Hành vi tự cô lập ở sinh viên tại một số trường đại học trên địa bàn thành phố hồ chí minh - Pdf 70

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP

HÀNH VI TỰ CÔ LẬP Ở SINH VIÊN TẠI
MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Tâm lý học

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: NCS. ThS. Đỗ Tất Thiên
SINH VIÊN THỰC HIỆN: Nguyễn Lê Bảo Hồng
LỚP: K40.TLH.B
MSSV: K40.611.027

TP. HỒ CHÍ MINH, 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP

HÀNH VI TỰ CÔ LẬP Ở SINH VIÊN TẠI MỘT SỐ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tâm lý học

TP. HỒ CHÍ MINH, 2018


MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT................................................................................................ 2
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................................................. 3
MỞ ĐẦU............................................................................................................................................... 1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.................................................................................................................. 1
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.......................................................................................................... 2
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.......................................................................................................... 2
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU.....................................................................2
5. GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU................................................................................. 3
6. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU..................................................................................................... 3
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI TỰ CÔ LẬP Ở SINH VIÊN..........................6
1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ VỀ HÀNH VI TỰ CÔ LẬP CỦA SINH VIÊN.......................................6
1.1.1. Những nghiên cứu về hành vi tự cô lập của sinh viên trên thế giới ........................6
1.1.2. Những nghiên cứu về hành vi tự cô lập của sinh viên ở Việt Nam .......................10
1.2. LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI TỰ CÔ LẬP Ở SINH VIÊN.......................................................................... 11
1.2.1. Các vấn đề lý luận về hành vi..................................................................................... 11
1.2.2. Lý luận về hành vi lệch chuẩn.................................................................................... 14
1.2.3. Lý luận hành vi tự cô lập............................................................................................. 21
1.2.4. Một số đặc điểm tâm lý của sinh viên....................................................................... 25
1.2.5. Lý luận về hành vi tự cô lập của sinh viên................................................................ 27
1.2.6. Hậu quả từ hành vi tự cô lập của sinh viên............................................................... 30
1.2.7. Mơ hình hành vi tự cơ lập của sinh viên................................................................... 31
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1................................................................................................................... 32
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HÀNH VI TỰ CÔ LẬP Ở SINH VIÊN TẠI MỘT SỐ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM........................................................................ 33
2.1. TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VỀ HÀNH VI TỰ CÔ LẬP Ở SINH VIÊN TẠI MỘT SỐ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TP. HCM.................................................................................. 33
2.1.1. Mục đích nghiên cứu.................................................................................................... 33
2.1.2. Phương pháp nghiên cứu............................................................................................. 33
2.2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG HÀNH VI TỰ CÔ LẬP Ở SINH VIÊN TẠI MỘT SỐ

Bảng 2.7. Thực trạng về thời gian thực hiện hành vi tự cô lập của sinh viên
Bảng 2.8. Tần số thực hiện hành vi tự cơ lập ở sinh viên
khi khơng có sự căng thẳng hay buồn bã
Bảng 2.9. Tần số thực hiện hành vi tự cơ lập ở sinh viên
khi có chuyện buồn hay gặp áp lực
Bảng 2.10. Biểu hiện hành vi tự cô lập trong nhận thức của sinh viên
Bảng 2.11. Biểu hiện hành vi tự cô lập trong xúc cảm/ thái độ của sinh viên
Bảng 2.12. Biểu hiện hành vi tự cô lập trong hành động của sinh viên
Bảng 2.13. Biểu hiện hành vi tự cô lập của sinh viên
Bảng 2.14. Hệ số tương quan các mặt biểu hiện của
hành vi tự cô lập ở sinh viên chung
Bảng 2.15. Hành vi tự cô lập của sinh viên so sánh
theo phương diện giới tính
Bảng 2.16. Hành vi tự cơ lập của sinh viên so sánh
theo phương diện hệ đào tạo
Bảng 2.17. Điểm trung bình biểu hiện hành vi tự cơ lập
trên phương diện học lực
Bảng 2.18. Kiểm định Tamhane trên phương diện học lực
Bảng 2.19. Điểm trung bình biểu hiện hành vi tự cô lập
trên phương diện điểm rèn luyện
Bảng 2.20. Kiểm định Tamhane trên phương diện điểm rèn luyện
Bảng 2.21. Điểm trung bình biểu hiện hành vi tự cơ lập


