TRƯ Ờ N G ĐẠI H Ọ C s ư PHẠM HÀ N Ộ I 2
K H______________________•
O A C ồ N G N G H Ệ______________
T H Ô N G T IN
TẠ THỊ HƯƠNG
PHƯƠNG PHÁP GỢI ĐỘNG c ơ HOẠT ĐỘNG
•
TRONG VIỆC
LẶP
Ở
• GIẢNG DẠY
• CÂU LỆNH
•
•
TIN HỌC LỚP 11
•
•
•
9
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•
•
•
Tạ Thị Hương
1
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là bài nghiên cứu của riêng em và được sự hướng
dẫn của TS. Lưu Thị Bích Hương. Các nội dung nghiên cứu, kết quả đều là
trung thực và chưa công bố dưới bất kì hình thức nào trước đây. Những số
liệu kết quả được chính em thu thập trong thòi gian thực tập tại trường THPT
Đông Anh.
Ngoài ra, trong khóa luận có sử dụng các cơ sơ lý thuyết đều có trích
dẫn và chú thích nguồn gốc.
Neu phát hiện có bất kỳ gian lận nào, em xin chịu toàn bộ ttách nhiệm
về nội dung khóa luận của mình.
Hà Nội, tháng 03 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Tạ Thị Hương
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................................................5
CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ IH ự C TIỄN CỦA ĐỀ T À I................ 8
1.1
•
•
•
•/
1.4.1 Thực trạng việc triển khai lí thuyết hoạt động trong dạy học Tin học
ở trường trung học phổ thông Đông A n h .................................................... 23
1.4.2 Thực trạng việc thực hiện gợi động cơ hoạt động trong dạy học Tin
ĩ
I
o
I
•
■
o
■
•
ơ
bài tập ví dụ.....................................................................................................36
CHƯƠNG 3: THựC NGHIỆM s ư PHẠM.................................................. 40
3.1 Mục đích thực nghiệm............................................................................. 40
3.2 Đối tượng thực nghiệm........................................................................... 40
3.3 Nội dung thực nghiệm...............................................................................41
3.4 Kết quả thực nghiệm.................................................................................56
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN..................................................... 58
PHỤ LỤC 1.....................................................................................................61
PHỤ LỤC 3 .....................................................................................................63
PHỤ LỤC 4 .....................................................................................................64
PHỤ LỤC 5 .....................................................................................................65
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại Công nghệ thông tin ngày càng phát triển, máy tính
được sử dụng phổ biến ở tất cả mọi lĩnh vực đời sống. Vì vậy, việc giảng dạy
Tin học trong các trường đại học, trung học và phổ thông cũng được đẩy
mạnh để phù hợp với nhu càu của xã hội. Đối với mỗi giáo viên giảng dạy
môn Tin học ở các trường phổ thông, việc tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề về
Tin học, cùng với việc tìm các biện pháp giảng dạy Tin học làm sao để học
sinh hứng thú, chăm chú học và tìm tòi theo là một công việc cần phải làm
thường xuyên và đòi hỏi nhiều tâm huyết.
“Dạy học là một dạng hoạt động đặc trưng của loài ngưòi nhằm truyền
lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm xã hội mà loài người đã tích lũy được,
biến chúng thành vốn liếng, kinh nghiệm và phẩm chất năng lực cá nhân
người học” [1]. Hoạt động dạy học bao gồm hai hoạt động mật thiết tác động
qua lại lẫn nhau: Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh.
cấu trúc lặp như thế nào? Đó là điều đang được quan tâm. Chính vì vậy, em
mạnh dạn thực hiện đề tài “Phương pháp gợi động cơ hoạt động trong việc
giảng dạy câu lệnh lặp ở Tin học lớp 11” hy vọng sẽ góp phàn nâng cao chất
lượng dạy học bộ môn Tin học ở trường em thực tập.
2. Mục đích nghiên cứu
- Đưa ra những phương pháp gợi động cơ hoạt động trong việc giảng
dạy câu lệnh lặp.
- Nâng cao hiệu quả giảng dạy câu lệnh lặp nói riêng và bộ môn Tin
học ở trường trung học phổ thông Đông Anh nói chung.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thông qua các YÍ dụ gợi hoạt động để học sinh giải quyết các bài
toán.
