từ nhận định đó, cán bộ thư viện có thể tác động giúp cho người dùng tin xây
dựng được những nhu cầu tin đúng đắn, hợp lý, phù hợp với yêu cầu của họ.
Với nhiệm vụ thu thập, bổ sung, xử lý và cung cấp tài liệu, thông tin về các lĩnh vực khoa
học cơ bản liên quan đến các vấn đề kinh tế, chính trị và quan hệ kinh tế quốc tế của thế giới
nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, học tập, giảng dạy của cán bộ trong và ngoài Viện
KT&CTTG, cán bộ cấp cao và sinh viên các trường đại học. Để hoàn thành tốt vai trò của mình
Thư viện Viện KT&CTTG cần phải đặt ra những kế hoạch phát triển mới trong hoạt động của
mình, nắm rõ nhu cầu tin của người dùng tin và đáp ứng tốt thông tin cho người dùng tin, đảm
bảo cung cấp thông tin luôn mới, kịp thời và chính xác.
1. Khái quát về Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới
Viện KT&CTTG trực thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam được thành lập theo
Quyết định số 96/HĐBT ngày 9/9/1983 của Hội đồng Bộ trưởng. Với tư cách là một trong
những cơ quan nghiên cứu hàng đầu của Chính phủ trong lĩnh vực kinh tế và chính trị thế giới,
Viện đã xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của mình là: “Nghiên cứu những vấn đề kinh tế thế
giới dưới giác độ của kinh tế chính trị học Mác - Lê nin, nhằm làm sáng tỏ những đặc điểm, quy
luật và cơ chế vận động của nền kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế, trên cơ sở đó đóng
góp những cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách kinh tế của Đảng và Nhà
nước; phục vụ việc nghiên cứu và giảng dạy về kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế ở
trong nước”.
- Kho 2: Kho tài liệu cũ là những loại sách, tạp chí, tư liệu cắt dán từ những năm 1990 trở
về trước và các sách tiếng Nga - nguồn tài liệu ít người sử dụng cũng được đưa vào trong kho
này. Kho cũ có 9.698 tài liệu bao gồm: Sách tiếng Việt: 4.493 cuốn; Sách tiếng Anh: 2.116
cuốn; Sách tiếng Nga: 1.537; Tạp chí: 1.212 cuốn; Tư liệu: 340 cặp ba dây
- Kho 3: Kho chứa tài liệu nội sinh có khoảng 400 đầu sách.
Ngoài ra Thư viện còn có 41 tài liệu ebook bằng ngôn ngữ tiếng Anh mới được bổ sung
năm 2009 từ Công ty Nam Hoàng, 230 sách, tạp chí điện tử toàn văn lưu giữ dưới file định dạng
pdf, file ảnh và file word.
3. Đặc điểm người dùng tin tại Thư viện Viện Kinh tế và Chính trị thế giới
Qua khảo sát và điều tra thực tế tại Thư viện Viện KT&CTTG tôi chia đối tượng phục vụ
chính của Thư viện thành 3 nhóm. Nhóm 1: Cán bộ nghiên cứu trong Viện; Nhóm 2: Cán bộ
nghiên cứu ngoài Viện; Nhóm 3: Sinh viên các trường đại học.
Nhóm 1: Cán bộ nghiên cứu trong Viện (chiếm 62%)
Nhóm người dùng tin này bao gồm: Cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu, và cán bộ văn
phòng của Viện.
- Nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu trong Viện là Ban lãnh đạo, các nhà khoa
học thuộc các phòng: quản lý khoa học & đào tạo; nghiên cứu các nước đang phát triển; nghiên
cứu an ninh chiến lược quốc tế; nghiên cứu chính trị quốc tế; nghiên cứu kinh tế quốc tế…của
Viện. Họ là những người có trình độ học vấn cao và được đào tạo có hệ thống về một lĩnh vực
nhất định. Phẩm chất tâm lý đặc biệt của nhóm đối tượng này là trung thực, nhạy bén, linh hoạt,
kiên trì và bền bỉ.
- Nhóm cán bộ văn phòng của Viện: là những người làm việc tại các Phòng biên tập - trị
sự, Phòng Hành chính tổng hợp, Thư viện. Các phòng này là những phòng có nhiệm vụ biên tập
thông tin, cung cấp thông tin…hỗ trợ cho các cán bộ trong Viện hoàn thành quá trình nghiên
cứu.