trên phương diện xuất thân
Bảng 2.22. Kiểm định Tamhane trên phương diện xuất thân
Bảng 2.23. Điểm trung bình biểu hiện hành vi tự cô lập
trên phương diện kinh tế gia đình
Bảng 2.24. Kiểm định Tamhane trên phương diện kinh tế gia đình
Bảng 2.25. Nguyên nhân ảnh hưởng đến hành vi tự cô lập ở sinh viên

này cho thấy các vấn đề về hành vi lệch chuẩn ngày càng xuất hiện dưới nhiều hình thái
khác nhau, và từ nhiều góc độ thì “tự cơ lập” là một hành vi tuy không mới, nhưng chưa
được quan tâm và nghiên cứu đúng mực, nhất là ở Việt Nam.

1


Sinh viên là những người thuộc lứa tuổi đầu thanh niên, vừa là những người đang
mưu cầu hạnh phúc, lại là lực lượng nịng cốt góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây
dựng xã hội. Việc nghiên cứu và đánh giá mức độ, biểu hiện của các loại hành vi tự cơ
lập ở sinh viên có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc thay đổi các nhìn nhận đúng đắn
hơn về vấn đề chăm sóc sức khỏe tinh thần và nâng cao các kỹ năng xã hội cần thiết.
TP. HCM là nơi có nhiều trường Đại học chất lượng cao ở khu vực phía Nam, nơi
sản sinh nguồn nhân lực tri thức đáp ứng cho nhu cầu phát triển xã hội. Trên thực tế bên
cạnh những hậu quả được nghiên cứu như hành vi nghiện, hành vi tự hủy hoại bản
thân… đến tâm sinh lý của bộ phận sinh viên, ảnh hưởng từ hành vi tự cô lập lại đang
làm sức khỏe tinh thần và lối sống của lứa tuổi năng động này mai một đi một cách âm
thầm. Việc tìm hiểu về hành vi tự cơ lập của sinh viên, không chỉ tạo nên một hướng đi
mới trong nghiên cứu ban đầu mà cịn góp phần thúc đẩy mọi người có cách nhìn nhận
đúng đắn hơn về dạng hành vi lệch chuẩn mới này - từ đó có những biện pháp chăm sóc
sức khỏe tinh thần và cải thiện lối sống, mối quan hệ xã hội, đầu tư vào nguồn nhân lực
hợp lý và hiệu quả.
Từ những cơ sở trên, đề tài “Hành vi tự cô lập ở sinh viên tại một số trường đại
học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” được xác lập.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng hành vi tự cô lập của sinh viên tại một số trường Đại học
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
3.
-



Giới hạn về khách thể nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu trên sinh viên tại các trường đại học như: Đại học Kiến trúc TP.
HCM; Đại học Ngoại ngữ - Tin học (HUFLIT); Đại học Sư phạm TP. HCM; Đại học
Công nghệ TP. HCM (HUTECH); Đại học Bách khoa TP. HCM.
6.

Giả thuyết nghiên cứu
Biểu hiện của hành vi tự cô lập ở sinh viên tại một số trường Đại học trên địa bàn

TP. HCM ở mức trung bình, thể hiện cao nhất ở mặt thái độ và thấp nhất ở mặt hành vi.
Hành vi tự cơ lập có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa giới tính, học lực và điểm rèn
luyện của sinh viên. Một số nguyên nhân dẫ đến hành vi tự cô lập do bị lạm dụng/ bạo
hành cảm xúc (trêu chọc, đánh giá, phê bình, chế giễu, tẩy chay, chì chiết, bị cơ lập…)
hoặc khơng thích ứng được với mơi trường mới (Trường Đại học, nơi làm việc, ngoài xã
hội…).
7.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

7.1.

