Đánh giá mức độ hài lòng môn học phổ tu thể dục của nam sinh viên chuyên - Pdf 37

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
BỘ MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT

HÀ BÁ NHA

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HÀI LÒNG MÔN HỌC
PHỔ TU THỂ DỤC CỦA NAM SINH VIÊN NGÀNH
GIÁO DỤC THỂ CHẤT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
NĂM HỌC 2014 - 2015

MÃ NGÀNH: 52140206

CẦN THƠ 2015


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
BỘ MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HÀI LÒNG MÔN HỌC
PHỔ TU THỂ DỤC CỦA NAM SINH VIÊN NGÀNH
GIÁO DỤC THỂ CHẤT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
NĂM HỌC 2014 - 2015
MÃ NGÀNH: 52140206
Giảng viên hướng dẫn
ThS Nguyễn Hoàng Khoa



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố
trong các công trình khác. Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm về đề tài của mình.
Người cam đoan

HÀ BÁ NHA


DANH MỤC CÁC BẢNG


Bảng 3.1.1 Mức độ hài lòng phương pháp giảng dạy môn Phổ tu thể dục của nam
sinh viên chuyên ngành GDTC trường ĐHCT.
Bảng 3.1.2 Mức độ hài lòng về phương pháp đánh giá môn Phổ tu thể dục của nam
sinh viên chuyên ngành GDTC trường ĐHCT.
Bảng 3.1.3. Mức độ hài lòng kĩ thuật môn học môn Phổ tu thể dục của nam sinh viên
chuyên ngành GDTC trường ĐHCT.
Bảng 3.1.4. Mức độ hài lòng dụ cụ sân bãi môn Phổ tu thể dục của nam sinh viên
chuyên ngành GDTC trường ĐHCT.
Bảng 3.1.5. Mức độ hài lòng bài tập thể lực môn Phổ tu thể dục của nam sinh viên
chuyên ngành GDTC trường
Bảng 3.6 Bảng phân tích nhóm nội dung các câu hỏi có số liệu thu thập được
ĐHCT.


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH ẢNH


HSSV

Học sinh sinh viên

TCTL

Tố chất thể lực

ĐHCT

Đại học Cần Thơ


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU………………………………………….. ……
1
1.
ĐẶT VẤN ĐỀ……………………………………………………. 1
2.
MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU…………………
5
2.1 Mục đích nghiên cứu………………………………………………... 5
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………………..... 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ……...... 6
1.1 PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT TRONG CÁC HỌC THUYẾT GIÁO DỤC
CON NGƯỜI PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN …………………........
6
1.1.1 Các tư tưởng tiến bộ về giáo dục con người phát triền toàn diện... 6
1.1.2 Quan điểm của các học giả nổi tiếng về con người và giáo dục thể

1.4.4.1. Thể dục được thừa nhận là một phương tiện giáo dục thể chất cho con
người………………………………………………..............................
35
1.4.4.2. Thể dục thi đấu………………..................................................
36
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU…….. 41
2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ……………………. ................. 41
2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu:……….. ................
41
2.1.2 Phương pháp phỏng vấn:……………..........................................
41
2.1.3 Phương pháp toán thống kê:……………....................................
42
2.2 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU……………...........................................
42
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu…………………..........................................
42
2.2.2 Khách thể nghiên cứu………………….........................................
42
2.2.3 Địa điểm nghiên cứu………….......................................................
43
2.2.4 Thời gian nghiên cứu………….....................................................
43


2.2.5 Kế hoạch nghiên cứu:…………….............................................
2.2.6 Trang thiết bị và dự trù kinh phí:………….....................................
2.2.6.1 Trang thiết bị: Phiếu phỏng vấn, viết….. .....................................
2.2.6.2 Dự trù kinh phí:…………………....................................................


53
3.3.2 Giải pháp nâng cao mức đô hài lòng môn học Phổ tu thể dục của nam
sinh viên chuyên ngành Giáo Dục Thể Chất trường Đại học Cần Thơ….. 54

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……………………….................
1.
KẾT LUẬN……………………….....................................

60
60

2.

61

KIẾN NGHỊ………………….......................................................


