BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
DƯƠNG THU THỦY
QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA
HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC
VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
Chuyên ngành:
Mã số:
Văn học Việt Nam
62 22 34 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS TRẦN HỮU TÁ
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2010
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngành nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại đã phát triển qua một thế kỷ với nhiều
thành tựu to lớn. Các thành tựu về nghiên cứu văn học sử Việt Nam đã được nhắc tới trong
các bộ lịch sử văn học cũng như trong các cuốn sách chuyên khảo của cá nhân hoặc tập thể
tác giả kể từ đầu thế kỷ XX đến nay. Trong các cuốn sách đó, chúng ta thấy các tác giả đã cố
gắng đánh giá và tổng kết các thành tựu của văn học nước nhà cả về mặt sáng tác lẫn nghiên
cứu. Những thành tựu về nghiên cứu như các quan điểm nghệ thuật, các lý thuyết và các
của quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
- Rút ra những bài học kinh nghiệm về quá trình hiện đại hoá văn học nhằm vận dụng
vào công cuộc hiện đại hoá văn học hiện nay.
3. Lịch sử vấn đề
Ngành nghiên cứu văn học Việt Nam thời trung đại chủ yếu thiên về xu hướng sưu tầm,
bình điểm. Xu hướng này mang tính chất của tiếp nhận cảm tính nhiều hơn là tư duy khoa
học. Chính vì vậy, mặc dù xu hướng này có ưu điểm là cung cấp cho ta những kiến thức
đánh giá độc đáo về mặt thẩm mỹ và nghệ thuật, nhưng nó chưa phác họa được một bức
tranh văn học có hệ thống với những lý giải khoa học và biện chứng về quá trình phát triển
của văn học. Phải đến đầu thế kỷ XX, khi văn hoá Việt Nam có điều kiện được tiếp xúc với
văn hoá phương Tây, các nhà nghiên cứu và phê bình văn học Việt Nam nhận thấy rằng: đổi
mới phương pháp nghiên cứu văn học là một nhu cầu không thể thiếu được trong quá trình
hiện đại hóa nền văn học dân tộc. Họ bắt đầu tìm hiểu các lý thuyết và phương pháp nghiên
cứu, phê bình văn học của phương Tây để vận dụng vào Việt Nam. Kết quả là chưa bao giờ
nền văn học Việt Nam chuyển biến và phát triển mạnh mẽ như ở giai đoạn này. Riêng hoạt
động nghiên cứu văn học trong nửa đầu thế kỷ XX đã để lại một di sản khá phong phú và đa
dạng. Từ những bài nghiên cứu còn mang đậm dư âm của quan niệm cổ điển trong buổi đầu
tiếp thu học thuật nước ngoài, đến những tác phẩm vận dụng phương pháp khoa học vào việc
nghiên cứu các tác gia, tác phẩm, các giai đoạn văn học thời kỳ văn học…, các nhà nghiên
cứu đã đóng góp không nhỏ vào quá trình hiện đại hóa văn học đương thời và đặt nền móng
quan trọng cho hoạt động nghiên cứu văn học của giai đoạn sau này. Tuy nhiên, cho đến nay,
bên cạnh những thành tựu về sáng tác, lý luận, phê bình đang được giới nghiên cứu quan
tâm, có thể nói, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện về
những thành tựu và hạn chế của quá trình hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn học Việt
Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX.
Từ trước năm 1945, lĩnh vực nghiên cứu, phê bình cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu
đề cập đến. Các vấn đề như quan điểm, phương pháp, thể loại, tác giả, tác phẩm đã được các
tác giả Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Thạch Lam, Kiều Thanh Quế, Diệu Anh Đinh Gia Trinh,
Tập 3 của bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1862 - 1945) của Phạm Thế Ngũ
là công trình biên khảo được viết một cách nghiêm túc về tình hình văn học trong khoảng
thời gian từ 1862 đến 1945. Trong công trình này, Phạm Thế Ngũ chủ yếu đề cập đến thành
tựu về sáng tác văn học. Tuy vậy, ông cũng có dành một số trang để giới thiệu hoạt động
biên khảo và phê bình giai đoạn từ 1907 đến 1932, cũng như để đánh giá cao hoạt động phê
bình giai đoạn 1940 - 1945.