Phương pháp luận

7.1.1. Quan điểm hệ thống - cấu trúc
Quan điểm hệ thống - cấu trúc được vận dụng như là phương hướng cho tồn bộ
q trình xây dựng khung lý thuyết, xác lập khái niệm công cụ dưới dạng định nghĩa chỉ
báo cũng như xây dựng bảng hỏi theo cấu trúc đã được xác lập. Cấu trúc nhận thức, thái
độ và hành động cũng như mối quan hệ giữa 3 thành tố này được xem là 3 mặt chỉ báo

7.2.2.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
a. Mục đích:
+

Khảo sát tự nhận thức và nhận thức của sinh viên ở một số trường đại học trên

địa bàn TP. HCM về hành vi tự cô lập.
+
+

Khảo sát mức độ hành vi tự cô lập của sinh viên.

Đánh giá sự tác động các yếu tố hình thành nên mối quan hệ nguyên nhân - kết

quả của hành vi tự cô lập.
b. Xây dựng phiếu hỏi:
Phiếu hỏi được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận của đề tài và các yêu cầu cơ bản
về kỹ thuật soạn thảo cơng cụ nghiên cứu.
Tóm lại, đề tài sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp chính.
Các phương pháp cịn lại nhằm mục đích hỗ trợ q trình nghiên cứu. Các phương pháp
này được sử dụng đồng bộ, phối hợp một cách hệ thống trong suốt quá trình nghiên cứu

4


7.2.3. Phương pháp thống kê tốn học
a. Mục đích:
Sử dụng phương pháp này để xử lý và phân tích các số liệu thu được từ bảng hỏi
nhằm định lượng các kết quả nghiên cứu và sử dụng như công cụ quy chiếu cho việc xây
dựng bảng phân loại mức độ hành vi tự cô lập.

bị cơ lập vì mong muốn được gần gũi. Chúng ta sợ bị những hành động khước từ như quay
lưng, phản bộ, từ chối tình cảm hay chấm dứt mối quan hệ...

Chúng ta dần quen thuộc với nỗi đau (tinh thần) và một số người trong chúng ta từ chối
nỗi đau này bởi vì cái tơi của họ không thể chịu được. Erikson cũng cho rằng sự gần gũi
có một đối trọng, gọi tên là “Sự xa cách” (Distantiation): Sự sẵn sàng để tự cô lập và
nếu cần thiết, phá hủy các mối quan hệ hoặc con người có ý định gây ảnh hưởng, xâm
phạm, nới rộng phạm vi quan hệ của bản thân.” (1950). Trong giai đoạn này, khả năng
độc lập, tự chủ, ý chí nghị lực, tinh thần trách nhiệm của cá nhân là khá cao. Ở lứa tuổi
thanh niên này, con người có khuynh hướng tạo mối tương quan với người khác một
cách riêng tư và thân mật hơn. Nếu thất bại, con người sẽ vụng về trong giao tiếp xã hội
và khó kết thân với người khác, nhất là những người khác phái. Nếu khơng có được sự
u thương, con người có xu hướng trở nên cô lập, vị kỷ, tự say mê với chính mình. Sự
tự cơ lập qua đó có thể thấy là biểu hiện của một nhân cách không được phát triển ổn
định có thể dẫn đến các hành vi lệch chuẩn khác. Tuy nhiên, bên cạnh nguyên nhân lứa

1

Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders: Sổ Tay Thống Kê Và Chẩn Đoán Các Rối
Loạn Tâm Thần Rút Gọn, phiên bản thứ 5
2
International Classification of Diseases: Phân loại quốc tế về bệnh tật

6


tuổi và thất bại trong các mối quan hệ, việc mạng xã hội xuất hiện và dần kiểm soát thời
gian sinh hoạt của các cá nhân cũng là một trong những yếu tố tác động đến mong muốn
tự cô lập của bộ phận sinh viên hiện nay.
Một nghiên cứu của Đại học Rice, Mỹ trên 159 người trong độ tuổi 18-55 với



1.

