BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Vân
KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG
HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN NĂM THỨ NHẤT
TRƯỜNG SĨ QUAN LỤC QUÂN 2
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Vân
KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG
HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN NĂM THỨ NHẤT
TRƯỜNG SĨ QUAN LỤC QUÂN 2
Chuyên ngành
:
Tâm lý học
Mã số
*
Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh;
*
Phòng Sau đại học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh;
*
Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh;
*
Các Thầy Cô giáo Phòng sau đại học và Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh;
Ban Giám hiệu, Lãnh đạo, Chỉ huy các đơn vị trực thuộc Trường SQLQ2 (Trường
*
Đại học Nguyễn Huệ);
Các Thầy Cô giáo, Cán bộ quản lý và các học viên năm thứ nhất năm học 2012-2013
*
Trường SQLQ2;
*
PGS.TS. Đoàn Văn Điều, người hướng dẫn khoa học;
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 6
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................. 6
2. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................................... 8
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................................................... 8
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu .............................................................................. 8
5. Giả thuyết khoa học ........................................................................................................ 8
6. Giới hạn của đề tài .......................................................................................................... 8
7. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................... 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HOẠT
ĐỘNG HỌC TẬP ...................................................................................................... 11
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................................ 11
1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài ...........................................................................11
1.1.2. Những nghiên cứu ở trong nước ...........................................................................15
1.2. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu........................................................................ 21
1.2.1. Khó khăn ...............................................................................................................21
1.2.2. Khó khăn tâm lý ....................................................................................................22
1.2.3. Hoạt động và hoạt động học tập ............................................................................25
1.2.4. Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập .............................................................29
1.3. Hoạt động học tập và khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên
năm thứ nhất Trường SQLQ2. ........................................................................................ 31
1.3.1. Hoạt động học tập và môi trường sinh hoạt của học viên trong môi trường quân
sự .....................................................................................................................................31
1.3.2. Một số đặc điểm của học viên năm thứ nhất trường Quân sự...............................34
1.3.3. Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên ........................................36
1.3.4. Nguyên nhân gây ra những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên
.........................................................................................................................................39
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA HỌC VIÊN NĂM
THỨ NHẤT TRƯỜNG SỸ QUAN LỤC QUÂN 2 ................................................ 46
: Chính trị Quốc gia
ĐHQG
: Đại học Quốc gia
ĐLTC
: Độ lệch tiêu chuẩn
ĐUQSTW
: Đảng ủy Quân sự Trung ương.
GV-CBQL
: Giảng viên, cán bộ quản lý
HV
: Học viên
N
: Số khách thể
NQ
: Nghị quyết
Trong thực tiễn, để tồn tại và phát triển con người phải tiến hành hoạt động. Khi tiến hành
hoạt động con người sẽ gặp phải những khó khăn ở những mức độ khác nhau. Trong những
những khó khăn đó có khó khăn tâm lý. Khi gặp khó khăn, con người thường rơi vào trạng
thái chán nản, bực bội, buông xuôi, mệt mỏi cả về thể chất lẫn tinh thần từ đó ít nhiều ảnh
hưởng tới kết quả của hoạt động. Có rất nhiều hoạt động khác nhau trong đó có hoạt động
học tập và trong những khó khăn mà con người gặp phải thì có khó khăn tâm lý trong hoạt
động học tập. Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập xảy ra với các chủ thể khác nhau
trong đó có học viên năm thứ nhất các trường trong quân đội.
Hiện nay, trong đội ngũ sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, lực lượng sĩ quan trẻ
ngày càng chiếm tỷ lệ cao, đây được xem là xu thế tất yếu của quá trình thực hiện trẻ hóa
cán bộ. Họ chính là lực lượng lòng cốt, bảo đảm sự chuyển tiếp liên lục, vững chắc giữa các
thế hệ cán bộ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng quân đội trong thời kỳ mới. Đội ngũ sĩ
quan trẻ của quân đội ta được trưởng thành trong sự nghiệp đổi mới đất nước, được tuyển
chọn tương đối chặt chẽ, được đào tạo cơ bản, toàn diện, có sức khỏe, có trình độ, phẩm
chất và năng lực chuyên môn từng bước được hoàn thiện, đã đảm nhận khá tốt chức trách,
nhiệm vụ được giao. Nghị quyết 94/ĐUQSTƯ đã đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ quân
đội, trong đó có đội ngũ sĩ quan trẻ là: “Đội ngũ cán bộ luôn trung thành tuyệt đối với Tổ
quốc, với Đảng, với nhân dân; có bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý thức cảnh giác, tinh
thần trách nhiệm cao, khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống.