Trong Lược khảo văn học (tập 3) sau khi đề cập qua về sự ra đời của phê bình văn học,
Nguyễn Văn Trung đã mô hình hóa các dạng hoạt động của phê bình và các loại tác gia phê
bình. Theo tác giả, giai đoạn này có năm quan niệm phê bình: Phê bình ấn tượng chủ quan
giáo điều (Đào Duy Anh, Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Trương Chính), Phê bình
giáo khoa (Trần Thanh Mại, Lê Thanh, Kiều Thanh Quế, Dương Quảng Hàm…), Phê bình
luân lý (Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Hải Triều, Mộng
Sơn, Thái Phỉ, Lê Thanh…), Phê bình phân tâm học (Nguyễn Văn Hanh, Trương Tửu), Phê
bình xã hội (Hải Triều, Nguyễn Bách Khoa)...
Ngoài những công trình vừa nêu, rải rác trong cuốn sách Văn học sử thời kháng Pháp
1858 - 1945 (Nxb Trí Đăng, Sài Gòn, 1972), Lê Văn Siêu có đề cập đến vấn đề biên khảo và
phê bình, cũng như có giới thiệu qua các nhà phê bình, nghiên cứu văn học như Đào Duy
Anh, Đặng Thai Mai, Phan Văn Hùm, Hồ Hữu Tường, Trần Thanh Mại, Hoài Thanh,
Trương Tửu.
Sau 1975, các công trình nghiên cứu về hoạt động phê bình, nghiên cứu văn học giai
đoạn nửa đầu thế kỷ XX ngày càng được quan tâm. Bên cạnh các bộ Lịch sử văn học Việt
Nam giai đoạn 1900 - 1930 (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1981) và Lịch sử văn học Việt Nam giai
đoạn 1930 - 1945 do Huỳnh Lý, Nguyễn Trác, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hoành Khung,
Hoàng Dung biên soạn chỉ dành một số trang viết khiêm tốn về hoạt động phê bình, nghiên
cứu văn học so với hoạt động sáng tác, thì gần đây, chúng ta thấy có nhiều bài viết, sách
chuyên khảo, luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ đề cập riêng đến thành tựu nghiên cứu và phê
bình của một số nhà nghiên cứu - phê bình đã sống qua cả hai thời kỳ. Luận văn thạc sĩ của
Phạm Thị Mến: Những đóng góp về mặt lý luận phê bình của Hoài Thanh trước Cách mạng
đề cập đến hai thể loại chính là thơ và tiểu thuyết; về phê bình văn học, Trần Mạnh Tiến nêu
ra hai khuynh hướng trong phê bình văn học đầu thế kỷ là phê bình truyền thống và phê bình
mới, giới thiệu các quan điểm cũng như những đánh giá về cuộc tranh luận Truyện Kiều giữa
những năm 20 của thế kỷ XX. Tóm lại, cuốn sách trên chỉ đề cập về lý luận phê bình văn học
Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Cũng nghiên cứu về phê bình văn học, Nguyễn Thị Thanh Xuân trong công trình Phê
bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (1900 - 1945) đã khái quát sự hình thành và phát
triển của phê bình văn học Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, đồng thời giới thiệu 12
tác giả phê bình tiêu biểu ở giai đoạn này là: Phạm Quỳnh, Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Trần
Thanh Mại, Trương Chính, Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, Hải Triều, Trương Tửu Nguyễn Bách Khoa, Đặng Thai Mai, Lê Thanh, Kiều Thanh Quế. Theo tác giả, phê bình văn
học giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX là một nền phê bình văn học “đã có cơ sở lý luận tuy chưa
hoàn chỉnh”, phê bình văn học giai đoạn này đã phát triển một cách nhanh chóng về nhiều
mặt, trong đó rõ nhất là ngôn ngữ phê bình. Và cuốn sách cũng tập trung đề cập đến mảng
phê bình của ngành nghiên cứu văn học.