Tránh né các hoạt động xã hội nghề nghiệp phải quan hệ nhiều do sợ bị phê

bình, phản đối và chối bỏ.
2.
Ngần ngại khơng bộc lộ tình cảm với người khác dù có nhu cầu được yêu
thương.

3.

Dè dặt ngay cả trong quan hệ thân tình vì sợ xấu hổ và làm chuyện kỳ cục

4.

Trong các bối cảnh xã giao rất sợ bị phê bình và chối bỏ.

5.
Trong những quan hệ mới mẻ thường ức chế vì cảm giác mình khơng
được đánh
giá cao
6.

Tự xem mình khơng có năng lực giao tiếp xã hội, kém thu hút và thấp kém so

với người khác
7.


hội mất đi [22].
Về lãnh vực Y học, không chỉ tác động tiêu cực về mặt tâm lý, hành vi tự cô lập
còn mang lại những hậu quả về mặt sinh học. Nghiên cứu vào tháng 11 năm 2015, Kiến
trúc khác biệt về di truyền học của di truyền giả dược bạch cầu trong nhận thức cách
ly xã hội, xuất hiện trong Kỷ yếu của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia [14]. Nghiên
cứu này làm sáng tỏ sự cô đơn và nhận thức về cô lập xã hội gây ra những thay đổi sinh
lý có thể làm cho ai đó bị bệnh hoặc chết sớm. Trên thực tế, các nhà nghiên cứu nhận
thấy rằng đối với người lớn tuổi, sự cô lập xã hội có thể làm tăng nguy cơ tử vong sớm
lên 14%.
Luận văn năm 1959 của Fromm-Reichmann về Tính cô độc khiến các nhà phân
tâm học nghiên cứu thêm về sinh học về các tế bào và dây thần kinh. Họ khẳng định
rằng cô đơn cũng liên kết với các loại bệnh tật như các bệnh tâm lý khác. Sự cơ đơn gửi
tín hiệu hormone gây hiểu nhầm, ảnh hưởng lên sự sao chép gene điều khiển hành vi và
dần chiếm lấy toàn bộ hệ thống gene cùng tế bào thần kinh. Khi con người ở những tình
huống dễ bị tổn thương, hệ thống phản ứng căng thẳng sẽ được đẩy lên trạng thái báo
động, tim đập nhanh, cortisol tràn ngập cơ thể, các mô sưng lên, bạch cầu được tiết ra
nhiều để giảm cơn đau. Lượng norepinephrine (chất tương tự adrenaline, có thể thu hẹp
các mạch máu và tăng lượng đường trong máu) ở người cô đơn cao hơn so với người
bình thường. Norepinephrine kích động các tế bào gốc trong tủy xương, từ đó sản xuất
nhiều hơn một loại tế bào miễn dịch đặc biệt gọi là bạch cầu đơn nhân. Tình trạng này
diễn ra trong thời gian dài khiến huyết áp tăng lên, hệ thống miễn dịch yếu đi, sụt giảm
bạch cầu… từ đó con người dễ bị bệnh, làm trầm trọng bệnh hơn, về lâu dài, nguy cơ hệ
miễn dịch suy yếu là không thể tránh khỏi thậm chí dẫn đến tử vong [19]. Từ đó có thể
thấy “đại dịch cơ đơn” có nguy hại chẳng kém HIV/AIDS.
Từ những cơng trình đã nêu cho thấy các nhà nghiên cứu, các nhà Tâm lý học, Xã
hội học và Y học… trên thế giới đã bắt đầu có sự quan tâm trong việc phân chia sự cơ
đơn, sự cô lập, tự kỉ… thành những khái niệm tách bạch - được đánh giá dựa trên thiệt
hại về tâm-sinh lý; thậm chí từ mặt lợi ích kinh tế xã hội đến ảnh hưởng lên một nền văn
hóa trong thời đại công nghệ số hiện đại. Tuy nhiên với những kết quả hầu hết được
nghiên cứu trên người lớn tuổi - trong khi nguồn nhân lực chủ yếu tập trung ở người trẻ,

