BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phạm Thị Kim Thoa
TỰ Ý THỨC CỦA SINH VIÊN TẠI
MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phạm Thị Kim Thoa
TỰ Ý THỨC CỦA SINH VIÊN TẠI
MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : TÂM LÝ HỌC
Mã số
: 60 31 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÊ XUÂN HỒNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
Người cảm ơn
PHẠM THỊ KIM THOA
2
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT .................................................................................. 5
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 6
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................ 6
2. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................................... 7
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu .............................................................................. 7
4. Giả thuyết nghiên cứu .................................................................................................... 7
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................................................... 7
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu ................................................................................... 8
7. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................... 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN .............................................................................. 10
1.1.1. Ở nước ngoài ......................................................................................................... 10
1.1.2. Ở Việt Nam ........................................................................................................... 12
1.2. Lý luận về ý thức, tự ý thức ...................................................................................... 15
1.2.1. Khái niệm về ý thức .............................................................................................. 15
1.2.2. Khái niệm về tự ý thức .......................................................................................... 18
1.2.3. Sự hình thành và phát triển tự ý thức cá nhân ....................................................... 25
1.2.4. Yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển tự ý thức cá nhân ................... 29
1.3. Tự ý thức của sinh viên ............................................................................................. 33
4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐHSP
Đại học Sư phạm
ĐLTC
Độ lệch tiêu chuẩn
ĐTB
Điểm trung bình
F
Kiểm nghiệm F với K mẫu độc lập (giải tích biến lượng)
HSTC
Hệ số tin cậy
KHXH&NV
Khoa học xã hội và nhân văn
Nxb
TĐC
Tự điều chỉnh, tự điều khiển hành vi theo mục đích tự giác
TĐG
Tự đánh giá
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
TNT
Tự nhận thức
TP.
Thành phố
TP.HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
TYT
đi theo những yêu cầu đòi hỏi của tập thể, của cộng đồng xã hội. Chính phẩm chất nhân
cách bậc cao này có ý nghĩa rất lớn đối với việc tự giáo dục, tự hoàn thiện bản thân theo
hướng tích cực của những trí thức tương lai… Hơn nữa sự thể hiện tự ý thức ở mỗi sinh
viên khác nhau về mức độ biểu hiện tự ý thức, về vấn đề biểu hiện, về luận cứ đánh giá bản
thân…
Tự ý thức là một vấn đề được quan tâm nhiều của các nhà khoa học. Có thể kể ra một
vài nghiên cứu như: Trần Ninh Giang, (2005): “Vấn đề ý thức và tự ý thức trong tâm lý
6
học”; Đỗ Long (2005): “Vấn đề tự ý thức trong tâm lý học tộc người”; Kiều Thị Thanh Trà
(2010) “Biểu hiện tự ý thức của học sinh một số trường Trung học phổ thông tại Thành phố
Hồ Chí Minh”… Tuy nhiên đề tài nghiên cứu tự ý thức của sinh viên vẫn chưa có mà chỉ có
một vài đề tài nghiên cứu về tự đánh giá của sinh viên [4].
Về mặt lý luận tự ý thức của sinh viên phát triển ở mức cao. Nhưng trong thực tế
cuộc sống hiện nay với sự phát triển của khoa học công nghệ, sự phát triển của nền kinh tế
thị trường, sự hội nhập thế giới nên sinh viên tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nhau thì
tự ý thức của sinh viên ra sao? Tự ý thức của sinh viên biểu hiện như thế nào? Sinh viên
quan tâm đến bản thân ở những đặc điểm nào? Những yếu tố nào tác động và chi phối đến
tự ý thức của sinh viên? Sinh viên khẳng định bản thân mình thông qua những gì? Khả năng
tự giáo dục của sinh viên ra sao?... Tất cả đều là một ẩn số đang chờ chúng ta khám phá. Do
đó cần thiết phải có một đề tài nghiên cứu về tự ý thức của sinh viên hiện nay.
Từ những lý do trên người nghiên cứu xin lựa chọn đề tài: “Tự ý thức của sinh viên
tại một số trường Đại học Thành phố Hồ Chí Minh”.
2. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát tự ý thức của sinh viên tại một số trường Đại học Thành phố Hồ Chí Minh,
từ đó đưa ra giải pháp giúp nâng cao tự ý thức cho sinh viên.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Trường Đại học Thể Dục Thể Thao Thành phố Hồ Chí Minh
Số lượng khách thể: 514 sinh viên
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận nghiên cứu
7.1.1. Quan điểm hệ thống cấu trúc: vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc vào đề
tài ta sẽ tìm hiểu tự ý thức của sinh viên diễn ra trên các mặt: tự nhận thức, tự đánh giá, tự
điều chỉnh, tự điều khiển hành vi của bản thân theo mục đích tự giác.
7.1.2. Quan điểm thực tiễn: nghiên cứu tự ý thức của sinh viên xuất phát từ thực tiễn
cuộc sống, có ý nghĩa thực tiễn, và giúp giải quyết được những vấn đề của thực tiễn đề ra.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Mục đích: Thu thập những tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm làm rõ
các vấn đề lý luận của đề tài cần nghiên cứu.
- Cách thực hiện: Tham khảo các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, sách,
tạp chí chuyên ngành, các thông tin … có liên quan đến đề tài. Hệ thống hóa những tài liệu
nói trên để xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu của đề tài.
7.2.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8
7.2.2.1. Phương pháp đều tra bằng bảng hỏi
Đây là phương pháp chính của đề tài này.
- Mục đích: Thu thập thông tin từ sinh viên nhằm tìm hiểu về sự biểu hiện tự ý thức
của sinh viên.
- Cách thực hiện: Phát cho sinh viên những phiếu thăm dò ý kiền. Yêu cầu sinh viên
trả lời đầy đủ không bỏ sót câu nào.
7.2.2.2. Phương pháp phỏng vấn
- Mục đích: nhằm thu thập thêm thông tin sâu hơn về vấn đề nghiên cứu.
- Cách thực hiện: đặt câu hỏi cho sinh viên trả lời thông qua các bảng hỏi phỏng vấn
Đầu thế kỷ XX, cùng với sự ra đời của tâm lý học Mác - xít được xây dựng trên nền
tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử thì vấn đề ý thức, tự ý thức
mới dần được làm sáng tỏ và nghiên cứu triệt để.
Những công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên Xô, đứng đầu là
L.X.Vugotxki, đã chỉ ra rằng ý thức cũng như các hiện tượng tâm lý khác, là sự phản ánh
thế giới khách quan vào não người, chứ không phải cái gì huyền bí vốn có từ bên trong con
người phát ra hay do một đấng siêu nhiên nào đó sinh ra rồi “nhập” vào con người. Thành
10
tựu này đã đặt tiền đề cho hàng loạt những công trình nghiên cứu tiếp theo về ý thức và tự ý
thức. Các công trình của A.N.Leonchiev, V.A.Petrovxki, B.Ph.Lomov, K.K.Platonov,
V.V.Stolin, I.I.Chetxnocova,... đã làm sáng tỏ các khái niệm, cấu trúc, chức năng cũng như
sự hình thành và phát triển ý thức, tự ý thức. [9], [11], [22]
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu tự ý thức khác như:
- Nhà tâm lý học người Đức, A.Pfender, đầu thế kỷ XX đã xây dựng khái niệm tự ý
thức từ sự phân biệt “Cái tôi” và tự ý thức. Theo ông, tất cả các hiện tượng tâm lý là cảm
xúc trực tiếp đồng nhất với ý thức, nhưng ý thức không được hiểu là sự phản ánh mà như
cái bên trong có sẵn. Chủ thể tâm lý hình thành khả năng tự nhận thức về bản thân mình,
hình ảnh của chính mình, hình ảnh này có hạt nhân và ngoại biên. Hạt nhân gồm có cuộc
sống quá khứ của con người, ý thức về những khả năng hành động khác nhau. Ngoại biên
gồm những gì nằm ngoài tâm lý như: quần áo, thân thể, tài sản. Khi chính hình ảnh đó của
chủ thể tâm lý trở thành đối tượng, nội dung của ý thức cụ thể, xuất hiện ý thức tâm lý đặc
biệt là tự ý thức [18]. Do đó, tự ý thức trong quan niệm của A.Pfenden giống như là màn
ảnh, trên đó phóng chiếu biểu tượng về bản thân của chủ thể tâm lý.