Gần đây, trong cuốn Phương pháp luận nghiên cứu văn học (Nxb Khoa học Xã hội,
Hà Nội, 2004), Nguyễn Văn Dân cũng đã đánh giá sự đóng góp về mặt phương pháp nghiên
cứu của một số tác giả thời trước Cách mạng như Trần Thanh Mại, Hoài Thanh và Trương
Tửu - Nguyễn Bách Khoa, đồng thời chỉ ra những hạn chế về quan điểm phương pháp luận
của họ. Nhưng đây vốn là một cuốn sách bàn về Phương pháp luận nên tác giả chỉ chủ yếu
nêu lên những đóng góp cũng như những hạn chế về phương pháp nghiên cứu của các tác giả
Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám để minh họa cho vấn đề “phương pháp luận nghiên
cứu văn học” chứ chưa phải là cuốn sách chuyên sâu về hoạt động nghiên cứu văn học giai
đoạn này.
Cuốn sách Văn học Việt Nam thế kỷ XX - Những vấn đề lý luận và lịch sử (Nxb Giáo
dục, Hà Nội, 2004) do Phan Cự Đệ chủ biên chủ yếu đề cập đến lý luận, phê bình văn học
Việt Nam thế kỷ XX. Nghiên cứu lý luận, phê bình thời kỳ nửa đầu thế kỷ, Trần Đình Sử
phân chia làm hai giai đoạn: Lý luận, phê bình văn học Việt Nam giai đoạn 1900 - 1932; Lý
luận, phê bình văn học 1932- 1945. Ở giai đoạn đầu, sau khi nêu diện mạo chung của đời
Ngoài các cuốn sách nói trên, ta còn có thể tìm gặp những ý kiến nhận xét, đánh giá về
từng tác gia, hay từng tác phẩm phê bình, nghiên cứu văn học giai đoạn này trên nhiều sách,
bài báo, tạp chí của các nhà nghiên cứu, nhà văn có uy tín. Tuy nhiên, hầu như chưa có một
cuốn sách nào tập trung khảo sát và tổng kết về quá trình hiện đại hoá hoạt động nghiên cứu
văn học ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX. Đây vẫn còn là một lĩnh vực cần phải bổ khuyết, và
đề tài Quá trình hiện đại hoá hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ
XX của chúng tôi sẽ cố gắng đóng góp cho công việc tổng kết này.
4. Giới hạn của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là các công trình nghiên
cứu văn học ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX đã có độ lùi thời gian nhất định của các nhà
nghiên cứu văn học chuyên nghiệp hoặc không chuyên. Trong đó, luận án tập trung chủ yếu
vào sự hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn học giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX qua những
thành tựu chủ yếu, qua các phương pháp nghiên cứu và nguyên nhân dẫn đến những thành
tựu đó. Những vấn đề khác không phải là đối tượng nghiên cứu của luận án. Với yêu cầu
nhằm vào sự hiện đại hoá, chúng tôi sẽ tập trung vào những công trình nghiên cứu tiêu biểu,
có đóng góp về mặt đổi mới trong quan điểm lý thuyết và phương pháp thực hành.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: phạm vi của đề tài, chúng tôi xác định chỉ tập trung nghiên cứu
những yếu tố nổi trội đã góp phần làm nên quá trình hiện đại hóa trong hoạt động nghiên cứu
văn học Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ XX (từ năm 1900 đến năm 1945); không có tham vọng
nghiên cứu toàn bộ các tác giả và tác phẩm xuất hiện ở giai đoạn này mà chỉ giới hạn ở phạm
vi những tác phẩm tiêu biểu nhất của những tác giả có những đóng góp cụ thể trong hoạt
động nghiên cứu văn học giai đoạn này.