- Thực nghiệm sư phạm để đúc rút kinh nghiệm giảng dạy câu lệnh
lặp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 11.
- Phạm vi nghiên cứu: Trường trung học phổ thông Đông Anh.
6
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- v ề mặt lý luận: Áp dụng phương pháp gợi động cơ hoạt động trong
việc giảng dạy câu lệnh lặp ở tin học lớp 11.
- v ề mặt thực tiễn: Góp phần cải thiện tình trạng học thụ động bộ
môn Tin học ở trường trung học phổ thông Đông Anh.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các văn bản, nghị
quyết của Đảng, của Chính phủ, của ngành giáo dục về đổi mới
tồn tại của cuộc sống chủ thể. Hoạt động sinh ra từ nhu cầu nhưng lại được
điều chỉnh bỏi mục tiêu mà chủ thể nhận thức được. Như vậy, hoạt động là hệ
toàn vẹn gồm hai thành tố cơ bản: Chủ thể và đối tượng; chúng có tác động
lẫn nhau, sinh thành ra nhau tạo ra sự phát triển của hoạt động. Hoạt động học
là yếu tố quan trọng và có tính chất quyết định, thông thường các hoạt động
khác hướng vào làm thay đổi khách thể (đối tượng của hoạt động) trong khi
đó hoạt động học lại làm cho chính chủ thể hiện hoạt động thay đổi và phát
triển. Dĩ nhiên cũng có khi hoạt động học lại làm thay đổi khách thể nhưng đó
chỉ là phương tiện để đạt mục đích làm cho người học phát triển năng lực
nhận thức (chẳng hạn trong thí nghiệm yật lí, hóa học). Hoạt động là mắt xích
hình thành nên mối liên hệ hữu cơ giữa mục đích, nội dung và phương pháp
dạy học.
Mỗi nội dung dạy học đều liên hệ mật thiết với những hoạt động nhất
định. Đó là những hoạt động đã được tiến hành trong quá trình hình thành và
vận dụng nội dung đó. Cho nên, để đảm bảo được nội dung dạy học, thu được
kết quả như mong muốn chúng ta cần tổ chức cho chủ thể học sinh tiến hành
hoạt động một cách tự giác và hiệu quả. Cụ thể là:
8
Bắt đàu từ một nội dung dạy học ta càn phát hiện ra những hoạt động
liên hệ với nó rồi căn cứ vào mục đích dạy học mà lựa chọn để tập luyện cho
học sinh một số trong những hoạt động đã phát hiện được. Việc phân tích một
hoạt động thành những hoạt động thành phàn giúp ta tổ chức cho học sinh tiến
hành những hoạt động với mức độ vừa sức với họ và đây là tư tưởng chủ đạo
để đi đến xu hướng cho học sinh thực hiện và tập luyện những hoạt động và
hoạt động thành phàn tương thích với nội dung và mục đích dạy học.
Hoạt động thúc đẩy sự phát triển là hoạt động mà chủ thể thực hiện một
cách tích cực và tự giác. Vì thế, càn gắn liền với gợi động cơ để học sinh ý
thức rõ ràng vì sao thực hiện hoạt động này hay hoạt động khác. Chính vì vậy,
hoạt động và hoạt động thành phàn tương thích vói nội dung và mục tiêu dạy
học.
Một hoạt động của người học được gọi là tương thích với nội dung dạy
học nếu nó có tác động góp phần kiến tạo hoặc củng cố, ứng dụng. Những tri
thức được bao hàm trong nội dung đó hoặc rèn luyện những kỹ năng, hoặc
hình thành những thái độ có liên quan.
Việc phát hiện những hoạt động tương thích vói nội dung căn cứ một
phần quan trọng vào sự hiểu biết về những dạng nội dung khác nhau: Khái
niệm, câu lệnh hay phương pháp, những con đường khác nhau để dạy học
từng dạng nội dung, chẳng hạn con đường quy nạp hay suy diễn để xây dựng
khái niệm, con đường thuần túy suy diễn hay có pha chút suy đoán để học tập
câu lệnh.
Ở mỗi con đường trên, ta càn chú ý xem xét những dạng hoạt động
khác nhau trên những bình diện khác nhau như:
- Nhận dạng và thể hiện.