Nhóm 2: Cán bộ nghiên cứu ngoài Viện (chiếm 18%)
Nhóm người dùng tin này là các cán bộ nghiên cứu, các học viên cao học, nghiên cứu
sinh…họ đến từ các viện nghiên cứu thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, từ Viện nghiên
đúng đối tượng, có giá trị, có tính logic cao, thông tin phải mới, mang tính thời sự. Sách chuyên
khảo, báo và tạp chí khoa học là những loại tài liệu có giá trị thông tin khoa học cao thường
được nhóm người dùng tin này ưu tiên sử dụng; Ngoài ra họ cũng có nhu cầu sử dụng tài liệu
điện tử để cập nhật được thông tin nhanh chóng, kịp thời. Ngoài ngôn ngữ tiếng Việt, 100%
nhóm đối tượng này có nhu cầu sử dụng tài liệu bằng ngôn ngữ tiếng Anh. Nơi họ tìm tài liệu
không chỉ có Thư viện mà có nhiều nguồn khác nhau để họ tìm kiếm thông tin, nhưng Thư viện
vẫn là địa chỉ cần thiết nhất cho họ trong việc tìm kiếm tài liệu. Qua khảo sát thời gian dành cho
việc tìm kiếm tài liệu trong một ngày của nhóm đối tượng này, tôi có kết quả là 76% dành thời
gian từ 1-3h tìm kiếm thông tin tại Thư viện, 85% người dùng tin dành từ 3-5h tìm kiếm thông
tin tại nhà. Do đặc thù công việc của họ là nghiên cứu, mà để hoàn thành một công trình nghiên
cứu đòi hỏi lượng thời gian và công sức bỏ ra là rất lớn. Vì thế họ tìm kiếm thông tin không chỉ
ở trên Thư viện mà ngay tại nhà họ vẫn tiến hành tìm kiếm thông tin. Việc tìm kiếm thông tin tại
nhà sẽ giúp họ thu nhận được các nguồn thông tin khá là đa dạng và phong phú qua Internet, qua
các kênh truyền thanh, truyền hình…100% người dùng tin khi được hỏi đều trả lời là có nhu cầu
tìm tài liệu, điều này chứng tỏ nhu cầu tìm tin để hoàn thành công trình nghiên cứu của họ là rất
cao.
Với câu hỏi Bạn quan tâm đến thông tin thuộc lĩnh vực nào? Tôi có được kết quả như
sau: Kinh tế quốc tế 20%; Hội nhập kinh tế quốc tế 23%; Thương mại đầu tư quốc tế 10%; Tài
chính tiền tệ quốc tế 14%; Chính trị quốc tế 11%; An ninh và chiến lược quốc tế 15%; Thể chế
quốc tế 7%. Với số liệu này thì nhu cầu về Hội nhập kinh tế quốc tế chiếm tỉ lệ lớn nhất (23%),
có thể nói do việc hội nhập diễn ra ở tất cả các nước trên thế giới và đang có những biến đổi
mạnh mẽ, các mối quan hệ giữa các nước diễn ra phức tạp hơn không chỉ về kinh tế mà mặt
chính trị cũng đáng được quan tâm. Với thực tế đó nó cũng ảnh hưởng tới nhu cầu tin của người
dùng tin ở đây.
Nhu cầu tin còn thể hiện rất rõ trong các vấn đề họ quan tâm đó là về khu vực kinh tế mà
họ đang quan tâm chiếm khoảng 74% nhu cầu tin hiện nay. Trong đó thông tin về Các nền kinh
tế phát triển được quan tâm hàng đầu (34%). Đó là điều tất yếu mà hiện nay không chỉ Viện mà
nhiều ngành, nhiều lĩnh vực cũng rất quan tâm. Mục đích nghiên cứu vấn đề này để thấy rõ được
4.2.