Luận văn tốt nghiệp

PHẦN MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, Đảng và Nhà nước ta
luôn coi trọng vị trí của công tác thể dục thể thao đối với thế hệ trẻ xem đó là động
lực quan trọng và khẳng định cần có chính sách chăm sóc Giáo dục - Đào tạo thế hệ
trẻ Việt Nam phát triển hài hòa về thể chất, tinh thần, trí tuệ và đạo đức. Đó là
những con người “Phát triển về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh
thần, trong sáng về đạo đức”.
Ngoài thể dục vệ sinh đã có từ trước, thể dục sản xuất và thực dụng nghề
nghiệp được áp dụng trong nhà máy, xí nghiệp, các trường chuyên nghiệp và đại

ớt một phần. Mỗi người dân khỏe mạnh, là góp phần cho cả nước khỏe mạnh. Vậy
luyện tập thể dục, bồi dưỡng sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân yêu nước”.
Nghe theo lời kêu gọi của Bác, luyện tập thể dục đã trở thành phong trào toàn dân,
đặc biệt trong các lực lượng vũ trang. Từ cuối năm 1946, nhân dân ta lại bắt đầu
cuộc kháng chiến 9 năm và việc tập luyện thể dục tiếp tục được duy trì trong các cơ
quan ở chiến khu, ở các đơn vị bộ đội, các bệnh viện dã chiến, góp phần quan trọng
tăng cường sức chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ để chiến thắng thực dân Pháp, lập lại
hòa bình trên một nửa đất nước.
Như vậy, có thể nói các bài tập thể dục thể thao nói chung và thể dục nói riêng,
được hình thành tự nhiên từ cuộc sống lao động của người Việt Nam cổ xưa, đã
được tồn tại dưới các dạng truyền dạy, giáo dục, thi đấu. Các bài tập này được thể
hiện dưới hình thức các trò chơi dân gian, nhào lộn, luyện thở, bơi lội, vật, võ, chèo
thuyền, chạy, nhảy, bắn cung v.v.. Trong suốt bốn nghìn năm lịch sử của dân tộc
Việt Nam, các bài tập thể dục đã thực sự góp phần vào việc rèn luyện thể lực, hình
thành các kỹ năng, kỹ xảo vận động cho nhiều thế hệ con người, nâng cao tinh thần
thượng võ dân tộc, là nguồn năng lượng tinh thần cực kỳ to lớn để xây dựng một
nền thể dục thể thao nói chung, và thể dục nói riêng, mang tính chất dân tộc, khoa
học và hiện đại ngày nay. Song cho đến một phần ba cuối thế kỷ XVIII, trước thời
kỳ thực dân Pháp xâm lược nước ta, các bài tập thể dục được phát triển trong khuôn
khổ các hoạt động thể thao dân tộc truyền thống, chưa trở thành môn tập luyện và
thi đấu độc lập. Khi thực dân Pháp cai trị, với chính sách khai hóa thuộc địa, đem
2


Luận văn tốt nghiệp

“văn minh” đến cho người bản xứ nhằm nô dịch lâu dài đất nước ta, một số môn thể
thao mới được đưa vào Việt Nam, trong đó có các bài tập thể lực và thể dục thi đấu.
Tuy nhiên, trong một thời gian dài gần 100 năm, các bài tập này chỉ thịnh hành ở
các trại lính, công sở và trường học của Pháp và chính quyền bù nhìn. Đại bộ phận