Trình độ, kiến thức và năng lực lãnh đạo chỉ huy, trình độ chuyên môn kỹ thuật nghiệp vụ
được nâng cao. Đại bộ phận cán bộ giữ gìn được phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức
tổ chức kỷ luật và lối sống trong sạch lành mạnh”[10]. Đội ngũ cán bộ sĩ quan này được đào
tạo từ nhiều trường trong quân đội, trong đó phải kể đến một ngôi trường lớn có bề dày lịch
sử là Trường sĩ quan Lục quân 2.
Trường sĩ quan Lục quân 2 (SQLQ2) là trung tâm đào tạo sĩ quan chỉ huy-tham mưu
cấp phân đội, bậc đại học ở khu vực phía Nam, là nơi cung cấp cán bộ chỉ huy binh chủng
hợp thành cấp phân đội cho các đơn vị trong toàn quân. Từ ngày thành lập, nhà trường đã
đào tạo được lực lượng sĩ quan đông đảo ở các cấp học, bậc học khác nhau, đáp ứng được
6
học Tâm lý học.
7
2. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát thực trạng khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên năm thứ
nhất Trường SQLQ2 để đề xuất một số biện pháp nhằm giảm bớt những khó khăn tâm lý đó
cho học viên.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Khái quát, hệ thống hóa các tài liệu làm cơ sở lý luận cho đề tài.
3.2. Khảo sát thực trạng khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên năm thứ
nhất Trường SQLQ2.
3.3. Đề xuất một số biện pháp giúp học viên giảm bớt những khó khăn tâm lý đó.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên năm thứ nhất đào tạo sĩ quan
tại Trường SQLQ2.
4.2. Khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: 280 học viên năm thứ nhất Trường SQLQ2 và 200 giảng viên
và cán bộ quản lý nhóm học viên nêu trên của Trường SQLQ2.
5. Giả thuyết khoa học
- Đa số học viên năm thứ nhất Trường SQLQ2 gặp một số khó khăn tâm lý trong hoạt
động học tập. Các khó khăn tâm lý này có nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách
quan.
- Nếu hiểu rõ những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập này thì sẽ giúp các học
viên học tập tốt hơn.
pháp sau:
7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Mục đích: khái quát hóa, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản, trên cơ sở đó xây
dựng các bảng hỏi.
Yêu cầu: Đọc tài liệu, tham khảo một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề
tài, tìm ra những cơ sở nghiên cứu.
7.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
* Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích: Đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài. Chúng tôi xây dựng hai
bảng hỏi cho học viên và GV-CBQL đối tượng học viên đó để tìm hiểu một số khó khăn
tâm lý trong hoạt động học tập của học viên năm thứ nhất và nguyên nhân gây ra khó khăn
tâm lý đó.
9
Yêu cầu: Dựa trên cơ sở lý luận của đề tài và các phương pháp luận để xây dựng bảng
hỏi phù hợp với mục đích yêu cầu. Bảng hỏi được thử nghiệm trước khi điều tra chính thức
trên khách thể chính và khách thể bổ trợ.