Nhu cầu tin của nhóm người dùng tin là cán bộ nghiên cứu ngoài Viện
Nhóm đối tượng này như đã nói ở trên họ là các cán bộ nghiên cứu, các học viên, các
nghiên cứu sinh đang học và làm luận văn cao học, luận án tiến sĩ của các cơ sở đào tạo của của
các Viện thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam như: Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Đông Bắc
Á, Viện Nghiên cứu Châu Âu,…Vì thế họ cũng là những người dùng tin có trình độ học vấn
cao, nhóm người dùng tin này chiếm tỉ lệ thấp nhất 18% tổng số người dùng tin của Thư viện.
Nhóm người dùng tin này chỉ sử dụng Thư viện Viện KT&CTTG khi vấn đề nghiên cứu
của họ không được đáp ứng tại các Thư viện của Viện nơi họ công tác, hoặc thông tin họ cần
không thể tìm được ở các nguồn khác, vì thế khi họ tra cứu được thông tin mình cần qua các cơ
sở dữ liệu của mà Thư viện đưa lên mạng LAN, ngay lập tức họ sẽ tới thư viện đế thu thập
thông tin. Nên mức độ sử dụng Thư viện Viện KT&CTTG của họ là không thường xuyên. Tuy
nhiên khi được hỏi về thời gian dành cho việc tìm kiếm tài liệu trong một ngày của nhóm đối
tượng này, kết quả có 52% người dùng tin dành thời gian từ 1-3h tìm kiếm thông tin tại Thư
viện, 90% người dùng tin dành từ 3-5h tìm kiếm thông tin tại nhà.
Các lĩnh vực mà họ quan tâm trong thành phần vốn tài liệu mà Thư viện có: Kinh tế quốc
tế 22%; Hội nhập kinh tế quốc tế 22%; Tài chính tiền tệ quốc tế 18%; Thương mại đầu tư quốc
tế 10%; Chính trị quốc tế 12%; An ninh và chiến lược quốc tế 8%; Thể chế quốc tế 8%. Với số
liệu này chúng ta có thể thấy hai lĩnh vực mà nhóm người dùng tin này quan tâm nhiều nhất là
Kinh tế quốc tế ; Hội nhập kinh tế quốc tế (22%). Lĩnh vực họ ít quan tâm nhất là An ninh và
chiến lược quốc tế; Thể chế quốc tế (8%).
Khi được hỏi về khu vực kinh tế mà họ đang quan tâm thì có tới 36% người dùng tin trả
lời là họ quan tâm đến thông tin về Các nền kinh tế phát triển; Các nền kinh tế đang phát triển là
30% và các vấn đề liên quan đến Tiểu vùng Mê kông mở rộng cũng được tìm kiếm 22%. Các
nền kinh tế chuyển đổi là 12%.
Với nhóm đối tượng này thì có tới 85% người dùng tin sử dụng tài liệu điện tử, đó là các
eBooks (sách điện tử) được Thư viện mua trong 2 năm trở lại đây, đã được thư viện xử lý và đưa
ra phục vụ toàn văn, người dùng tin có thể tra cứu trực tiếp qua mạng LAN, tìm kiếm trong cơ
Với kết quả điều tra thu được có thể thấy nhu cầu tin của nhóm người dùng tin là sinh viên về
Hội nhập kinh tế quốc tế chiếm 31%, lĩnh vực về Tài chính tiền tệ quốc tế cũng rất được quan
tâm chiếm 28%. Nhìn chung do sinh viên đến Thư viện từ rất nhiều trường Đại học khác nhau
nên các lĩnh vực của mỗi sinh viên ở từng trường cũng có sự khác nhau; Ngôn ngữ được sinh
viên sử dụng để tìm kiếm thông tin và đọc tài liệu chủ yếu vẫn là tiếng Việt (100%) và tiếng
Anh (10%), còn ngôn ngữ khác hầu như không được sử dụng; Lượng thời gian mà sinh viên
dành cho việc lên Thư viện là khá lớn khoảng 61% dành từ 1-3h để sử dụng thư viện, và thời
gian tìm kiếm tài liệu ở nhà cũng được sinh viên tận dụng để có thể tìm thấy tài liệu phù hợp cho
mình, điều này cũng phản ánh việc học tập của họ khá nghiêm túc.