- Cùng nghiên cứu về tự ý thức, GS. Philippe Rochat, thuộc khoa Tâm lý học, Đại
học Emory, Mỹ, đã có công trình về “Năm mức độ tự ý thức mà trẻ bộc lộc ở những năm
đầu đời” [45]. Trong đó, ông đã phân tích năm mức độ tự ý thức của trẻ gồm có: Mức 0: Sự
hỗn loạn; Mức 1: Sự khác biệt; Mức 2: Sự định vị; Mức 3: Sự nhận ra; Mức 4: Sự bền vững;
Mức 5: Sự tự ý thức. Thông qua các bài tập thí nghiệm trên trẻ ở các độ tuổi từ 0 đến 5 tuổi
ý thức trong quá trình phát triển tâm lý con người. Bên cạnh đó, các vấn đề về ý thức, tự ý
thức trong tâm lý tộc người, ý thức môi trường cộng đồng, ý thức quốc gia dân tộc,... cũng
được tiến hành nghiên cứu.
Các công trình nghiên cứu thực tiễn về ý thức và tự ý thức ở nước ta hiện nay cũng
bắt đầu được quan tâm. Có thể kể ra như sau:
- Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thạc về tự ý thức của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi được
tiến hành trên 326 trẻ tại các trường mẫu giáo ở Hà Nội năm học 1998 – 2000. Kết quả
nghiên cứu cho thấy tự ý thức của trẻ 5 - 6 tuổi thể hiện cao ở tất cả các mặt; đa số trẻ có
mức độ đánh giá phù hợp cao. Tự ý thức của trẻ phát triển không đồng đều ở các mặt tự ý
thức và ở từng cá nhân trẻ. Đồng thời, đề tài cũng đi đến khẳng định tự ý thức của trẻ em
mẫu giáo mang tính trực quan.
- Nghiên cứu của tác giả Phạm Thành Nghị về tự ý thức nghề nghiệp của sinh viên
năm 2010 trên 320 sinh viên năm thứ ba, thứ tư và thứ năm của 3 trường đại học kỹ thuật
trên địa bàn Hà Nội (Bách khoa, Xây dựng, Thủy lợi). Kết quả cho thấy sáu thành tố tự
nhận thức và tự nhận thức nghề nghiệp đã được xác định trên cơ sở quan điểm rằng tự ý
thức là công cụ tự điều chỉnh của chủ thể hoạt động. Các số liệu điều tra trên sinh viên cũng
12
chỉ ra sự phát triển cao hơn của tự ý thức nghề nghiệp ở những sinh viên tham gia vào hoạt
động nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác có liên quan đến hoạt động nghề nghiệp
trong tương lai.
- Đề tài của sinh viên Kiều Thị Thanh Trà: “Biểu hiện tự ý thức của học sinh một số
trường THPT tại Thành phố Hồ Chí Minh” năm 2010. Nghiên cứu được thực hiện trên 465
học sinh thuộc 4 trường: Trường Trung học thực hành Đại học Sư phạm TP.HCM, Trường
THPT Hùng Vương, Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai, Trường THPT Lê Thánh Tôn.
Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số học sinh THPT ở TP.HCM hiện nay có biểu hiện tự ý
thức ở mức khá, có mối liên hệ ở mức trung bình giữa biểu hiện tự ý thức thể hiện trên ba
mặt. Trong đó cặp nhận thức và thái độ có tương quan mạnh nhất. Và yếu tố giáo dục gia
đình và bản thân các em là hai yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến tự ý thức của học sinh.
bình. Nói chung, sự tự đánh giá về học tập, đạo đức, xã hội đạt mức trung bình cao. Sự tự
đánh giá về mặt thể chất ở mức trung bình, trong đó các em học sinh đánh giá sức khỏe tích
cực hơn đánh giá về hình dáng của bản thân. Sự tự đánh giá về cảm xúc đạt mức trung bình
thấp. Các em có sự tự đánh giá về cảm xúc tiêu cực liên quan đến khía cạnh học tập, trong
khi đó cảm xúc tích cực thường liên quan đến quan hệ xã hội.