* Phương pháp thống kê toán học
Mục đích: Sử dụng phương pháp thống kê toán học nhằm làm rõ hơn các giả thuyết
nghiên cứu
Yêu cầu: Sử dụng phần mềm SPSS for Window, phiên bản 11.5 để xử lý thống kê:
tính tần số, tỷ lệ phần trăm, trị số trung bình, độ lệch chuẩn làm cơ sở để bình luận số liệu
thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG
HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
trên cũng chỉ ra rằng: mức độ khó khăn trong công tác của người giáo viên liên quan đến
trình độ nghiệp vụ, thâm niên công tác, sự chuẩn bị bài giảng trước khi lên tiết học. Và để
khắc phục những khó khăn phải đồng thời có sự vận hành của cả hệ thống giáo dục như: có
sự cải cách giáo dục, tổ chức hệ thống trường, lớp đến tất cả các mặt khác nữa; các ngành
các cấp cũng cần tăng cường công tác giáo dục trẻ tuổi mầm non; các ngành công nghiệp
nhẹ chú ý trong việc sản xuất đồ chơi, đồ dùng, trang thiết bị phụ trách công tác giảng dạy
và học mầm non; việc phát hành báo chí, phim ảnh, sân khấu, tuyên truyền qua hệ thống
báo đài phục vụ công tác mầm non; đẩy mạnh việc kết hợp giữa nhà trường, gia đình và
công tác tổ chức xã hội trong việc giáo dục trẻ [31].
Các tác giả đã nêu ra một loạt các yếu tố gây khó khăn cho quá trình giao tiếp nhưng
cụ thể khó khăn tâm lý trong giao tiếp là gì và cách phân loại nó như thế nào thì các công
trình này chưa đề cập đến [17].
Nhà tâm lý học Pháp Bianka Zazzo, cùng các cộng sự với công trình nghiên cứu:
“Bước chuyển lớn từ mẫu giáo lên lớp một” đã góp phần quan trọng làm sáng tỏ thêm vấn
đề khó khăn của học sinh lớp một ở nước Pháp. Xuất phát điểm của Bianka Zazzo là việc ở
Pháp hàng năm có khoảng 20% học sinh phải lưu ban. Tỷ lệ này đã tồn tại nhiều năm, mặc
dù ngành giáo dục Pháp đã có nhiều biện pháp giải quyết nhưng chưa có hiệu quả thực sự.
Theo nhóm tác giả, tình trạng này có nhiều nguyên nhân. Trong đó một số học sinh lớp 1
chưa thích ứng tốt và gặp nhiều khó khăn về tâm lý ở môi trường lớp một là nguyên nhân
quan trọng. Nghiên cứu đã chỉ ra “khó khăn tâm lý lớn nhất mà trẻ gặp phải đã cản trở sự
thích ứng với hoạt động học tập của trẻ là sự thay đổi môi trường hoạt động một cách triệt
để”, gọi là chuyển dạng hoạt động chủ đạo. Các tác giả chỉ ra rằng: ở lớp mẫu giáo trẻ lấy
hoạt động vui chơi làm chủ đạo, vừa học vừa chơi, hoạt động đa dạng, tính tự do tùy hứng
cá nhân nặng hơn tính chỉ đạo của giáo viên. Bước sang lớp một, hoạt động học tập là chủ
đạo, học sinh phải nghiêm chỉnh thực hiện sự chỉ đạo chặt chẽ của giáo viên, theo nguyên
tắc lớp học. Vì thế, trẻ nào vượt qua được khó khăn này thì sẽ học tốt, còn không vượt qua
được thì sẽ chán học, kết quả học tập không cao. Công trình này ít giải quyết các vấn đề lý
luận mà nhằm vào giải quyết các mặt thực tiễn của vấn đề và cũng chưa xác định được khái
niệm khó khăn tâm lý [41, tr.19].
