MỞ ĐẦU
“Hình ảnh của Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp khôn ngoan của
Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học của Mác, thiên tài của Lênin” Nhà sử học
Tourmen đã nói về Bác bằng một câu khái quát như thế. Mấy mươi năm đi qua
ngần ấy thời gian đã đủ làm vật đổi, sao dời. Song, nó cũng làm cho ta thấy nhận
định của Touemen là hoàn toàn đúng đắn. Thế giới ca ngợi Hồ Chí Minh không
những vì người là biểu tượng mẫu mực về đạo đức mà còn là vì tư tưởng về Xây
dựng Đảng cộng sản cầm quyền của Người còn ngọn đuốc hồng cho các Đảng
chính trị trên thế giới soi chung.
Lịch sử nhân loại cho thấy mỗi quốc gia đều cần đến một nền tảng tư tưởng
đúng đắn để nhận thức thế giới và định hướng cho con thuyền quốc gia trong thế
giới đó. Từ khi ra đời đến nay, nước Việt Nam hiện đại đã có một nền tảng tư tưởng
vững chắc, đó là Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng cộng Sản dẫu trải qua
nhiều thay đổi to lớn, nhưng tư tưởng của Người về Xây dựng Đảng vẫn sáng ngời
giá trị lý luận và thực tiễn. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh
không ngừng chăm lo xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam thành một đảng vững
mạnh, tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động
và toàn dân tộc, chỉ ra cho đảng và mọi đảng viên phương hướng tu dưỡng, phấn
đấu, rèn luyện, tránh những sai lầm khuyết điểm để xứng đáng với trọng trách,
xứng đáng với niềm tin mà nhân dân giao phó. Bởi theo Người "Một dân tộc, một
Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất
định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ
không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân" Nhìn lại chặng đường lịch sử
đã qua của nhân loại, nghiền ngẫm lại cuộc động đất chính trị từ sự sụp đổ của
Đảng cộng sản Liên Xô và các nước Đông Âu ở thập niên 90 thế kỷ XX càng
khẳng định sâu sắc hơn tư tưởng của Bác về xây dựng đảng trong điều kiện đảng
1
cộng sản cầm quyền. Những bước phát triển của Đảng ta qua các chặng đường lịch
sử chính là những bước vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa tư tưởng
đại diện cho đảng, đồng thời là đại biểu của nhân dân thực hiện công việc quản lý
nhà nước, tức là hoạt động “cầm quyền”. Điều đó cho thấy, đảng cầm quyền là một
khái niệm gắn với quyền lực. Tức đảng có quyền lực chính trị mà cụ thể là ở việc
“nắm chính quyền” hay “nắm quyền lực nhà nước”. Không những thế, khi đảng
nắm được chính quyền thì đảng không chỉ có quyền lực chính trị, mà “với tư cách
nhà nước, còn có thêm được quyền lực kinh tế”[4; tr. 75].
Theo cách hiểu phổ biến trên thế giới hiện nay, đảng cầm quyền là đảng
giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử dân chủ và cạnh tranh. Trên cơ sở đó đảng
đứng ra thành lập chính phủ và đưa ra các quyết định chính sách dưới danh nghĩa
quyền lực nhà nước, đại diện cho nhân dân.
Quan niệm về Đảng Cộng sản cầm quyền
Trong các nước xã hội chủ nghĩa, thuật ngữ "đảng cầm quyền" là thuật ngữ
để chỉ duy nhất có Đảng Cộng sản cầm quyền, đang nắm chính quyền lãnh đạo
3
cách mạng của nước đó, như Đảng Cộng sản Trung Quốc (dù Trung Quốc có nhiều
đảng nhưng chỉ có Đảng Cộng sản cầm quyền). Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh
là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này và thời điểm đó bênh cạnh Đảng Cộng sản
còn có Đảng Xã hội và Đảng Dân chủ, Người khẳng định "Đảng ta là đảng cầm
quyền" để chỉ vị thế của Đảng Cộng sản trong việc nắm giữ quyền lực nhà nước so
với các đảng khác trong xã hội.