Tóm lại qua việc thống kê và phản ánh nhu cầu tin của ba nhóm người dùng tin là cán bộ
nghiên cứu trong Viện, cán bộ nghiên cứu ngoài Viện và sinh viên tại Thư viện Viện
KT&CTTG chúng ta có thể thấy được rằng nhu cầu thông tin KH&CN của người dùng tin ở đây
tương đối cao. Các vấn đề được quan tâm phong phú và đa dạng điều đó là rất phù hợp với sự
phát triển của kinh tế hiện nay. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để Thư viện có thể đảm bảo yêu cầu
mà người dùng tin đưa ra nhằm phục vụ tốt nhu cầu tin của họ.
5. Đảm bảo thông tin khoa học và công nghệ cho người dùng tin tại Thư viện Viện Kinh
tế và Chính trị Thế giới
Khi nghiên cứu được nhu cầu thông tin KH&CN của người dùng tin tại Thư viện Viện
KT&CTTG, chúng ta cần tìm hiểu việc đảm bảo thông tin KH&CN để cung cấp cho người dùng
tin ở đây có đầy đủ, kịp thời, nhanh chóng và chính xác.
5.1.
Đảm bảo về vốn tài liệu
Thư viện tiến hành sưu tầm, thu thập tài liệu thông qua nguồn bổ sung từ các nhà sách tư
nhân, Công ty Phát hành Báo chí TƯ, Xunhabasa - Công ty xuất nhập khẩu sách báo…và các
nguồn trao đổi, biếu tặng, lưu chiểu. Để hoạt động bổ sung không lãng phí, đáp ứng tốt nhu cầu
của người sử dụng, trước khi tiến hành bổ sung, Thư viện thường gửi các danh mục sách mới
người dùng tin. Thư viện hiện tổ chức 2 hệ thống mục lục tra cứu là mục lục chữ cái tên sách,
tên tác giả và mục lục chủ đề. Bên cạnh đó người dùng tin có thể tra cứu tài liệu trên máy tính
qua các CSDL Thư viện xây dựng. Khi khảo sát thực tế thì trên 90% người dùng tin không có
nhu cầu tra tìm tài liệu theo hệ thống mục lục của Viện, họ thường tra cứu trên các cơ sở dữ liệu
(CSDL) của Thư viện, vì thế Thư viện không còn phục vụ người dùng tin tìm tin trên hệ thống
mục lục nữa. Các CSDL mà Thư viện Viện đã xây dựng để tra cứu là: CSDL Sách tiếng Việt,
tiếng Anh; CSDL Sách tiếng Nga; CSDL bài trích báo - tạp chí…Ngoài ra hàng năm Thư viện
còn tiến hành xây dựng danh mục thông báo sách mới và thư mục chuyên đề phục vụ người
dùng tin tra cứu nhanh, hiệu quả.
5.3.
Công tác phục vụ người dùng tin
Hoạt động tổ chức phục vụ người dùng tin được tiến hành tại Phòng đọc của Thư viện.
Phòng đọc ở đây được chia làm 2 phòng cụ thể đó là Phòng đọc sách, báo, tạp chí và Phòng đọc
tài liệu nội sinh. Tại Thư viện chỉ phục vụ bạn đọc tại chỗ dưới hình thức kho kín. Chỉ có cán bộ
trong Viện mới được phép mượn tài liệu về nhà với số lượng tối đa là 5 tài liệu/ tháng và được
gia hạn thêm với điều kiện phải mang tài liệu đến Thư viện trong thời hạn quy định và tài liệu
đó chưa có bạn đọc khác yêu cầu; Bạn đọc ngoài Viện chỉ được mượn và đọc tài liệu tại chỗ.
Mỗi lần mượn tối đa 2 tài liệu, nếu muốn mượn tiếp phải trả tài liệu đã mượn; Nếu có nhu cầu
photo, bạn đọc phải liên hệ Thủ thư để đăng ký pho to. Đối với bạn đọc trong Viện họ không
cần phải có thẻ thư viện vì mỗi cán bộ nghiên cứu đã được cấp một Sổ mượn tài liệu, cán bộ
ngoài Viện có thể dùng giấy giới thiệu, chứng minh thư để sử dụng thư viện.
Bộ phận phục vụ luôn đảm bảo phục vụ tài liệu nhanh nhất cho bạn đọc, hạn chế tối đa
việc từ chối tài liệu, thái độ phục vụ ân cần, nhiệt tình, niềm nở, thể hiện người cán bộ thư viện
có văn hoá, có trình độ trong môi trường thư viện hiện đại.