- Những hoạt động Tin học phức họp.
- Những hoạt động trí tuệ chung.
- Những hoạt động ngôn ngữ.
1.2.2 Động cơ hoạt động
Từ việc học tập tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo đòi hỏi học sinh
phải có ý thức về mục tiêu đặt ra và tạo động lực bên trongthúc đẩy bản thân
10
học sinh hoàn thành mục tiêu đó. Điều này được thực hiện trong dạy học
không chỉ đơn giản bằng việc nêu rõ mục tiêu càn đạt mà quan trọng hơn còn
do gợi động cơ.
Gợi động cơ hoạt động làm cho học sinh có ý thức về ý nghĩa của
những hoạt động và của đối tượng hoạt động. Gợi động cơ ở đây nhằm biến
những mục tiêu sư phạm thành mục tiêu của cá nhân học sinh. Việc gợi động
được vào lúc cuối cùng hay ở những thời điểm trung gian.
Mức độ yêu cầu của hoạt động có thể lâu dài (một chương, một lớp,
một bậc học) cũng có thể được hiểu là những mức độ khó khăn hay mức độ
yêu cầu trong một khoảng thòi gian ngắn, trong một tiết học.
Đe phân bậc hoạt động được tốt, ta cần nắm được những căn cứ để tiến
hành việc này:
-
Sự phức tạp của đối tượng hoạt động.
-
Sự trừu tượng, khái quát hóa của đối tượng.
- Nội dung của hoạt động.
- Sự phức hợp của hoạt động.
- Chất lượng của hoạt động.
- Phối hợp nhiều phương diện làm căn cứ phân bậc hoạt động.
Từ đây, ta có thể điều khiển quá trình học tập dựa vào sự phân bậc hoạt
động:
Chính xác hóa mục tiêu: Neu không dựa vào sự phân bậc hoạt động
thì người ta thường để ra mục tiêu dạy học một cách quá chung
chung như: “Nắm vững khái niệm lặp”. Nhờ phân bậc hoạt động, ta
có thể đề ra mục tiêu một cách chính xác hơn, chẳng hạn, sau khi
học xong bài cấu trúc lặp, học sinh cần đạt được các mục tiêu sau:
+ Xác định được bài toán nào dùng câu lệnh lặp với số lần biết
trước, bài nào dùng câu lệnh lặp với số lần chưa biết trước.
+ Viết chính xác cấu trúc của câu lệnh gán.
- Tuần tự nâng cao yêu cầu.
- Tạm thòi hạ thấp yêu cầu khi càn thiết: Trường hợp học sinh gặp
động để đạt được các mục tiêu đó. Điều này được thực hiện trong dạy học
không chỉ đơn giản bằng việc nêu rõ mục tiêu mà quan trọng hơn còn do gợi
động cơ.
13
Chính vì mọi hoạt động đều có động cơ của nó, mặc dù động cơ có thể
được nhận diện một cách tường minh hay ẩn bên trong hoạt động, nên việc
gợi động cơ là cần thiết, bởi học sinh do hạn chế về trình độ nhận thức nên
không phải khi nào họ cũng có ý thức về ý nghĩa của hoạt động và đối tượng
của hoạt động; tạo cho họ có được sự say mê, hứng thú, ham muốn tìm tòi,
suy nghĩ khám phá, tiến hành những hoạt động.
Gợi động cơ được hiểu cả ở tầm vĩ mô lẫn vi mô. Ở tầm vĩ mô (tức là
gợi động cơ hoạt động học tập nói chung) càn phải có sự tham gia của toàn xã
hội, trong cũng như ngoài ngành giáo dục để tương hỗ thích họp với động cơ
ở tàm vi mô (gợi động cơ trong phạm vi dạy học của giáo viên), để cho giáo
viên gợi động cơ học tập của học sinh đạt kết quả cao nhất.
Có nhiều phương thức để gợi động cơ cho học sinh: Ở các lớp dưói,
giáo viên thường dùng những cách như cho điểm, khen, chê,... để gợi động
cơ. Càng lên lớp cao, cùng với sự trưởng thành của học sinh thì cách gợi động
cơ xuất phát từ nội dung hướng vào những nhu càu nhận thức, nhu càu đòi
sống, trách nhiệm đối với xã hội ngày càng trở nên quan trọng.