Nhìn chung, Đảng Cộng sản cầm quyền là một khái niệm chỉ rõ đặc điểm,
vai trò của đảng trong giai đoạn cách mạng mà giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo
của đội tiên phong chính trị của nó là Đảng Cộng sản đã giành được chính quyền,
trở thành lực lượng lãnh đạo đất nước và toàn xã hội
Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập 1930, song phải đến khi cách mạng
tháng Tám năm 1945 thành công. Chính quyền về tay nhân dân, Đảng cộng sản
Việt Nam mới trở thành Đảng cầm quyền. Kể từ đó, Đảng lãnh đạo chính quyền, và
nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, từng bước xây dựng chủ nghĩa
chức khác đã ra đời. Nói cách khác, Nhà nước, Mặt trận và các tổ chức chính trị- xã
hội là phương tiện để thực hiện nhiệm vụ cách mạng của Đảng. Là một Đảng chính
trị, nên Đảng giữ vai trò lãnh lãnh đạo. Dù cầm quyền hay chưa cầm quyền thì
Đảng cũng vẫn phải thực hiện vai trò lãnh đạo của mình
1.2. 2 Nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng
Nội dung cầm quyền
Với tư cách là đảng duy nhất cầm quyền, Đảng chịu trách nhiệm trước nhân
dân về vận mệnh của dân tộc và sự phát triển của đất nước. Nội dung cầm quyền
của Đảng, thể hiện quyền hạn và trách nhiệm của Đảng trong việc quyết định các
vấn đề quan trọng của đất nước trong thời kỳ nhất định, và trong từng lĩnh vực cụ
thể, trong các mối quan hệ quyền lực cụ thể với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các
tổ chức đoàn thể nhân dân. Nội dung cầm quyền của Đảng thể hiện rõ nhất trong
5
cương lĩnh chính trị, trong chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, đảm bảo
tính định hướng chính trị cho sự phát triển của đất nước hướng tới mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vì vậy, việc xác định nội dung
cầm quyền của Đảng trong từng giai đoạn cụ thể của đất nước là rất quan trọng.
Nội dung cầm quyền của Đảng là toàn bộ hoạt động của đảng cầm quyền, từ
việc xác định mục tiêu chính trị của Đảng và dân tộc, cho đến nội dung thực hiện
mục tiêu chính trị đó; nó bao quát toàn diện các lĩnh vực của đời sống chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh của đất nước.
Trong lĩnh vực chính trị, việc hoạch định đường lối chính trị là nhiệm vụ
quan trọng hàng đầu của Đảng. Để cầm quyền lãnh đạo, Đảng có trách nhiệm xác
lập thể chế chính trị - xã hội của đất nước trên các mặt: cơ cấu tổ chức chính trị - xã
hội, cơ chế vận hành xã hội và những điều kiện đảm bảo cho hai vấn đề trên.
Trong lĩnh vực kinh tế, nội dung cầm quyền và lãnh đạo trọng tâm của Đảng
là việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây được
xem là mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Đảng thực chất chỉ là phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện Đảng đã ở vị
thế cầm quyền. Nếu không ở vị thế cầm quyền, Đảng không thể nào thực hiện được
đầy đủ các phương thức lãnh đạo này, đặc biệt là việc lãnh đạo Nhà nước thể chế
hóa đường lối của Đảng thành các chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Các phương thức cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội bao gồm:
Thứ nhất, lãnh đạo thông qua các quan điểm, cương lĩnh, chiến lược, các
đường lối, chủ trương, điều lệ, chỉ thị và các quyết định khác của Đảng đối với tổ
chức và hoạt động của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.
Thứ hai, lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa cương lĩnh, đường lối, chủ trương
của Đảng thành các quyết định của cơ quan công quyền. Nhà nước căn cứ vào nghị
7
quyết của Đảng để cụ thể hóa thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các đạo
luật, các nghị định, thông tư và các văn bản pháp quy khác, nhằm thực hiện nghị
quyết trong thực tiễn.
Thứ ba, Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua các cơ quan lãnh đạo Đảng từ
Trung ương đến cơ sở.
Thứ tư, Đảng đưa người của Đảng vào những vị trí chủ chốt trong bộ máy
quyền lực nhà nước. Đảng đào tạo những đảng viên của Đảng trở thành những
người có phẩm chất chính trị, đạo đức, có chuyên môn giỏi, có khả năng tuyên
truyền, vận động quần chúng để giới thiệu ứng cử bầu vào các cơ quan quyền lực
dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp) và giữ những cương vị chủ chốt
trong bộ máy nhà nước.