- Tác giả Bùi Thị Hồng Thắm với đề tài: “Khả năng tự đánh giá các phẩm chất ý chí
của học sinh THPT” năm 2010. Đề tài được nghiên cứu trên 275 học sinh của 3 trường là:
THPT chuyên Trần Hưng Đạo, THPT Phan Bội Châu, THPT dân lập Lê Lợi tại TP Phan
Thiết... Kết quả nghiên cứu tác giả đã khẳng định đa phần các em chưa có khả năng tự đánh
giá biểu hiện ở mối tương quan thấp giữa tự đánh giá phẩm chất ý chí với nhận thức và đánh
giá của các bên thứ hai.
- Đề tài “Tìm hiểu sự đánh giá bản thân ở trẻ 10-15 tuổi” do Văn Thị Kim Cúc thực
hiện trên khách thể là 120 trẻ (60 nam - 60 nữ) ở một số trường THCS tại Hà Nội, bằng
thang do Florence Sordes - Adler, Gvvenaelle Lévêque, Nathalie Oubravrie, Claire Sa fort Mottay. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã cho thấy ở thanh thiếu niên 10 - 15 tuổi, sự tự
đánh giá bản thân bộc lộ tính tích cực ở lĩnh vực học đường thể hiện rõ khả năng đáp ứng
thích hợp của các em vào hoạt động chủ đạo, vào các quan hệ trong cuộc sống học đường ở
lứa tuổi này.
- Công trình nghiên cứu “Tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5 tại trường tiểu
học Nguyễn Bỉnh Khiêm, thành phố Hồ Chí Minh.” của tác giả Lê Ngọc Bảo Trâm. Tác giả
tiến hành nghiên cứu trên 100 học sinh và kết quả cho thấy tự nhận thức của học sinh lớp 4,
lớp 5 về các đặc điểm hình thức bên ngoài của mình và tính cách, năng lực học tập ở mức
độ trên trung bình.
Như vậy, các công trình nghiên cứu về ý thức, tự ý thức ở nước ta còn khá hạn chế,
đặc biệt là các công trình nghiên cứu về thực trạng. Bên cạnh các công trình nghiên cứu về
từng mặt riêng biệt trong nội dung của tự ý thức, vẫn chưa có công trình nào đề cập một
14
cách cụ thể đến tự ý thức của thế hệ trẻ nói chung, của sinh viên nói riêng. Vì vậy, người
nghiên cứu thực hiện đề tài theo hướng tìm hiểu tự ý thức của sinh sinh viên ở TP. Hồ Chí
15
Trong tâm lý học ý thức là vấn đề cơ bản, quyết định của khoa học tâm lý. Do đó mà
ý thức là một lĩnh vực nghiên cứu thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà Tâm lý học như:
- Theo quan điểm của phân tâm học, ý thức là một trạng thái tỉnh thức với chức
năng quan sát, ghi nhận, cảm nhận, nhận định đối với các sự vật bên ngoài cái tôi và đối với
các suy tư, cảm xúc và hình ảnh bên trong cái tôi. Ý thức như thế có thể gọi là một quang
năng nhận định và là một quang năng định hướng với bốn chức năng: chức năng cảm nhận,
suy tư, đánh giá và trực kiến. Thể hiện các chức năng nói trên, ý thức phải liên hệ với cái
Tôi như chủ thể, như động lực, như đầu não, như trung tâm. [21] Cũng theo quan điểm này,
S. Freud đã đề cập đến ý thức trong quan hệ giữa hệ thống vô thức - ý thức trong đời sống
tinh thần của con người. Ông đưa ra nhân tố “Cái tôi” được ví như là cán cân giữa “cái ấy”
và “cái siêu tôi”, nó luôn cố gắng xử lý sự bướng bỉnh và nôn nóng của “cái ấy”, đối chiếu
hành động của mình với hiện thực, giảm căng thẳng tâm lý và đồng thời đáp ứng với khát
vọng thường xuyên vươn tới sự hoàn thiện của “cái siêu tôi”. Từ việc phân tích các nhân tố
trong hệ thông cấu trúc trong bộ máy tâm thần, Freud ví ý thức như một cái máy chiếu quét
sáng trên sân khấu, những gì nằm ngoài vùng sáng nhưng vẫn trong tầm chiếu của nó sẽ trở
thành tiềm ý thức, và “cái tôi” có trách nhiệm điều khiển máy chiếu này.[27]
- Theo V.N.Miaxisep nghiên cứu về thái độ, coi ý thức là sự thống nhất của phản ánh
thực tại và thái độ tích cực, có mục đích của con người đối với hiện thực khách quan.