Gợi động cơ không phải là việc làm ngắn ngủi lúc bắt đầu dạy một tri
thức (một bài học) nào đó mà phải xuyên suốt quá trình dạy học. Vì vậy có
thể phân biệt gợi động cơ mở đầu, gợi động cơ trung gian và gợi động cơ kết
thúc..
1.3.2 Các cách gợi động cơ
a, Gợi động cơ mở đầu
Ta thường vận dụng gợi động cơ mở đầu khi bắt đầu một nội dung của
một chương, một bài hoặc một phần nào đó của bài. Có thể gợi động cơ mở
điểm của nó và có thể dần tiến tới hoạt động tín học một cách độc lập. Những
cách gợi động cơ từ nội bộ tin học thông thường:
Đáp ứng nhu cầu xóa bỏ môt sư han chế
Gợi động cơ gắn liền với nhu cầu của con người, xóa bỏ sự hạn chế
trong thực tế khi thực hiện chương trình, làm cho chương trình ngắn gọn, dễ
hiểu, sáng sủa và gần gũi với tư duy của con người hơn.
Hướng tới sư tiên lơi, hơp lí hóa công viêc
15
Giúp tiết kiệm thời gian khi xây dựng chương trình, cũng nhờ đó, học
sinh biết thêm về sự tiện lọi thông qua việc gợi động cơ.
Chính xác hóa môt khái niềm
Có những khái niệm mà học sinh đã biết ở từng bài riêng lẻ nhưng chưa
thể đưa ra được những nhận xét, những kết luận chính xác lên quan tới khái
niệm đó, tới một thời điểm nào đó có đủ điều kiện thì giáo viên gợi lại vấn đề
giúp học sinh chính xác hóa khái niệm đó.
Hướns tới sư hoàn chỉnh và hê thống
Trước khi dạy một phàn chương trình hoặc một phần mà có nhiều kiến
thức liên quan đến nhau, giáo viên có thể trình bày sơ đồ liên hệ giữa các kiến
thức đã học để học sinh có cái nhìn tổng quan hơn về những kiến thức sắp
được học.
Lât ngược vấn đề
Sau khi đã giải quyết được một vấn đề, một câu hỏi rất tự nhiên được
đặt ra là vấn đề ngược lại được giải quyết như thế nào? Cách lật ngược vấn đề
giúp học sinh khắc sâu thêm phàn kiến thức đã học.
Xét tươm tự
Từ kiến thức đã học, chúng ta đi đến gợi động cơ, đưa ra điểm tương
đồng giữa kiến thức đó để học sinh dễ hình dung và hiểu bài hơn.
Khái quát hóa
Trong nội dung dạy học, khi gặp một bài toán mới mà học sinh chưa
biết cách giải, ta cần hướng dẫn học sinh tách bài toán mới đó thành những
bài toán con đã biết cách giải. Đây chính là quy lạ về quen trong việc gợi
động cơ trung gian.
Xét tương tư
Từ những bài toán học sinh đã lập trình được, giáo viên đưa ra các ví
dụ tương tự và soạn hệ thống các câu hỏi để hướng học sinh tự vận dụng vào
bài.
Khái quát hóa
Khái quát hóa giúp học sinh xuất phát từ một trường hợp cụ thể để đưa
ra cấu trúc tổng quát giải quyết các bài toán đặt ra.
c, Gợi động cơ kết thúc
17
Nhiều khi, ngay từ đầu hoặc trong khi giải quyết vấn đề, ta chưa thể
làm rõ tại sao lại học nội dung này, tại sao lại thực hiện nội dung kia. Những
câu hỏi này phải đợi mãi về sau mới được giải đáp hoặc giải đáp trọn vẹn.
Như vậy là ta đã gợi động cơ kết thúc, nhấn mạnh hiệu quả của nội dung hoặc
hoạt động đó với việc giải quyết vấn đề đặt ra.
Gợi động cơ kết thúc cũng có tác dụng nâng cao tính tự giác trong hoạt
động học tập như các cách gợi động cơ khác. Mặc dù nó không có tác dụng
kích thích đối với nội dung đã học qua hoặc hoạt động đã thực hiện, nhưng nó
góp phần gợi động cơ thúc đẩy hoạt động học tập nói chung.