Thứ năm, Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua công tác kiểm tra của các tổ
chức đảng. Nội dung của công tác kiểm tra là kiểm tra các tổ chức đảng và đảng
viên chấp hành nghị quyết của Đảng.
Thứ sáu, Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua tính tiên phong gương mẫu của
đảng viên.
Thứ bảy, cầm quyền, lãnh đạo phải lấy dân làm gốc, dựa vào dân, đoàn kết
Đảng lãnh đạo nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội
Một trong những quan điểm quan trọng của Hồ Chí Minh về Đảng cầm
quyền là vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với chính quyền nhà nước.
Với tư cách là đảng cầm quyền, vấn đề Đảng lãnh đạo chính quyền được Hồ Chí
Minh coi là một nguyên tắc để bảo đảm nhà nước là nhà nước pháp quyền của dân,
do dân, vì dân. Thể hiện ở những quan điểm chủ yếu sau đây:
Mục tiêu lãnh đạo của Đảng là bảo đảm cho nhà nước giữ vững và tăng
cường bản chất giai cấp công nhân. Bác coi tính chất giai cấp của nhà nước là vấn
9
đề cơ bản của Hiến pháp. Theo Người, nhân dân lao động là lực lượng làm chủ Nhà
nước do giai cấp công nhân, mà đội tiên phong là Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Trong quá trình lãnh đạo Nhà nước, Đảng cần phải chú ý bảo đảm cho bộ
máy chính quyền cũng như cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh "cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư". Trong Thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và
làng (10-1945), Bác viết “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của chính phủ từ
toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung
cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của
Pháp, Nhật. Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải
hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”[6; tr.5657]. Các cấp chính quyền phải khắc phục bệnh quan liêu, lãng phí, tham ô và
những tiêu cực khác mà Người gọi đó là giặc “nội xâm”. Phê bình một số cán bộ,
đảng viên cậy thế mình là người của tổ chức đảng để phớt lờ kỷ luật trong các cơ
quan nhà nước. Người cho rằng, đảng viên không những phải chấp hành Điều lệ,
nghị quyết của Đảng mà còn phải phục tùng Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước.
Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng phương thức thích hợp
Theo Bác, yêu cầu đầu tiên trong sự lãnh đạo đối với đảng cầm quyền là phải
đề ra được đường lối, chủ trương đúng đắn. Đường lối đó phải được thể chế hóa
bằng Hiến pháp, pháp luật, chính sách của Nhà nước. Khi đề cập đến vấn đề nhà
nước thì điều mà Người quan tâm là quyền lực đó thuộc về ai. Đảng lãnh đạo thông
giai cấp công nhân, là bộ phận của giai cấp và của dân tộc, chứ không phải là tổ
chức đứng trên giai cấp, trên nhân dân. Mọi cán bộ, đảng viên đều phải nhận thức
rằng nhân dân là cuội nguồn sức mạnh của Đảng, cách mạng. Sức mạnh đó bắt
nguồn từ mối quan hệ máu thịt với nhân dân. Đảng phải luôn một lòng một dạ phục
sự nhân dân "ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc. Đảng ta không
có lợi ích nào khác" và vì vậy, chính sách của Đảng và Chính phủ là phải xuất phát
từ tâm tư nguyện vọng và những quyền lợi chính đáng của nhân dân, đồng thời
11
Đảng phải chịu trách nhiệm với nhân dân trước những quyết định của mình. Hồ Chí
Minh nhấn mạnh "nếu nhân dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng
và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng
và Chính phủ có lỗi,... Nếu dân đói, rét, đốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay
mấy cũng không thực hiện được"[8; tr.572]
Đảng là người lãnh đạo thì phải gắn bó mật thiết với nhân dân, lắng nghe ý
kiến của nhân dân, khiêm tốn học hỏi nhân dân và phải chịu sự kiểm soát của nhân
dân. Đảng phải thực hành triệt để dân chủ mà trước hết là dân chủ trong nội bộ
Đảng, để phát huy dân chủ được mọi khả năng trí tuệ sáng tạo của quần chúng.