giảng dạy và huấn luyện nhằm đảm bảo cho người tập đạt hiệu quả cao nhất. Các bài
tập được sử dụng trong giảng dạy và huấn luyện phải đảm bảo tính khoa học, được
nghiên cứu trong lý luận và được kiểm chứng trong thực tiễn. Ngoài ra trong quá
trình tập luyện, giáo viên, huấn luyện viên và người tập phải nổ lực sáng tạo, bởi
kiểm tra đạt kết quả cao hiển nhiên là dấu ấn của việc giảng dạy và huấn luyện có
hiệu quả. Trong đó môn học phổ tu thể dục là một môn học được hình thành muộn
hơn so với các môn thể thao khác, song lại được thu hút và phát triển nhanh chóng
trên cả nước và được đông đảo thanh niên hưởng ứng tập luyện và thi đấu. Đồng
thời, môn này cũng là một môn thể thao rất được yêu thích nhất là tầng lớp trung
niên, thanh niên, học sinh, sinh viên. Tính đến nay phong trào môn học phổ tu thể
dục đã được phát triển đến trên 40 tỉnh thành và 53 liên đoàn trên cả nước. Trường
Đại học Cần Thơ là một trong nhiều trường đại học cả nước giảng dạy môn học này,
với sự tham gia của nhiều bạn sinh viên đăng ký tham gia học. Vì vậy chất lượng
giảng dạy cần phải không ngừng phát triển tốt và đạt chất lượng cao, để đáp ứng nhu
cầu học tập của các em và đảm bảo sự hài lòng của các em về môn học này. Sự hài
lòng trong học tập giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả học tập của
sinh viên và góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy để ngày càng hoàn thiện, phát
triển môn phổ tu thể dục trong các trường Đại học.
Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết trên để góp phần nâng cao chất lượng
đào tạo của nhà trường nói chung và của môn phổ tu thể dục nói riêng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Đánh giá mức độ hài lòng môn học Phổ tu thể dục của nam
sinh viên chuyên ngành Giáo dục Thể chất trường Đại học Cần Thơ năm học
2014 – 2015”. Nhằm có những đóng góp khách quan nhất từ sinh viên những người
đang theo học chuyên ngành giáo dục thể chất tại trường Đại học Cần Thơ. Đồng
thời, bài nghiên cứu cũng đưa ra những kiến nghị, những biện pháp nhằm khắc phục
những hạn chế làm ảnh hưởng tới sự hài lòng của sinh viên về môn phổ tu thể dục.

4



đạo thời phục hưng như Mông-ten, những người theo chủ nghĩa Xã hội không tưởng
như Xanh-xi-mông, Ô-oen, đến những nhà bác học và giáo dục học nổi tiếng của
Nga như M.V.Lômôxôxốp, V.G.Beeslinski, Usinski, N.G.Strecnsepski và nhiều
người khác nữa, đã ra sức phát triển, bảo vệ tư tưởng của học thuyết về sự phát triển
hài hòa giữa năng lực thể chất và năng lực tinh thần của con người.
Nền văn hóa cổ kính Phương Đông xuất phát từ triết học Phương Đông với nền
tảng của triết học Âm- Dương, Ngũ hành, Bát quái, mục tiêu rèn luyện thể chất của
người Phương Đông của người phát triển toàn diện: về ý, khí, lực… tạo nên một sức
mạnh tổng hợp.
Tuy nhiên, do tính chất của quan hệ xã hội và lịch sử trong tất cả các các chế
độ ấy nên những ý tưởng đó đã không vượt qua khỏi giới hạn của nhũng ước mơ,
tuy cao đẹp nhưng không có điều kiện thành hiện thực.
1.1.2 Quan điểm của các học giả nổi tiếng về con người và giáo dục thể chất
Các-Mác đã mãi mãi đi vào lịch sử nhân loại nhưng người đã sáng lập ra chủ
nghĩa cộng sản khoa học, có tác động to lớn và sâu rộng đối với nhân loại tiến bộ.
Các-Mác cũng là người rất quan tâm đến việc phát triển con người toàn diện để xây
dựng một xã hội mới theo nguyên lý chủ nghĩa cộng sản. Trên cơ sở việc nghiên cứu
sâu sắc các quy luật khách quan của sự phát trển xã hội, Các-Mác và Ăng-Ghen đã
chứng minh việc phát triển của giáo dục phụ thuộc vào điều kiện sống vật chất,

6


Luận văn tốt nghiệp

khám phá ra bản chất xã hội, bản chất của giai cấp, đồng thời chỉ ra rằng trong xã
hội chủ nghĩa cộng sản tương lai con người phát triển toàn diện là tất yếu khách
quan, bởi vì đó là nhu cầu của xã hội. Nhấn mạnh về vấn đề này, cũng theo Các-Mác
thì kết hợp với lao động sản xuất với trí dục và thế dục, đó không những là biện
pháp để tăng thêm sức sản xuất của xã hội, mà còn là biện pháp duy nhất để đào tạo