1.3.3 Mối liên hệ giữa gợi động cơ và các hoạt động khác trong dạy học
Như chúng ta đã biết, bản thân của hoạt động và hoạt động thành phần,
gợi động cơ, truyền thụ tri thức và tri thức phương pháp cùng với sự phân bậc
hoạt động là những yếu tố phương pháp mà dựa vào chúng, ta có thể tổ chức
cho chủ thể học sinh tiến hành những hoạt động một cách tích cực, tự giác, có
hiệu quả, đảm bảo sự phát triển nói chung và kết quả học tập nói riêng. Chúng
khăn trong tư duy hoặc hành động mà vốn hiểu biết sẵn có chưa đủ
để vượt qua.
- Gọi nhu cầu nhận thức: Tức là người học sinh phải cảm thấy được
sự cần thiết thấy mình có nhu cầu giải quyết.
- Gây niềm tin ở khả năng: Tức là làm cho học sinh thấy rõ tuy chưa
có ngay lòi giải nhung đã có một số kiến thức, kĩ năng liên quan đến
vấn đề được đặt ra và họ tin rằng nếu tích cực suy nghĩ thì sẽ giải
quyết được.
Kiểu dạy học mà giáo viên tạo tình huống gọi vấn đề, điều khiển học
sinh phát hiện vấn đề và thông qua đó mà lĩnh hội tri thức, rèn luyện khả năng
và đạt được những mục đích học tập khác gọi là kiểu dạy học giải quyết vấn
đề.
Vấn đề đặt ra là dạy học giải quyết vấn đề có liên hệ gì với xu hướng
tổ chức gợi động cơ hoạt động trong học tập?
Xét về phương diện giáo dục, dạy học giải quyết vấn đề phù họp vói
nguyên tắc tự giác, tích cực, chủ động YÌ nó khơi gợi hoạt động học tập mà
chủ thể được hướng đích, gợi động cơ trong quá trình phát hiện và giải quyết
19
vấn đề. Do vậy gợi động cơ là hoạt động hiệu quả, tốt nhất để thực hiện một
tình huống gọi vấn đề; và một tình huống gợi vấn đề được đưa ra phải là đã
thể hiện gợi động cơ. Gợi động cơ chỉ là một bộ phận, một hoạt động nằm
trong dạy học giải quyết vấn đề, nhưng nó là một bộ phận quan trọng, giữ vai
trò xuyên suốt, chủ đạo. Bằng cách gợi động cơ thì một tình huống gợi vấn đề
đặt ra phải đảm bảo được các điều kiện trên.
Mối liên hệ chặt chẽ được thể hiện rõ nét trong 3 bước dạy học của giải
quyết vấn đề:
Bước 1: Tri giác vấn đề:
+ Tạo tình huống gọi vấn đề.
không khí thụ động trong quá trình học tập. Đe thay đổi không khí học tập đó,
giáo viên phải biết tổ chức các hoạt động dạy học và hoạt động thích họp, tạo
môi trường kích thích khả năng nhận thức của học sinh, mà ở đó học sinh có
sự hứng thú, có sự say mê; từ đó tạo ra sự chủ động, tự giác của một chủ thể
trong quá trình dạy học. Gợi động cơ cùng với hướng đích là con đường sẽ
giúp giáo viên tổ chức các hoạt động để có được một giờ dạy sôi nổi, thoải
mái và hiệu quả.
Như vậy, trong một tiết dạy hoạt động của thầy trò phải như thế nào?
Thầy lên lớp là đảm nhận trách nhiệm chuẩn bị cho học sinh thật nhiều tình
huống phong phú, sẵn sàng trả lời các câu hỏi, biết dìu dắt học sinh hướng tói
những điều tổng hợp cần thiết và trong một số trường hợp từ những quan sát
cục bộ, đơn lẻ của học sinh thầy giáo phải tổng hợp rút ra những nhận xét
chung nhất và hướng học sinh tìm ra cái chung đó. Như thế ừên lĩnh vực Tin
học, trách nhiệm của người thầy cần phải biết làm chủ, chi phối tình huống có
vấn đề để có thể thông hiểu và đánh giá đúng các kiểu tiếp cận của học sinh
để định hướng học sinh. Trên lĩnh vực tâm lí, thầy phải biết khéo léo tế nhị
động viên, khuyến khích học sinh tự mình phát hiện các vấn đề cần thiết, thầy
phải là người bạn lớn của học sinh,
về phía học sinh không còn chủ động
nghe thày giảng giải những khái niệm, câu lệnh mới mà tự mình khám phá
những điều mới mẻ đó bằng cách tự tìm kiếm, phân tích, lí giải thông qua
động cơ của giáo viên. Làm được như vậy, nhất định sẽ tạo ra không khí học
tập sôi nổi, hứng thú trong tiết học và nhất định hiệu quả giờ học sẽ nâng cao.