4.3. Giới thuyết một số khái niệm
4.3.1. Khái niệm nghiên cứu văn học
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: Nghiên cứu văn học còn gọi là khoa văn học hoặc
khoa học về văn học, là khoa học nghiên cứu các quy luật và hiện tượng trong sự tồn tại và
phát triển của văn học. Từ điển văn học (Bộ mới - xuất bản năm 2004) định nghĩa: Nghiên
cứu văn học là một chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn mà đối tượng nghiên cứu là
văn học Việt Nam. Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục … lúc này đã hội
đủ các yếu tố nội sinh và ngoại nhập, tạo nên các nhân tố thúc đẩy văn học phát triển theo
hướng hiện đại hóa.
Nói đến văn học hiện đại là nói đến văn học phát triển trong môi trường kinh tế tư bản
chủ nghĩa, có sự hình thành giai cấp tư sản, giai cấp vô sản …. Như vậy, khái niệm hiện đại
hóa xuất hiện và được sử dụng khi con người bước sang thời kỳ chủ nghĩa tư bản và ở mỗi
lĩnh vực nó mang một nội hàm khái niệm khác nhau. Theo nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà:
Hiện đại hóa trong chừng mực nhất định, nó đồng nghĩa với khái niệm phương Tây hóa, là
quá trình thu nhận những ảnh hưởng của văn học phương Tây để có những đặc điểm của văn
học phương Tây [192, tr.40].
Khái niệm hiện đại hóa văn học ở đây được sử dụng theo nghĩa phân biệt với khái niệm
văn học trung đại. Đó là quá trình chuyển từ loại hình văn học cũ sang loại hình văn học mới
hiện đại hơn, nghĩa là, khi mà nền văn học phong kiến không còn thích ứng nữa thì yêu cầu
của xã hội là phải đổi mới để thực hiện chức năng phản ánh hiện thực một cách đầy đủ và
hiệu quả hơn. Văn học hiện đại hóa là văn học đã thoát khỏi hệ thống thi pháp của văn học
trung đại để xác định một hệ thống thi pháp mới, thi pháp văn học hiện đại nhằm đáp ứng
yêu cầu phản ánh xã hội mới và đáp ứng thị hiếu mới của công chúng thời điểm ấy.
Như vậy, hiện đại hóa là quá trình tất yếu của một nền văn học. “Nó xuất phát từ nhu
cầu sáng tạo nội tại của văn học, từ tác động của hoàn cảnh xã hội, từ đòi hỏi của công chúng
và từ kết quả của sự giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, các dân tộc” [192, tr.40].
Quá trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 tất nhiên
không phải một sớm một chiều mà nó là cả một quá trình diễn ra liên tục không ngừng. Ở
giai đoạn ba mươi năm đầu thế kỷ (từ 1900 đến 1930) là bước chuẩn bị cho sự chuyển mình
của văn học, trong đó mười năm cuối của giai đoạn này, công cuộc hiện đại hóa văn học đã
đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận. Giai đoạn từ 1930 đến 1945, quá trình hiện đại hóa
nền văn học được đẩy lên một bước mới với nhiều cuộc cách tân văn học sâu sắc và toàn
diện, đặc biệt là sự ra đời các thể loại văn học mới. Đến đây, sự đổi mới đã thể hiện một cách
toàn diện, triệt để. Nền văn học Việt Nam lúc này, nhìn tổng thể, đã mang tính hiện đại từ
thế kỷ XX, với những điểm nhấn về tiến trình hiện đại hoá hoạt động này.
6.2. Đánh giá thành tựu và hạn chế của công tác nghiên cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế
kỷ XX; rút ra được những kinh nghiệm cần thiết về phương pháp đổi mới nghiên cứu văn
học; đóng góp và gợi ý cho việc soạn thảo lịch sử văn học Việt Nam hiện đại.