Nghiên cứu quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh,
giáo dục còn góp phần đáp ứng những yêu cầu mới của công tác tư tưởng lý luận.
Trong công tác xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy lý luận
chính trị về giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cần
phải được quan tâm thường xuyên và hiệu quả hơn.
1.1.3 Quan điểm Mác – Lênin và Hồ Chí Minh về con người và giáo dục thể
chất
Giáo dục là quá trình thống nhất của sự hình thành tinh thần của mỗi các nhân
trong xã hội. Giáo dục không thể tách rời cuộc sống của con người, của xã hội, nó là
một hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người. Trong quá trình tiến hóa của nhân
loại, giáo dục xuất hiện cùng với sự xuất hiện của loài người, khi con người có mối
quan hệ với tự nhiên bằng công cụ và bằng việc lĩnh hội kinh nghiệm của thế hệ
trước cho thế hệ sau. Giáo dục như một phương thức của xã hội đảm bảo việc thừa
kế văn hóa, phát triển nhân cách.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục là
hệ thống những tri thức sâu sắc và toàn diện về giáo dục. Để khai thác nguồn di sản
quý giá này cần tập trung đi sâu vào phân tích những khía cạnh cụ thể của chỉnh thể
thống nhất ấy. C.Mác và Ph.Ăngghen là những người đầu tiên đã nghiên cứu giáo
dục một cách khoa học. Ph.Ăngghen đã khẳng định rằng nền công nghiệp do toàn xã
hội thực hiện một cách tập thể và có kế hoạch thì rất cần có những con người có
năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông toàn bộ hệ thống sản xuất. Như thế,
mục đích của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa là làm cho những thành viên trong xã
hội đó có khả năng sử dụng một cách toàn diện năng lực phát triển của mình. Trên
tinh thần đó, các nhà kinh điển mácxít đều khẳng định mục đích của nền giáo dục xã
hội chủ nghĩa là đào tạo nên những con người xã hội chủ nghĩa, những người lao
động mới có ý thức và đạo đức xã hội chủ nghĩa, có trình độ văn hóa và khoa học

8



triệt để. Hơn nữa, Người khẳng định giáo dục có vai trò to lớn cho sự vận động và
9


Luận văn tốt nghiệp

phát triển của các lĩnh vực trọng yếu trong đời sống xã hội, trong quá trình xây dựng
xã hội mới – xã hội chủ nghĩa. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đòi hỏi mỗi cá
nhân cần cố gắng học tập văn hóa, học tập khoa học kĩ thuật. Để đạt được những yêu
cầu của nền giáo dục mới này, hình thức giáo dục này phải được thay đổi tương
xứng. Việc dạy và việc học phải kết hợp nhuần nhuyễn cả hình thức truyền thống
lẫn hình thức hiện đại, theo đó dạy và học diễn ra mọi lúc mọi nơi. Học ở trường,
học trong sách vở, học tập lẫn nhau, học tập ở nhân dân, trong lao động...
Trên tinh thần đó, nội dung giáo dục phải được bổ sung và hoàn thiện. Các nhà
sáng lập chủ nghĩa Mác đã đưa ra nội dung của nền giáo dục toàn diện là phải bao
gồm: đức dục, trí dục, thể dục và mỹ dục. Đặc biệt chú trọng việc giáo dục đạo đức
cách mạng và giáo dục lý luận chính trị cho giai cấp công nhân và nhân dân lao
động.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng
tạo và phái triển các quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin về giáo dục vào điều kiện
thực tiễn Việt Nam. Muốn có chủ nghĩa xã hội thì cần phải có con người xã hội chủ
nghĩa. Muốn đạt được mục tiêu này, nội dung giáo dục phải đảm bảo tính dân tộc,
tính quần chúng và tính hiện đại. Trong đó, đặc biệt chú trọng đến giáo dục - đào tạo
cán bộ trên cả hai mặt “đức” và “tài”, lấy “đức” làm cơ sở vững chắc cho “tài” năng
phát triển.
Hơn nửa thế kỷ lãnh đạo cho sự nghiệp giáo dục Việt Nam, Đảng Cộng sản
Việt Nam không ngừng khai thác, vận dụng và phát triển các quan điểm của chủ
nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục. Đảng ta khẳng định cùng
với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồ dưỡng nhân tài tạo cơ sơ vật chất cho đất nước phát

Trong vui chơi cũng có giáo dục. Cần có nhũng thứ vui chơi văn hóa, thể thao có
tinh thần tập thể và quần chúng. Trường học, gia đình và đoàn thể thanh niên cần
phải chú ý đến giáo dục tư tưởng, thái độ hoat động và sinh hoạt hàng ngay của
thanh niên để kịp thời khuyến kích, uốn nắn, sửa chữa…” ( Hồ Chí Minh – Bàn về
công tác giáo dục – Nhà xuất bản thật 1972).
Các sự kiện và những văn bản nói trên đã chứng minh rằng: từ Cách mạng
tháng Tám và năm 1946, khi chúng ta vừa dành được chính quyền và đã chống lại 3
thứ giặc (đói – dốt – ngoại xâm) thì Trung ương Đảng và Bác Hồ đã nêu ra quan
điểm, tư tưởng chỉ đạo cho công tác thể dục thể thao đối với thế hệ trẻ. Vì đó là lực
11