Nam (cụ thể là lứa tuổi sinh viên). Các biểu hiện “Tự nhốt mình trong nhà”, “Lao vào
một trị chơi nào đó” [12]… trong nghiên cứu “Rối loạn lo âu của sinh viên một số
trường sư phạm tại Thành phố Hồ Chí Minh” phần nào cho thấy tự cơ lập - tự thu
mình chỉ được xem là một trong những biểu hiện của các rối loạn tâm thần đang được
nghiên cứu…

10


Những nghiên cứu về hành vi lệch chuẩn và hành vi tự hủy hoại chưa được quan
tâm nhiều trong giai đoạn những năm 90 trở về trước. Vì Tâm lý học phát triển mạnh
trong lãnh vực sư phạm, giáo dục, những nghiên cứu về hành vi tự hủy hoại bản thân bắt
đầu phát triển từ những năm 1980 trở đi và nổi rõ là những năm 1995 trở về sau. Những
thuật ngữ như “hành vi lệch chuẩn”, “hành vi tự hủy hoại bản thân” hay “hành
vi tự cơ lập” cịn khá mới ở Việt Nam, thậm chí một số nhà giáo dục có biểu hiện tránh
né khi đề cập đến.
Người có cơng lao lớn trong việc nghiên cứu, phổ biến thực trạng, nguyên nhân và
tác hại của các loại hành vi lệch chuẩn ở Việt Nam là cố bác sĩ Nguyễn Khắc Viện. Năm
1996, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã làm chủ nhiệm đề tài cấp Quốc gia: “Bước đầu nhận
dạng và phân loại những biểu hiện tâm bệnh lý thường gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên
trong giai đoạn hiện nay” được Hội đồng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đánh
giá, xếp loại xuất sắc và nghiệm thu ngày 12.01.1997. Đây không phải là nghiên cứu
chuyên biệt về hành vi lệch chuẩn, hành vi tự hủy hoại hay hành vi tự cô lập nhưng là
một trong những nghiên cứu làm cho mối quan tâm đến vấn đề này trở nên phổ biến.
Một số biểu hiện “Bỏ bê bản thân mình”; “Nghĩ mình khơng có giá trị với mọi người
xung quanh” [2]… thể hiện cái tôi thấp - một trong những nguyên nhân chủ yếu đưa đến
hình thành hành vi tự cơ lập.
Nhìn chung các nghiên cứu trong và ngồi nước nước vẫn chưa có cái nhìn quan
tâm đáng kể về hành vi tự cô lập so với nghiên cứu trên thế giới. Các khái niệm, biểu
hiện của hành vi tự cơ lập vẫn cịn bị đánh đồng với những căn bệnh phổ biến như trầm

các đối tượng chủ thể gặp trong một hồn cảnh nào đó”. Hành vi con người khơng cịn
đơn thuần là hành vi phản ứng mà thành hành vi tích cực [8].
Theo A.N. Leonchiev, hành vi khơng phải là những phản ứng máy móc của một cơ
thể sinh vật, mà hành vi phải được hiểu là hoạt động [7].
Theo Hersey và Hard, đơn vị cơ sở của hành vi là một hành động. Toàn bộ hành vi
là một chuỗi hành động [19].
Trong nước, cũng có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu vấn đề này như:
Tác giả Vũ Dũng, cho rằng hành vi là “Sự tác động qua lại giữa cơ thể sống với
môi trường xung quanh, do tính tích cực bên ngồi (kích thích) và bên trong (nhu cầu)
thúc đẩy. Sự độc đáo của hành vi cá nhân phụ thuộc vào tính chất của các mối quan hệ
tương hỗ trong nhóm, thái độ của cá nhân đối với những chuẩn mực, định hướng giá trị
và vị thế xã hội mà người đó đảm nhiệm [15].
Tác giả Dương Thiệu Tống thì lại cho rằng: “Hành vi là những biểu hiện bên ngoài
của hoạt động, được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của chủ thể” [2].
Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng hành vi là những biểu hiện bên ngoài của hoạt
động và bao giờ cũng gắn liền với động cơ, mục đích. Ơng cho rằng: nếu vận dụng cấu