- Theo E.V.Sorokhova, “Ý thức được đặc trưng bởi thái độ tích cực của con người
đối với thực tại, với bản thân, với cử chỉ và hành vi, hoạt động của mình - hướng vào đạt
mục đích đặt ra. Ý thức là năng lực (khả năng của con người) hiểu thế giới xung quanh, các
quá trình diễn ra trong đó, các tư tưởng, hành động và thái độ của mình đối với thế giới
cũng như với chính bản thân mình”.
- Theo K.K.Platonov cho rằng, ý thức là sự thống nhất của mọi hình thức nhận thức,
trải nghiệm của con người và thái độ của họ đối với cái mà họ phản ánh - là sự thống nhất
của tất cả các quá trình, trạng thái, thuộc tính tâm lý của con người như là một nhân cách.
- Theo X. L.Rubinstein, coi ý thức - đó không chỉ là sự phản ánh, mà còn là thái độ
con người hiểu được những tri thức mà con người đã tiếp thu được (là tri thức về tri thức,
phản ánh của phản ánh)”.[41]
1.2.1.2. Thuộc tính của ý thức
Ý thức có các thuộc tính cơ bản sau:
a. Ý thức thể hiện năng lực nhận thức cao nhất của con người về thế giới. Đó là nhận
thức các bản chất, nhận thức khái quát bằng ngôn ngữ. Và còn dự kiến trước kế hoạch hành
vi, kết quả của nó, làm cho hành vi mang tính có chủ định.
b. Ý thức thể hiện thái độ của con người đối với thế giới. Ý thức không chỉ nhận thức
sâu sắc về thế giới mà còn thể hiện thái độ đối với nó. C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: “Ý
thức tồn tại đối với tôi là tồn tại một thái độ nào đó đối với sự vật này hay sự vật khác, động
17
vật không biết “tỏ thái độ” đối với sự vật nào cả…”.
c. Ý thức thể hiện năng lực điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người. Trên cơ sở
nhận thức bản chất khái quát và tỏ rõ thái độ với thế giới. Ý thức điều khiển, điều chỉnh
hành vi của con người đạt tới mục đích đã đề ra. Vì thế ý thức có khả năng sáng tạo.
V.I.Lênin nói: “Ý thức của con người không chỉ phản ánh hiện thực khách quan mà còn
sáng tạo nó”.
d. Khả năng tự ý thức: con người không chỉ ý thức về thế giới mà còn, ở mức độ cao
hơn, có khả năng tự ý thức, có nghĩa là khả năng tự nhận thức về mình, tự xác định thái độ
đối với bản thân, tự điều khiển, điều chỉnh, tự hoàn thiện mình.
Như vậy, ý thức là chức năng cao nhất của tâm lý. Ý thức tiếp nhận những thông tin
trong môi trường và thông tin về bản thân, chọn lọc và biểu thị những rung cảm tương ứng,
từ đó vạch ra kế hoạch hành động thích hợp và hiệu quả. Với những đặc điểm này, ý thức
được coi là khả năng nhận thức và điều khiển hành vi cao nhất của con người với thế giới –
Khả năng tự ý thức.
1.2.2. Khái niệm về tự ý thức
1.2.2.1. Định nghĩa tự ý thức
Trên phương diện Triết học duy vật biện chứng tự ý thức được xem xét ở việc con