6.3. Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo giảng dạy về lĩnh vực nghiên cứu
văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
7. Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận cũng như Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận án gồm ba chương:
Chương 1- Những tiền đề cơ bản của quá trình hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn
học Việt Nam
Chương 2- Những chặng đường phát triển của hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam
nửa đầu thế kỷ XX
Chương 3- Những đổi mới về phương pháp nghiên cứu
Chương 1 - NHỮNG TIỀN ĐỀ CƠ BẢN CỦA QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA
HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM
1.1. Những tiền đề lịch sử - xã hội
1.1.1. Quá trình xâm lăng của thực dân Pháp và những chuyển biến về thể chế chính
trị
1.1.1.1. Năm 1858, thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên ở Đà Nẵng, báo hiệu cuộc xâm
lược chính thức nước ta. Tính từ khi đồn Kỳ Hòa thất thủ (1861), Pháp chiếm ba tỉnh miền
Đông (1862) rồi chiếm cả sáu tỉnh Nam Kỳ (1867), cho đến hòa ước Patenôtre (1884) thì
Việt Nam hoàn toàn mất hết độc lập chủ quyền. Từ đó đã dẫn đến nhiều chuyển biến cực kỳ
quan trọng trong xã hội: nước Việt Nam phong kiến nông nghiệp trở thành nước thuộc địa
nửa phong kiến với hai tầng áp bức: thực dân Pháp và vua quan, địa chủ phong kiến. Chính
biến cố trọng đại này đã làm biến đổi sâu xa mọi phương diện, trong đó có văn học nghệ
thuật, của đất nước ta.
tới 260.000 tấn. Từ năm 1890 đến 1904 các công trình khai thác than càng được đẩy mạnh.
Ngoài than, các cơ sở khai thác thiếc ở Tĩnh Túc (Cao Bằng), bạc ở Ngân Sơn (Bắc Cạn),
vàng ở Bồng Miêu (Quảng Nam)… đều được bổ sung thêm vốn, nhân công và đẩy mạnh tiến
độ khai thác. Giao thông vận tải, đã được thực dân Pháp đầu tư xây dựng ngay từ đầu, nay
được tiếp tục đầu tư vốn và kỹ thuật. Ngoài các tuyến đường sắt ở miền Nam, thực dân Pháp
tiếp tục xây dựng các tuyến đường sắt như Vinh - Đông Hà, Đồng Đăng - Na Sầm. Đường
bộ cũng tiếp tục được xây dựng. Nếu như đường sắt, đường bộ có vị trí quan trọng trong
kinh tế đối nội, thì đường thủy đóng vai trò chủ đạo trong kinh tế đối ngoại. Vì thế, cùng với
các hải cảng đã xây dựng trong đợt khai thác thuộc địa lần thứ nhất như cảng Sài Gòn, Hải
Phòng, Đà Nẵng, thực dân Pháp tiếp tục cho xây dựng các hải cảng mới như Hòn Gai, Bến
Thủy... Mạng lưới vận tải đường sông vùng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long cũng
được khai thác triệt để.
Bên cạnh đó, thực dân Pháp còn lợi dụng quyền thống trị về chính trị để duy trì bộ máy
quan liêu, cường hào và những luật lệ của chế độ phong kiến để ra sức chiếm đoạt ruộng đất,
tăng cường bóc lột sưu thuế, sưu dịch, làm phá sản nông dân và thợ thủ công, tạo ra nguồn
nhân công rẻ mạt để thực hiện công cuộc khai thác tại thuộc địa và xuất khẩu lao động sang
Pháp. Kết quả của các chính sách ấy là nền kinh tế cổ xưa bị phân giải, lưu thông hàng hóa
phát triển, nước ta bị kéo vào quỹ đạo chủ nghĩa tư bản. Thực dân Pháp biến Việt Nam từ
một nước đang theo chế độ “quân chủ” thành một nước theo chế độ “thực dân nửa phong
kiến”.