12


trúc vĩ mô của hoạt động của A.N.Leonchiev vào nghiên cứu thế giới tâm lý người ở các
cấp bậc: thao tác (tương ứng với các điều kiện và phương tiện), hành động (tương ứng
với mục đích cụ thể) và hoạt động (tương ứng với mục đích chung, cịn gọi là động cơ);
hay nói ngắn gọn hơn: một là cấp bậc tổ hợp các cử động của cơ thể, hai là cấp bậc hoạt
động với đơn vị là hành động, thì Tâm lý học hoạt động nghiên cứu thế giới tâm lý
ở cấp bậc thứ hai, tức là ở cấp hoạt động - hoạt động ln địi hỏi phải có phản ánh tâm
lý. Trong trường hợp này, hành vi như là tổ hợp các cử động, thao tác, chỉ là mặt bề
ngoài của hoạt động. Tuy nhiên, hành vi ở đây rất khác so với các cử động, thao tác đơn
thuần mang tính vật lý hay sinh lý của thuyết hành vi cổ điển, vì “ẩn sau” hành vi ấy là
cả một thế giới tâm lý sinh động và vô cùng phức tạp của con người. Quan điểm này cho



hành
vi

Nếu căn cứ vào phạm vi tác động của hành vi thì có ba kiểu hay ba nhóm

sau đây: [10].
Hành vi hướng vào chính mình: Hành vi hướng vào chính mình là những hành vi

ảnh hưởng trực tiếp lên chính chủ thể.
Hành vi hướng đến người khác: Hành vi hướng đến người khác những hành vi ảnh
hưởng trực tiếp đến những mối quan hệ xung quanh, thơng qua đó tác động trở lại với
chính chủ thể.
Hành vi hướng đến sự vật, hiện tượng: Hành vi hướng đến sự vật, hiện tượng là
những hành vi tác động và ảnh hưởng trực tiếp lên các sự vật và hiện tượng và những
hành vi tác động này sẽ ảnh hưởng đến chính chủ thể gây ra hành vi.
- Nếu xem xét theo chuẩn mực hành vi: [6].
Hành vi hợp chuẩn: Hành vi hợp chuẩn là hành vi phù hợp với chuẩn mực của một
nhóm, một cộng đồng xã hội; những hành vi mà mọi người mong đợi từ một thành viên
nào đó.
Hành vi lệch chuẩn: Hành vi lệch chuẩn là những hành vi khơng đáp ứng được sự
mong đợi của một nhóm người nào đó, nó lệch với chuẩn mực của một nhóm, một cộng
đồng.
- Nếu căn cứ vào tính chất của hành vi: [10].
Hành vi công khai: Hành vi công khai là hành vi được chủ thể tiến hành trong một
môi trường cụ thể, trước sự quan sát và chứng kiến của người khác.
Hành vi che giấu: Hành vi che giấu là hành vi được chủ thể thực hiện nhằm không
cho người khác chứng kiến.
Tóm lại, cách phân loại hành vi tùy thuộc vào quan điểm, hoàn cảnh cụ thể. Trong

khả năng của nhân cách không tương xứng với những yêu cầu xuất phát từ những mối
quan hệ xã hội nhất định [1].
Giáo sư Debray - Rizen thuộc trường Đại học Y khoa Paris đã định nghĩa: Hành
vi lệch chuẩn là những hành vi không phù hợp với chuẩn mực, mà biểu hiện của
hành
vi đó nếu thường xuyên xảy ra sẽ thực sự ảnh hưởng xấu đến sự thích nghi của mỗi cá
nhân [17].
Theo Nguyễn Thị Ánh Tuyết vào năm 2013, hành vi lệch chuẩn là “hành vi không
phù hợp với những giá trị chân, thiện, mỹ, trong đó giáo dục đạo đức là cốt lõi. Sự lệch
chuẩn này thay đổi còn tùy theo lứa tuổi. Ở trẻ em, hành vi văn hóa đang được hình
thành, đó là những hành vi được coi là chuẩn mực vì đáp ứng với mục tiêu giáo dục cho
từng giai đoạn phát triển và được tăng dần theo hướng chân thiện mỹ theo từng độ tuổi.
Giáo dục được coi là yếu tố chủ đạo đối với sự phát triển hành vi của trẻ, bảo đảm cho