Lãnh đạo nhưng phải chống bao biện làm thay, phải thông qua chính quyền nhà
nước của dân, do dân, vì dân.
Để thực hiện đầy đủ chức năng của người lãnh đạo, Hồ Chí Minh còn đề cập
một cách sâu sắc đến việc thực hiện chế độ kiểm tra và việc phát huy vai trò tiên
phong của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Bởi theo Người, Đảng ta không chỉ
tiên phong về mặt lý luận, mà còn phải tiên phong cả trong hành động, mõi cán bộ,
đảng viên phải "lời nói đi đôi với việc làm", "làm thì phải có kiểm tra". Vì có kiểm
tra thì mới phát hiện được việc tốt, việc chưa tốt. Tìm ra cái đúng, cái sai để từ đó
kịp thời xử lý, uốn nắn và bổ sung làm cho đường lối được đúng đắn hơn. Do đó,
lãnh đạo mà không kiểm tra coi như không lãnh đạo.
Mặc khác, theo Hồ Chí Minh, "là người lãnh đạo" cũng có nghĩa bao hàm cả
nhưng quan trọng là chính quyền thuộc về ai, phục vụ ai. Hồ Chí Minh thấy rõ tính
hai mặt của quyền lực. Một là, nó sẽ là công cụ sắc bén để cải tạo xã hội cũ, xây
dựng xã hội mới, thúc đẩy bước tiến của lịch sử. Hai là, quyền lực là công cụ đàn
áp, kìm hãm ghê gớm sự phát triển của xã hội.
Quyền lực sẽ phát huy mặt tích cực khi Đảng cầm quyền còn là đầy tớ trung
thành của nhân dân, được nhân dân ủng hộ. Hồ Chí Minh coi đây là sự khác biệt
13
giữa Đảng Cộng sản với Đảng tư sản, Người nhấn mạnh, Đảng lãnh đạo cách mạng
là để thiết lập và củng cố quyền làm chủ của nhân dân. Quyền lực thuộc về nhân
dân là bản chất, là nguyên tắc của chế độ mới, một khi xa rời nguyên tắc này Đảng
sẽ trở thành đối lập với nhân dân. Dân làm chủ, Đảng lãnh đạo, là đầy tớ thì Đảng
phải lấy dân làm gốc. Trái với nguyên tắc đó, Đảng sẽ thoái hóa, biến chất, trở
thành Đảng đối lập với dân, đứng trên dân, trên pháp luật, còn đảng viên, cán bộ
của Đảng sẽ trở thành những ông "quan cách mạng", những kẻ "vinh thân phù da"
vì quyền lợi ích kỷ của bản thân mình.
Hồ Chí Minh đã xây dựng cơ chế "Đảng cầm quyền" cốt lõi của cơ chế đó là
quan hệ giữa Đảng với nhân dân, với nhà nước. Đảng phải trong sạch, xứng đáng là
người lãnh đạo, người đầy tớ của dân. Nhà nước là nhà nước của dân, do dân,vì dân
dưới sự lãnh đạo của Đảng, cán bộ chính quyền các cấp đều là công bộc của dân,
đầy tớ của dân. Trong mối quan hệ giữa Đảng - Dân, thì Dân "là chủ", cán bộ, đảng
viên là "đầy tớ" của Dân. Quan điểm Hồ Chí Minh về đảng cầm quyền luôn thể
hiện mối quan hệ đồng hành: Đảng cầm quyền, dân làm chủ. Có thể khái quát quan
điểm ấy như sau:
Đảng - chính quyền
Đảng - Dân
Chính quyền - Dân
Trong đó, dân là đối tượng mà cả Đảng, chính quyền vừa thực hiện vị thế
lãnh đạo, tổ chức, vừa có nhiệm vụ mang lại quyền lợi cho họ. Còn người dân vừa
2.1. Thực trạng công tác xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời
gian qua
Quan điểm của Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản cầm quyền đã được Đảng và
Nhà nước ta vận dụng và phát triển sáng tạo trong suốt tiến trình cách mạng của
dân tộc và do đó, cách mạng Việt Nam đã thu được nhiều thắng lợi to lớn, rút ra
nhiều bài học quý báu. Đặc biệt, trong công cuộc đổi mới, Đảng ta tiếp tục tăng
cường sự lãnh đạo trong quá trình xây dựng hệ thống tổ chức, đổi mới hoạt động bộ
máy Nhà nước với mục tiêu tăng cường hiệu lực và khả năng quản lý của nó.