1.1.1.2. Sau khi đặt xong bộ máy chính quyền ở Việt Nam, thực dân Pháp bắt đầu thực
hiện âm mưu và chính sách Pháp hóa đối với dân tộc ta. Với chính sách chia để trị, thực dân
Pháp chia Việt Nam ra làm ba kỳ riêng biệt (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ). Mỗi kỳ có một
chính sách luật lệ riêng, trong đó Nam Kỳ trở thành xứ thuộc Pháp với những nét riêng về
chính trị, kinh tế, xã hội rộng, thoáng hơn so với Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Pháp tăng cường
tuyển mộ lính và khai thác kinh tế thuộc địa, lập nhiều đồn điền ở Nam Bộ, xây dựng cảng
Sài Gòn, mở đường xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho, xây cầu trên sông Vàm Cỏ, lập nhiều công
xưởng như đóng tàu, nhà máy xay lúa ở Sài Gòn, Chợ Lớn…. Những cơ sở kinh tế ban đầu
lượng này ngày càng trở nên đông đảo. Trong khi đó, ở nông thôn giai cấp địa chủ không
những không bị thu hẹp mà trái lại được phát triển đủ mạnh để có thể trở thành nền tảng xã
hội của chế độ thuộc địa. Và sau lũy tre xanh vẫn là một vòng tròn khép kín, tù đọng đè
nặng, làm cho đời sống của người nông dân sống nơi “bùn lầy nước đọng” ngày càng bị bần
cùng hóa.
Trong các giai cấp và tầng lớp mới xuất hiện này, có thể thấy, tầng lớp trí thức tiểu tư
sản giữ một vai trò quan trọng trong lĩnh vực văn hóa nói chung và văn học nói riêng. Tầng
lớp này, tuy có hoàn cảnh xuất thân không giống nhau: trí thức (học sinh, sinh viên), tiểu
thương (những người buôn bán nhỏ), thợ thủ công, nhưng về cơ bản, họ sống ở các đô thị, có
nếp sống tương đối ổn định và đầy đủ trong một xã hội đang nhanh chóng thay đổi. Họ có
điều kiện để học hành, để tiếp xúc với những thông tin về chính trị, văn hóa, xã hội. Chính
tầng lớp này và cuộc sống đô thị đã làm nảy sinh những nhu cầu mới về hưởng thụ văn hóa
khác với nhu cầu của con người dưới chế độ phong kiến. Họ cần cập nhật thông tin, vì thế
báo chí ra đời; cần cập nhật tác phẩm vì thế xuất bản phát triển. Văn học nghệ thuật trở thành
hàng hóa, vì vậy xuất hiện ngành kinh doanh hàng hóa văn học bao gồm những người kinh
doanh và viết văn. Đời sống văn học hình thành nên một đội ngũ tác gia mới - những nhà
văn chuyên nghiệp, sống bằng nghề và với nghề. Chính họ là những người quyết định sự
phát triển của nền văn học mới. Từ đây: người ta quan niệm việc cầm bút viết văn như một
chuyên môn của một số trí thức nhằm hướng đạo xã hội, phụng sự nghệ thuật, trong xã hội
xuất hiện tầng lớp nhà văn chuyên nghiệp, sống bằng nghề viết văn, thậm chí “Vợ dại con
thơ, sự sinh hoạt trông nhờ một ngọn bút” (Giấc mộng con).
Nhìn chung, chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Paul Doumer và lần thứ
hai của Albert Sarraut (trước và sau đại chiến thế giới lần thứ nhất 1914 - 1918) là nhân tố
chính làm chuyển biến sâu sắc cơ cấu xã hội Việt Nam. Lúc bấy giờ, nền kinh tế phong kiến
bị phân giải, người nông dân bị bần cùng hoá. Do quá trình khai thác thuộc địa ngày càng
được đẩy mạnh nên từ Nam chí Bắc, những trung tâm kinh tế, văn hoá của xã hội thực dân
nửa phong kiến đã mọc lên. Sự ra đời của thành thị đã làm xuất hiện nhiều tầng lớp xã hội
mới như: tư sản, tiểu tư sản (viên chức, học sinh, dân nghèo thành thị…), công nhân như đã
nói ở trên. Cùng với sự phát triển của các đô thị, số thị dân cũng tăng nhanh. Trong quá trình
cũng như khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc, và trước mắt chặt đứt ảnh hưởng của giới sĩ phu
đối với nhân dân... để dễ dàng thống trị nước ta.