15


sự hình thành những hành vi văn hóa, đồng thời giúp trẻ loại bỏ những hành vi lệch
chuẩn” [4].
Như vậy, trong hành vi lệch chuẩn bao hàm hai mức độ về mặt tâm lý:
Một là, ở mức độ thấp và chỉ có ở một số hành vi. Cá nhân có những hành vi
khơng bình thường nhưng khơng ảnh hưởng đến hoạt động chung của cộng đồng, đến
đời sống cá nhân và gia đình họ. Mọi người xung quanh vẫn có thể chấp nhận, tuy nhiên
không thoải mái.
Hai là, ở mức độ cao và ở hầu hết các hành vi của cá nhân, từ hành vi trong sinh
hoạt đến hành vi lao động sản xuất, học tập, vui chơi. Những hành vi lệch chuẩn này ảnh
hưởng đáng kể đến cuộc sống cá nhân vì vậy cần được chẩn đốn và chữa trị.
Từ việc xem xét các quan niệm khác nhau về hành vi lệch chuẩn ở trên, đề tài quan
niệm rằng: Hành vi lệch chuẩn là một hiện tượng xã hội không phù hợp với chuẩn
mực, ảnh hưởng xấu đến sự thích nghi của mỗi cá nhân và ảnh hưởng đến đời sống

Chuẩn mực hướng dẫn hay quy ước do cộng đồng hay xã hội đề ra: loại chuẩn

mực này được đưa ra trên cơ sở những yêu cầu chung của cộng đồng với từng thành
viên. Hành vi của cá nhân được so với những luật lệ về đạo đức hoặc xã hội của một
nhóm. Những hành vi nào khác với hướng dẫn, quy định thì những hành vi đó được coi
là khơng bình thường.
-

Chuẩn mực chức năng: loại chuẩn mực này được xác định ở mỗi cá nhân. Một

hành vi được xem là hợp chuẩn khi hành vi đó phù hợp với mục đích do cá nhân đặt ra
cịn những hành vi khơng phù hợp với mục đích của cá nhân đề ra gọi là hành vi lệch
chuẩn (với cá nhân).
Hay có một cách khác phân chia chuẩn mực thành chuẩn mực xã hội và chuẩn mực
cá nhân. Chuẩn mực xã hội là những yêu cầu chung của cộng đồng với từng thành viên,
những luật lệ về đạo đức hoặc xã hội của một nhóm. Thơng qua hoạt động của mình,
mỗi cá nhân tiếp thu, chọn lọc biến những chuẩn mực xã hội thành chuẩn mực riêng của
bản thân (chuẩn mực cá nhân). Như vậy, chuẩn mực cá nhân được xác định bởi mỗi cá
nhân, được mỗi cá nhân hướng tới trong từng hành động.
Tuy nhiên, một số nhà Tâm lý học cho rằng việc quyết định một hành vi cụ thể có
phải là “lập dị” hoặc “bình thường” hay khơng là phải xét đến không gian sống, mà cụ
thể ở đây là môi trường xã hội, mơi trường văn hố. Vì thực tế, một hành vi này của cá
nhân có thể là bình thường trong nền văn hoá này nhưng lại là bất thường, khơng thể
chấp nhận được ở một nền văn hố khác. Theo Rosenhan và Seligman vào năm 1984, có
bảy thuộc tính có thể áp dụng để quyết định liệu một cá nhân hay hành vi có phải là bất
thường hay khơng: [21].
-

Thứ nhất là đau khổ: liệu cá nhân có đau khổ hay khó chịu khi hành vi đó đang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status