5.4.
Một số nhận xét và đánh giá
Công tác phục vụ bạn đọc: Tuy là Thư viện nhỏ nhưng các phòng ban vẫn được chia cụ
thể, đặc biệt ở đây có hai phòng đọc nhằm phục vụ cho việc đọc tài liệu tại chỗ của người
dùng tin. Các phòng ban phần nào đã làm tốt các nhiệm vụ của mình trong việc giải quyết
nhu cầu tin của người dùng tin trong thời gian qua. Thư viện đã nối mạng toàn bộ hệ thống
máy tính của Thư viện nhằm phục vụ tốt hơn cho cả cán bộ và người dùng tin.
5.4.2. Điểm yếu
Bên cạnh những kết quả mà Thư viện Viện KT&CTTG đã đạt được trong thời gian qua
thì vẫn còn một số hạn chế cần phải khắc phục trong thời gian tới nhằm nâng cao được chất
lượng phục vụ người dùng tin tại đây và đảm bảo nguồn thông tin cho họ.
Vốn tài liệu: Việc xây dựng vốn tài liệu ở Thư viện Viện KT&CTTG còn phụ thuộc
nhiều vào nguồn kinh phí được cấp, hiện tại kinh phí để mua sách, báo của Thư viện chưa lớn,
đặc biệt từ năm 2008 đến nay, kinh phí cấp cho việc bổ sung tài liệu của Thư viện giảm xuống
hơn 1 nửa. Nếu như năm 2007 Thư viện được cấp 200triệu để bổ sung tài liệu tiếng Việt, thì
năm 2008, 2009 số kinh phí này chỉ còn 90triệu, đối với báo-tạp chí kinh phí được cấp là
35triệu, tài liệu điện từ năm 2008 (35triệu), 2009 (40triệu). Việc cắt giảm kinh phí bổ sung của
Thư viện được giải thích là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam sẽ tiến hành bổ sung tập trung cho
tất cả các Viện thuộc Viện để tránh trùng lặp, lãng phí kinh phí. Tuy nhiên công việc này từ năm
2008 đến nay vẫn chưa được tiến hành. Vì thế tài liệu mua về bị hạn chế nhiều. Số lượng vốn tài
liệu tiếng nước ngoài được bổ sung phần lớn là do các cơ quan, tổ chức nước ngoài biếu tặng
như World Bank (Ngân hàng thế giới), IMF (Quỹ tiền tệ quốc tế), tuy nhiên nguồn tài liệu tặng
biếu chủ yếu là báo, tạp chí còn sách thì hầu như là không có. Và tài liệu dạng sách bằng tiếng
nước ngoài lại có giá khá cao vì thế mà số lượng tài liệu mua về được rất ít.
Với tổng số vốn tài liệu hiện có tại Thư viện thì không thể đáp ứng được hết nhu cầu của
người dùng tin, đặc biệt với số lượng người dùng tin ngày càng tăng như hiện nay. Vì kinh phí
đầu tư cho việc mua tài liệu nước ngoài ít đã làm hạn chế trong việc mua loại tài liệu này, hầu
như tài liệu dạng sách ở đây chỉ mua được một bản duy nhất vì thế ảnh hưởng không nhỏ đến độ
tác phục vụ người dùng tin, đôi khi do yếu tố khách quan bên ngoài ảnh hưởng tới công tác phục
vụ chứ không chỉ do lỗi của cán bộ Thư viện.
Để khắc phục những hạn chế trên tôi xin có một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả trong
việc đáp ứng nhu cầu tin và đảm bảo thông tin KH&CN cho người dùng tin tại Thư viện Viện
KT&CTTG.
5.5.
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc đáp ứng nhu cầu tin và đảm
bảo thông tin KH&CN cho người dùng tin tại Thư viện Viện KT&VTTG
Tăng cường vốn tài liệu cho Thư viện
Kể từ khi Viện được đổi tên từ Viện KT&CTTG thì các tài liệu có liên quan đến vấn đề
chính trị thực sự chưa nhiều và chưa đáp ứng được nhu cầu tin của người dùng tin một cách đầy
đủ nhất. Nên trong thời gian tới Viện cũng như Thư viện cần phải có kế hoạch đầu tư thêm các
dạng tài liệu có liên quan đến vấn đề chính trị. Vì hai mảng kinh tế, chính trị luôn đi song hành
cùng nhau, có tác động qua lại và khi cung cấp đầy đủ các loại tài liệu này nó sẽ giúp cho người
dùng tin có cách nhìn tổng quát hơn, chính xác hơn về một vấn đề mà họ quan tâm.