Luận văn tốt nghiệp

lượng chính của toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng (trong đó có sự nghiệp Giáo
dục – Đào tạo và thể dục thể thao). Về mặt tổ chức, cơ quan quản lí nhà nước đầu
tiên và cao nhất về thể dục thể thao được đặt trong Bộ quốc gia Giáo dục (trước đó
là trong Bộ thanh niên). Điều này càng thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và
Bác Hồ về công tác giáo dục thể chất và thể dục thể thao ở trường học. Từ Đó đến
nay, trong mỗi kỳ Đại hội Đảng toàn quốc hoặc trong từng nhiệm kỳ, Trung ương
Đảng đều ban hành các Nghị quyết, Chỉ thị Thông trị về thể dục thể thao nó chung
và thể dục thể thao trường học nói riêng.
Đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần thứ III tháng 9/1960, đã định hướng công
tác giáo dục và rèn luyện thể chất đối với tuổi trẻ học đường. Chủ trương này đã
được Hội nghị Trung ương lần thứ XIII tháng 04/1963 phát triển lên một bước mới,
phù hợp với nguyên lý của chủ nghĩ Mác về phát triển con người toàn diện. Nghị
quyết Đại hội Đảng lần thứ III đã chỉ rõ công tác giáo dục phải được phát triển theo
quy mô lớn, nhằm bồi dưỡng thế hệ trẻ thành người lao động làm chủ nước nhà, có
giác ngộ xã hội chủ nghĩa, có văn hóa và khoa học kỹ thuật, có sức khỏe nhằm phục
vụ đắc lực cho việc đào tạo cán bộ và nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân lao

chúng, nhất là ở trường học.
Chỉ thị 108/ CT-TW ngày 13/01/1960 của Ban Bí thư trung ương Đảng về
công tác thể dục thể thao và chỉ thị 108/CT-TW ngày 26/08/1970 của ban bí thư
trong ương Đảng về tăng cường công tác thể dục thể thao trong các những năm tiếp
theo là một bước phát triển mới, xác định tầm quan trọng của thể dục thể thao, coi
thể dục thể thao trở thành nhu cầu của quần chúng, là một phần của sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ trương trên cũng đã đề cập tới sự phát triển phong trào
thể dục thể thao trong học sinh và sinh viên.
Chỉ thị 112/CT ngày 09/05/1989 của Hội đồng Bộ trưởng về công tác thể dục
thể thao trong thời gian tới có ghi: “...Đối với HSSV, trước hết nhà trường phải thực
hiện nghiêm túc việc dạy và môn học TDTT theo chương trình quy định, có biện
pháp tổ chức, hướng dẫn các hình thức tập luyện và hoạt động thể thao tự nguyện
ngoài giờ học...”
Chỉ thị 36/CT-TW ngày 24/03/1994 về công tác thể dục thể thao trong giai
đoạn mới, Ban Bí thư trung ương Đảng xác định mục tiêu đến năm 2000, thể dục thể
thao trường học phải đạt là “ Thực hiện giáo dục thể chất trong tất cả trường học.
Làm cho tập việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết
13


Luận văn tốt nghiệp

HSSV...”Muố vậy thì “... Ban cán sự Đảng Tổng cục TDTT phải phối hợp chỉ đạo
tổng kết công tác GDTC, cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân
thể, đào tạo giảng viên TDTT cho trường học các cấp, tạo điều kiện cần thiết về
CSVC thực hiện chế độ GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học...”
Chỉ thị 17 CT-TW ngày 23/10/2002 về phát triển TDTT đế năm 2010, Ban
Bí thư trung ương Đảng xác định “....Đẩy mạnh hoạt động TDTT ở trường học, tiến
tới mỗi trường học điều có giáo viên thể dục chuyên trách và lớp học thể dục đúng
tiêu chuẩn, tạo điều kiện nâng cao GDTC ; xem đây là một tiêu chí công nhận