Đối với nhân dân ta, trong mấy thập kỷ cuối thế kỷ XIX, ngày càng có nhiều người hơn
theo học chữ quốc ngữ, thế nhưng nhìn chung, thứ văn tự này vẫn ít được tín nhiệm, bởi nó
bị xem là thứ chữ của “quân cướp nước” nên không dễ dàng thay thế được chữ Hán - Nôm.
Dù vậy, cùng với sự phát triển của đô thị và sự xuất hiện của nhiều tầng lớp xã hội mới, chữ
quốc ngữ từng bước được công chúng làm quen và thực sự được thừa nhận vào thập niên đầu
của thế kỷ XX. Riêng đối với các sĩ phu Việt Nam, lúc đầu, họ xem chữ quốc ngữ là sản
phẩm và công cụ cai trị của quân xâm lăng nên không tiếp nhận. Đến đầu thế kỷ XX, các nhà
Nho yêu nước và duy tân nhận rõ ưu thế dễ đọc, dễ viết của chữ quốc ngữ nên đã chuyển từ
thái độ phản ứng sang nhiệt tình cổ động, hô hào học và dùng chữ quốc ngữ
“Trước hết phải học ngay quốc ngữ
Khỏi đôi đường tiếng, chữ khác nhau;
Chữ ta, ta phải thuộc làu,
Nói ra nên tiếng, viết câu nên bài,
Sẵn cơ sở để khai tâm trí...
(Thơ Đông Kinh nghĩa thục)
hay “Một đằng thì mất mấy năm trời để đi học một thứ chữ khác hẳn tiếng mình mà vẫn
không có công hiệu, một đằng thì chỉ mất không tới sáu tháng là học ngay được văn tự của
tiếng mình. Vậy thì không thể không theo chữ nước ta” (Văn minh tân học sách - 1904). Sự
truyền bá chữ quốc ngữ qua các phong trào Minh Tân (ở Nam Bộ), phong trào Đông Kinh
nghĩa thục (ở Bắc Bộ) vào những năm 1907 - 1908 đã gây ảnh hưởng sâu rộng trong quần
chúng khiến thứ chữ này dần dần được sử dụng phổ biến, rộng rãi trong sự tiếp thu của nhiều
tầng lớp nhân dân. Ngay nhà Nho yêu nước Nguyễn Đình Chiểu là người kiên quyết không
hợp tác với Pháp nhưng lại có ý thức tiếp nhận chữ quốc ngữ khi đồng ý cho con gái là
Nguyễn Thị Khuê (Sương Nguyệt Anh, sau này là chủ bút tờ Nữ giới chung - tờ báo nữ giới
đầu tiên tại Việt Nam, cũng là tờ báo có chủ trương truyền bá chữ quốc ngữ) học chữ quốc
ngữ. Các phong trào duy tân này là động lực của bước đầu hiện đại hóa văn học Việt Nam,
quốc ngữ La-tinh là một trong những nhân tố quyết định góp phần vào quá trình hiện đại hóa
nền văn học Việt Nam nói chung và quá trình hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn học nói
riêng.
1.2.2. Nền giáo dục mới
Năm 938, với chiến công hiển hách của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng, dân tộc Việt
Nam khôi phục nền độc lập, thống nhất quốc gia, xây dựng nhà nước phong kiến. Nền giáo
dục phong kiến được hình thành và phát triển. Trải qua 10 thế kỷ, nội dung, cách tổ chức
việc dạy và học, thi hành chế độ khoa cử của nền giáo dục phong kiến qua các triều đại cơ
bản là giống nhau. Chẳng hạn: nội dung dạy và học từ lớp ở thôn xã đến các trường ở lộ,
phủ, kinh đô đều lấy Tứ thư, Ngũ kinh làm sách giáo khoa; các triều đại Lý, Trần, Lê,
Nguyễn tổ chức các khoa thi (thi Hương, thi Hội, thi Đình) về cơ bản là giống nhau… Trải
qua nghìn năm lịch sử, nền giáo dục phong kiến Việt Nam đã đào tạo nên nhiều nhà bác học,
nhà văn, nhà viết sử, nhà giáo, thầy thuốc … có danh tiếng cùng những thế hệ trí thức giữ vai