Văn kiện Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng đã chỉ rõ "dưới sự lãnh đạo của
Đảng, chức năng của Nhà nước là thể chế hóa bằng pháp luật, quyền hạn, lợi ích,
nghĩa vụ của nhân dân lao động và quản lý kinh tế, xã hội theo pháp luật" [13;
tr.451-452]. Vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng đã được trang trọng ghi trong điều
4 Hiến pháp 1992 của nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam "Đảng Cộng sản
Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành
quyền lợi của giai cấp công nhân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội". Đến
Hội nghị Trung ương 2 (khóa VII), Đảng ta một lần nữa khẳng định cần phải tiếp
tục "đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là điều quan trọng nhất để tiến
hành đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, làm cho sự lãnh đạo của
Đảng có chất lượng và hiệu quả hơn, đồng thời làm cho sự quản lý và điều hành
của Nhà nước có hiệu lực hơn, pháp luật được tôn trọng hơn, quyền làm chủ của
nhân dân được phát huy hơn"[14; tr.469]. Đồng thời trong nhiều văn kiện của Đảng
còn khẳng định, Đảng lãnh đạo Nhà nước - tức Đảng cầm quyền, chứ không phải
làm thay Nhà nước; Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng Đảng và mọi đảng viên đều
16
phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Các tổ chức đảng và đảng
viên phải nghiêm chỉnh chấp hành các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật
của Nhà nước.
Đến Đại hội VIII, Đảng ta tiếp tục nêu quan điểm "tăng cường vai trò lãnh
và hoàn thành tốt nghĩa vụ công dân nơi cư trú. Coi trọng công tác kiểm tra, giám
sát, kỳ luật nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm Quy định 47 về những
điều đảng viên không được làm. Hồ Chí Minh chỉ rõ "cấp cao thì quyền to, cấp
thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục
khoét, có dịp ăn của đút". Chính vì vậy, mõi cán bộ, đảng viên tuyệt đối gương mẫu
tự rèn luyện, tự phấn đấu nâng cao đạo đức cách mạng "cần, kiệm, liêm, chính, chí
công, vô tư" quét sạch chủ nghĩa cá nhân.
"Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống, nó do đấu tranh, rèn
luyện, bền bỉ hàng ngày mà phát triển củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng,
vàng càng luyện càng trong" quan điểm này của Bác đến nay vẫn còn nguyên giá
trị. Hơn lúc nào hết, vấn đề nêu gương đạo đức, nói đi đôi với làm "đảng viên đi
trước, làng nước theo sau" càng trở nên cần thiết và quan trọng. Đây chính là thước
đo phân biệt đạo đức mới, cách mạng với đạo đức giả. Cần phải chống lại những
hành vi và tư tưởng phi đạo đức.
2.2.2. Tiếp tục nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ cán bộ,
đảng viên
Chí Minh khẳng định "Đảng không phải là tổ chức làm quan phát tài". Sức
mạnh của Đảng bắt nguồn từ tổ chức, do đó phải xây dựng tổ chức của Đảng từ
trung ương đến cơ cở vững mạnh, đặc biệt là tổ chức đảng ở cấp cơ sở. Tổ chức cơ
sở đảng là nền tảng của Đảng, hạt nhân chính trị ở cơ sở, có vị trí đặc biệt quan
trọng trong hệ thống tổ chức của Đảng. Đây là nơi đầu tiên và cuối cùng chịu sự tác
động trực tiếp, sâu sắc của những thay đổi về chính trị, kinh tế, xã hội và tổ chức; là
19
nơi rèn luyện, giáo dục, quản lý, phát triển và sàng lọc đội ngũ đảng viên; nơi thể
hiện đầy đủ, toàn diện, trực tiếp, thường xuyên nhất về quyền làm chủ của nhân dân
và mối quan hệ mật thiết, gắn bó giữa Đảng với nhân dân. Sự vững mạnh của các
tổ chức cơ sở đảng có ý nghĩa quyết định đối với sự vững mạnh của toàn Đảng. Vì
vậy, toàn Đảng phải dồn sức lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng gắn với
cứu, làm rõ mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của một số loại hình tổ
chức cơ sở đảng, nhất là trong doanh nghiệp - những nơi đang chịu sự tác động
mạnh của quá trình cổ phần hoá, sắp xếp, cấu trúc lại sản xuất.