ứng xã hội là quá trình thích nghi tích cực của cá nhân hoặc tập thể (lớp, nhóm) với các điều
kiện vật chất, các tiêu chuẩn và giá trị được xác định của môi trường xã hội. Trong đó, cá
nhân, tập thể đó phải nắm được các tiêu chuẩn và giá trị của môi trường trong quá trình xã
hội hóa, cũng như trong quá trình thay đổi và cải tạo môi trường cho phù hợp với điều kiện
và mục đích mới của hoạt động. Nghiên cứu khó khăn tâm lý trẻ em khi vào lớp một ông đã
chia thành: Những khó khăn liên quan đến đặc điểm chế độ học tập mới; Những khó khăn
trong việc thiết lập mối quan hệ giao tiếp mới với thầy cô giáo và bạn bè; Khó khăn với việc
thích nghi với hoạt động mới. Lúc đầu trẻ được sự chuẩn bị của gia đình, nhà trường và xã
13
hội nên có tâm lý vui thích và sẵn sàng đi học, về sau hứng thú học tập giảm dần và trẻ chán
học. Tác giả có đề cập đến những nguyên nhân dẫn đến khó khăn và ảnh hưởng của những
khó khăn nêu trên đến đời sống của trẻ, và đề xuất một số biện pháp giải quyết khó khăn
cho trẻ. Tuy nhiên khách thể nghiên cứu vẫn chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu học sinh lớp
một.[21].
Theo nhà tâm lý học Mauricé Deberse trong công trình nghiên cứu khó khăn tâm lý
của trẻ đã chỉ ra rằng: đứng trước ngưỡng cửa lớp một, trẻ em gặp rất nhiều khó khăn tâm
lý. Điều này đã ảnh hưởng đến sự thích ứng với hoạt động học tập, làm cho trẻ sợ học,
không muốn tới trường và kết quả học tập không cao.
Ballard và Clauchy (1985) đã chỉ ra những khó khăn tâm lý trong quá trình học tập của
từng sinh viên Châu Á khi học tại các trường Đại học của Úc. Hai tác giả đã khẳng định:
sinh viên đến từ các nền văn hóa khác nhau thường đặt ra các mục tiêu khác nhau trong cách
nghĩ và cách học của họ. Hầu hết sinh viên nghĩ và học theo cách mà họ đã được đào tạo ở
trường phổ thông và đại học vì vậy họ có thể thành công ở môi trường và đất nước của họ
nhưng lại gặp thất bại ở đất nước khác, môi trường học tập khác. Các tác giả kết luận: sinh
viên cần phải có một sự chuyển biến lớn giữa các nền văn hóa, kiến thức khác nhau để thích
ứng với môi trường học tập mới [50].
Vào năm 1986, tác giả G.M. Anđreeva với việc tiến hành phân tích các chức năng
thông tin của quá trình giao tiếp ở con người đã nhận thấy ở điều kiện trao đổi thông tin của
người, đặc biệt trong hoạt động học tập. Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập là một
hiện tượng tâm lý phức tạp đã được nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm nghiên cứu
và đã có những đóng góp nhất định trong việc phát hiện và nêu ra một số khó khăn tâm lý;
một số nguyên nhân của những khó khăn đó. Tuy nhiên, khách thể nghiên cứu còn khu trú
chủ yếu ở giáo viên mầm non và trẻ chuẩn bị vào lớp một.
1.1.2. Những nghiên cứu ở trong nước
Khó khăn tâm lý nói chung và khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập nói riêng cũng
đã được một số nhà nghiên cứu về tâm lý học, giáo dục học trong nước quan tâm nghiên
cứu nhưng chưa nhiều, khách thể nghiên cứu còn hạn chế. Một số tác giả tiêu biểu nghiên
cứu về lĩnh vực này có thể kể như Trần Trọng Thủy, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Thị Nhất,
Phạm Thị Đức, Vũ Thị Nho.
Nguyễn Khắc Viện trong tác phẩm “Nỗi khổ của con em chúng ta” đã thống kê ra
những khó khăn tâm lý mà học sinh lớp một gặp phải như sau:
- Trẻ phải giữ kỹ luật trong lớp học, phải ngồi yên cả tiết, cả buổi, chịu áp lực, gò bó.
Vì thế mà khi hết giờ học, trẻ chạy ùa ra sân la ó, chạy đuổi, xô đẩy nhau.
15
- Trẻ phải học một chương trình nặng hơn so với mẫu giáo, thời gian học chiếm hầu
hết thời gian của trẻ. Vì thế trẻ ít được chơi nên càng “thèm” được chơi hơn.