thị 36/CT-TW.
Thông tư số 2869/GDTC ngày 04/05/1995 về việc hướng dẫn thực hiện chỉ thị
133/CT-TW.
Chương trình mục tiêu “cải tiến nâng cao chất lượng GDTC, sức khỏe, phát
triển và bồi dưỡng tài năng trẻ thể thao HSSV trong nhà trường các cấp giai đoạn
1995-2000 và đến năm 2005”, đã hoàn thiện và trình Chính phủ phê duyệt.
Quy hoạch phát triển công tác GDTC của ngành Giáo dục – Đào tạo giai đoạn
1996-2000 đến 2025 của Bộ Giáo dục – Đào tạo (1996).
Trong các trường đại học, cao đẳng GDTC có công tác tích cực trong viêc hoàn
thiện cá tính, nhân cách, những phẩm chất cần thiết cho nghiệp vụ và hoàn thiện thể
chất của SV. Việc tiến hành GDTC nhằm giữ gìn sức khỏe và phát triển thể lực, tiếp
thu kiến thức và khả năng vận động cơ bản, còn có tác động chuẩn bị tốt về mặt tâm
lý và tinh thần cho người cán bộ tương lai. Đồng thời giúp họ hiệu biết phương pháp
khoa học, để tiếp tục rèn luyện thân thể, củng cố sức khỏe, góp phần xây dựng
phong trào TDTT trong nhà trường. Do vậy, Bộ Giáo dục – Đào tạo đã ban hành
chương trình GDTC trong các trường đại học cao đẳng: “Chương trình GDTC trong
các trường đại học nhầm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục: Trang bị kiến thức, cung
cấp cho SV những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và phương pháp tập luyện
TDTT, góp phần duy trì cung cấp sức khỏe của SV”.
Luật thể dục, thể thao năm 2006 quy định “ Giáo dục thể chất là môn học chính
khóa, thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ
bản cho người học trong qua các bài tập và trò chơi vận động, gớp phần thực hiện
mục tiêu giáo dục toàn diện. Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tư
nguyện của người học được tổ chức theo phương thức ngoại khóa phù hợp với sở

15


Luận văn tốt nghiệp




Luận văn tốt nghiệp

1.2. NHỮNG QUAN ĐIỂM VỀ GIÁO DỤC THỂ CHẤT
GDTC ở nước ta thường được gọi là TDTT trường học, nó là một bộ phận
quan trọng cấu thành nên TDTT ở trường học, đồng thời nó cũng là nền tảng TDTT
toàn dân.
GDTC cũng như các hình thức giáo dục khác, về bản chất là một quá trình sư
phạm với đầy đủ các đặc trưng cơ bản của nó. Sừ khác biệt chủ yếu của GDTC với
các hình thức giáo dục khác ở chổ GDTC là quá trình hướng đến việc hoàng thành
kỹ năng kỹ xảo vận động, phát triển các TCTL, hoàn thiện về hình thái và chức năng
của cơ thể, qua đó trang bị kiến thức về mó liên quan của chúng. Như vậy GDTC
như một hình thức độc lập tương đối của quá trình giáo dục, có quan hệ khách quan
với các hình thức giáo dục khác: đạo đức , trí thức, thẩm mỹ, lao động... trong giáo
dục con người toàn diện.
C.Mác quan điểm giáo dục có ba điều: Một là giáo dục trí óc, hai là GDTC và
ba là giáo dục kỹ thuật. Về vị trí của TDTT trong tương lai, C.Mác đã nhấn mạnh:
“Trong nền giáo dục của xã hội tương lai, lao động và khoa học sẽ chiếm địa vị
ngang nhau, TDTT, lao động chân tay và lao động trí óc sẽ phải bổ trợ cho nhau bởi
vì đó là phương pháp duy nhất để phát triển con người toàn diện và cũng là biện
pháp đáng tin cậy nhất để tăng sản xuất của xã hội”.
V.I.Lê Nin quan niệm: “Trong các trường học cần phải tiến hành theo dõi sự
phát triển thể lực và trí lực của trẻ em và tiến hành tập TDTT, trò chơi, du lịch...”
GDTC trong hệ thông quan điểm của Đảng và Nhà nước ta.
GDTC là một trong những mục tiêu giáo dục toàn diện của Đảng và Nhà nước
ta, và nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân. GDTC được hiểu là: “Quá trình sư
phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất va nhân cách, nâng
cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ cho con người”.
Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của vai trò sức khỏe đối với vận mệnh đất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status