2.2.3. Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy rằng cán bộ là gốc của mội việc "muôn việc
thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém"[11; tr. 240], cán bộ là: dây
chuyền của bộ máy", nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì toàn bộ bộ máy sẽ
tê liệt. Hiện nay cách mạng nước ta đang bước sang giai đoạn mới, phấn đấu đến
2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Hơn lúc nào hết,
chúng ta ngày càng nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn ý nghĩa, tầm quan trọng và tính
chất khó khăn, phức tạp của vấn đề cán bộ và công tác cán bộ.
Công tác cán bộ có vị trí đặc biệt quan trọng của công tác xây dựng Đảng.
Nếu nói xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt của sự nghiệp đổi mới thì việc xây
dựng và đổi mới đội ngũ cán bộ lại là khâu then chốt của nhiệm vụ then chốt ấy. Vì
vậy, đổi mới công tác cán bộ nhằm tạo đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi, chỉnh
đốn đảng theo quan điểm Hồ Chí Minh cần quán triệt và thực hiện tốt những nội
dung cơ bản sau:
Quán triệt và kiên quyết thực hiện đúng nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh
đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đồng thời đề cao trách nhiệm của
các tổ chức trong hệ thống chính trị và người đứng đầu. Cấp ủy các cấp có thẩm
quyền phải chủ trì và chịu trách nhiệm về công tác tổ chức cán bộ trên cơ sở thực
21
hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; cần xác định rõ trách nhiệm tập thể và cá
nhân nhất là trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ.
Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ tất cả các khâu của công tác
cán bộ, gồm: Xác định tiêu chuẩn cán bộ; đánh giá cán bộ; quy hoạch cán bộ; đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ; sử dụng, luân chuyển cán bộ; quản lý cán bộ và thực hiện
chính sách đối với cán bộ. Phải đổi mới tư duy, cách làm và khắc phục những
tra coi như không lãnh đạo. Kiểm tra đảm bảo cho cương lĩnh, đường lối, chiến
lược và Nghị quyết Đảng được xác định đúng đắn, hoàn thiện và tạo được sự thống
nhất trong toàn đảng; vừa góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo của đảng.
Nghị quyết trung ương 4 (khóa XI) về một số vấn đề cấp bách hiện nay đã
chỉ ra nhiều nguyên nhân dẫn đến, trong đó có nguyên nhân do công tác "kiểm tra,
giám sát, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi, nhiều cấp chưa thường xuyên,..".
Do đó, một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay là tăng cường công tác kiểm tra,
giám sát, góp phần khắc phục những khuyết điểm, thiếu sót của cán bộ, đảng viên
cả trong thực thi nhiệm vụ, lẫn phẩm chất, đạo đức, lối sống, về nhận thức,... Cụ
thể, cần tập trung vào những công việc cụ thể sau đây:
Tập trung kiểm tra, giám sát theo quy định của Điều lệ Đảng, các chủ trương,
đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng trên các lĩnh vực; việc chấp hành
nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chế độ công tác, thực hiện dân chủ
trong Đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ; việc thực hành tiết kiệm, phòng chống tham
nhũng, lãng phí; việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, nhất là những vụ án
nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận xã hội; kiểm tra, giám sát việc tuyển
dụng, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, đề bạt, bố trí, sử dụng cán bộ.
Chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu tổ chức đảng, nhà nước, Mặt
trận và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp trong việc thực hiện chức trách,
23
nhiệm vụ được giao.
Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra của
Chính phủ, công tác giám sát của Quốc hội và các cơ quan hành pháp, tư pháp, Mặt
trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân theo đúng chức năng và thẩm quyền của
mỗi cơ quan, tổ chức.
24