- Trẻ ít được bố mẹ vỗ về, âu yếm hơn trước. Trẻ luôn chịu sự kiểm tra, đánh giá của
bố mẹ. Bố mẹ đặt quá nhiều kỳ vọng vào con cái, buộc chúng phải đạt được kết quả học tập
nhiều khi vượt quá sức của chúng. Kết quả là trẻ chịu đựng áp lực rất lớn khi đi học.
Ở đây, tác giả đề cập tới một số khó khăn về chế độ học tập, giao tiếp với cô giáo và
gia đình nhưng chỉ mới dừng lại ở mức độ quan sát, định tính chứ chưa có số liệu mang tính
định lượng, đồng thời tác giả chưa đưa ra biện pháp tháo gỡ cụ thể [53].
Nhà giáo dục Nguyễn Thị Nhất trong công trình nghiên cứu “sáu tuổi vào lớp một” đã
phát hiện ra nhiều khó khăn tâm lý mà trẻ lớp 1 phải vượt qua [33]. Tác giả cho rằng “trong
quá trình lớn lên của trẻ em, có những bước ngoặt chuyển từ giai đoạn này sang một giai
phải là: hoàn cảnh giao tiếp của học sinh miền núi bị hạn chế; vốn từ ngữ của học sinh miền
núi còn thiếu và yếu; năng lực cảm thụ một câu, một đoạn thơ yếu. Theo tác giả, nguyên
nhân dẫn đến tình trạng này là do tầm văn hóa, vốn sống, vốn hiểu biết của học sinh còn hạn
chế. Do vậy để nâng cao cảm thụ văn học ở sinh viên thì trước hết phải nâng cao tầm văn
hóa của học sinh lên, cần mở rộng tầm hiểu biết cuộc sống, xã hội cho học sinh. Những hoạt
động ngoại khóa, thăm quan, du lịch, câu lạc bộ văn học… là những hoạt động rất bổ ích
đối với học sinh [40].
Cùng năm 1998, nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Chiên với đề tài “Khắc phục khó
khăn của sinh viên khi sử dụng ngôn ngữ hóa học” đã chỉ ra một số khó khăn của sinh viên
dân tộc khoa hóa học trường Đại học Sư phạm như chưa hiểu hết ý nghĩa của một số thuật
ngữ, khái niệm trong hóa học; chưa nắm chắc cách gọi tên hợp chất vô cơ. Đồng thời tác giả
cũng chỉ ra những nguyên nhân của những khó khăn này [8].
Tác giả Lê Sĩ Khôi với đề tài “Nghiên cứu một số trở ngại tâm lý trong xử lý tình
huống sư phạm của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình” đã nghiên cứu một cách
khá hệ thống, sâu sắc, toàn diện về trở ngại tâm lý của sinh viên sư phạm trong giao tiếp.
Tác giả Lê Sĩ Khôi đi từ góc độ lý luận đến thực tiễn, chỉ ra khái niệm cũng như bản chất
của trở ngại tâm lý trong giao tiếp đồng thời chỉ rõ những nguyên nhân và biện pháp khắc
phục chúng [20].
Tác giả Vũ Thị Nho cùng nhóm nghiên cứu đã nghiên cứu đề tài cấp Bộ “Sự thích
nghi với hoạt động học tập của học sinh tiểu học”. Trong đó, tác giả đã phân tích nội dung
sự thích nghi với hoạt động học tập ở học sinh đầu bậc tiểu học. Phân tích hiện trạng sự
thích nghi với hoạt động học tập của học sinh đầu bậc tiểu học, những yếu tố ảnh hưởng chi
phối về nó, đề xuất một số biện pháp nhằm giúp trẻ tiểu học nhanh chóng thích nghi với
hoạt động học tập. Cụ thể, tác giả đã chỉ ra ảnh hưởng của giáo dục mẫu giáo đến khả năng
thích ứng với học tập của học sinh đầu tiểu học. Tác giả đã kết luận rằng: Những trẻ được
17
đến lớp mẫu giáo sẽ thích ứng tốt hơn với lớp một; các khó khăn ở lớp một ít hơn những
học sinh không được học qua lớp mẫu giáo [34].
18