Làm thế nào để có đủ tài liệu có giá trị nghiên cứu phục vụ người dùng tin trong điều
kiện kinh phí không phải là quá lớn là vấn đề rất được cán bộ trong Viện quan tâm. Vì thế mà
phòng nghiệp vụ cần phải cân nhắc kỹ lưỡng làm sao cho việc bổ sung mang lại hiệu quả cao
nhất, tránh lãng phí, đồng thời phải đảm bảo tính cập nhật của tài liệu. Vì thế cán bộ thư viện
cần phải làm được những việc sau: Xác định rõ diện bổ sung bằng cách nắm vững yêu cầu và
nhiệm vụ của Viện trong giai đoạn mới, kết hợp đi sâu nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng
tin. Xác định rõ được nhu cầu tin trước mắt và lâu dài để quyết định nội dung và hình thức tài
liệu bổ sung. Khai thác tốt nguồn kinh phí được cấp từ mọi phía để đảm bảo tài liệu bổ sung hợp
lý nhất. Tăng cường bổ sung các loại tài liệu nước ngoài vì đặc trưng của Thư viện Viện
KT&CTTG này là các dạng tài liệu nước ngoài càng nhiều càng tốt, do người dùng tin ở đây có
khả năng đọc tài liệu nước ngoài tốt. Hơn nữa tính mới của tài liệu khá cao, nếu thông qua dịch
thì vấn đề lỗi thời thông tin là khá lớn. Tuy nhiên, tài liệu nước ngoài thường có kinh phí rất cao
nên Viện cần có chính sách phù hợp để phát triển được vốn tài liệu này.
chiếu sáng, chỗ ngồi hợp lý nhất cho người dùng tin. Trong những năm gần đây nhu cầu sử dụng
Thư viện để tra tìm, khai thác thông tin của người dùng tin ngày càng tăng cao. Vì thế Thư viện
cần trang bị máy tính có cấu hình cao, và kèm theo nó là chất lượng đường truyền mạng Internet
tốc độ cao, ổn định để người dùng tin có thể khai thác thông tin một cách hiệu quả nhất.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giới thiệu sách, báo
Trong thời gian qua Thư viện đã có sự quan tâm đúng mức tới công tác tuyên truyền, giới
thiệu sách báo nên đã thu hút được đông đảo người dùng tin đến với Thư viện. Nhưng công tác
này chưa thực sự hiệu quả cao, vì thực tế lượng sách báo mới được bổ sung về Viện khá lớn
nhưng đến tháng 5/2008 mới bắt đầu đưa hình thức này vào thực tế là hình thức giới thiệu sách
theo tháng. Còn trước đó đều giới thiệu sách mới theo quý và năm. Như vậy sẽ không cung cấp
hết thông tin về tài liệu mới của Thư viện.
Thư viện cần tổ chức các buổi triển lãm sách theo chuyên đề hay triển lãm nhân dịp các
ngày lễ lớn hay các sự kiện kinh tế - chính trị nổi bật nhất.
Kết luận: Trong hoạt động nghiên cứu khoa học Viện KT&CTTG đã đạt được rất nhiều
thành tựu, có thể nói Viện xứng đáng là một cơ quan nghiên cứu hàng đầu ở Việt Nam về kinh
tế, chính trị thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế. Cùng với sự hình thành và phát triển của Viện
KT&CTTG, Thư viện đã đóng góp vai trò phục vụ hỗ trợ tích cực cho các hoạt động nghiên cứu
trong Viện và quảng bá thông tin đến đông đảo công chúng có chọn lọc bên ngoài.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nghị định 159/2004/NĐ-CP ngày 31-8-2004 của Chính phủ về Hoạt động thông tin khoa
học & công nghệ.
2.
Webiste của Viện Kinh tế & Chính trị thế giới