21
b, Phát huy và rèn luyện tích cực, tự giác và sáng tạo của học sinh trong học
tập.
22
Trong dạy học Tin học hay dạy học nói chung gợi động cơ phải hiểu ở
cả tầm vĩ mô (truyền thụ kiến thức dạy học trong mỗi môn học) lẫn vĩ mô (gợi
động cơ học tập nói chung tại sao lại phải học, học để làm gì, cách học như
thế nào). Để thực hiện được điều này đòi hỏi sự cố gắng của toàn thể xã hội,
trong những ngành ngoài giáo dục. Đặc biệt, bản thân giáo viên phải tự mình
rèn luyện đổi mới phương pháp giảng dạy, tạo cho học sinh một động cơ, một
ham muốn tìm ra con đường đi tới đích, từ đó khêu gợi trí tò mò khoa học, sự
hứng thú khám phá cái mới. Đây chính là biện pháp tạo nên tính tích cực, tự
giác, sáng tạo ttong học tập đồng thời còn là biện pháp giáo dục cho học sinh.
Giải quyết tốt gợi động cơ ở tàm vĩ mô tức là giúp học sinh ý thức sâu
sắc việc học tập của bản thân, ttách nhiệm của mình đối với gia đình, xã
hội.. .là sơ sở cho việc thực hiện hoạt động gợi động cơ ở nội dung cụ thể.
1.4 Cơ sở thực
tiễn của việc
thực
hiện
động
động
■
«
•
«
ogọi
•
•
o cơ hoạt
•
Thứ hai: Theo ý kiến của các giáo viên, việc triển khai lí thuyết hoạt
động có những vướng mắc về sức ỳ của học sinh, do học sinh có thói quen:
Nghe - chép - học thuộc, hơn nữa, rất nhiều học sinh hổng kiến thức ở lớp
dưới nên việc sử dụng lí thuyết hoạt động vói những học sinh này tỏ ra kém
hiệu quả.
Thứ ba: Cũng theo ý kiến của các giáo viên, đó là sự tiêu tốn về thòi
gian (nếu dạy học có triển khai lí thuyết hoạt động) nên thời lượng quy định
dành cho giảng dạy phàn kiến thức nào đó nhiều khi không đủ để truyền đạt
kịp.
1.4.2 Thực trạng việc thực hiện gợi động cơ hoạt động trong dạy học Tin
học trung học phổ thông Đông Anh
Gợi động cơ là một việc làm không hề dễ dàng. Qua một số tiết dự giờ
môn Tin, qua việc điều tra thăm dò với giáo viên Tin ở trường trung học phổ
thông, em được biết rằng việc gợi động cơ để hình thành một khái niệm, một
thuật toán, một câu lệnh chưa được quan tâm và đưa vào thực tiễn dạy học
quá ít, nếu có thì cũng chỉ dừng lại ở gợi động cơ xuất phát từ nội bộ Tin học.
Theo các thầy cô thì sự khó khăn để thực hiện việc gợi động cơ là:
về phía giáo viên: Nhiều khi đối với những khái niệm trừu tượng, ít
quan hệ tói kiến thức đã biết thì khó tạo động cơ (khó đặt ra những vấn đề,
những câu hỏi thích họp) để dẫn dắt học sinh tự hình thành khái niệm, thuật
toán. Hơn nữa, việc gợi động cơ này cũng tiêu tốn nhiều thòi gian.
về phía hoc sinh: Dựa trên phiếu điều tra và tổng kết lại em thu được
kết quả như sau:
Câu 1: Em có cảm thấy sợ khi đến tiết Tin không?
CÓ
32