Biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 3 trường tiểu học lục sơn, huyện lục nam tỉnh bắc giang - Pdf 38

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người.
Ngôn ngữ là hiện tượng trực tiếp của tư tưởng : Ngôn ngữ là phương tiện biểu
hiện tâm trạng tình cảm của loài người. Môn Tiếng Việt rất quan trọng đối với
HSTH. Bởi vì nếu HSTH không có vốn từ vựng tiếng Việt thì không thể sử
dụng đúng tiếng Việt và sẽ rất khó khăn trong giao tiếp, trong học tập. Mục tiêu
của môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học là : Hình thành và phát triển ở HS các kĩ
năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các
môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy học tiếng Việt sẽ góp
phần rèn luyện các thao tác tư duy; cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản về
tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn
hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài; bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình
thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình
thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
1.2. Ở tiểu học, phân môn Tập đọc có vị trí quan trọng, có nhiệm vụ rèn kĩ
năng đọc cho HS, là môn học giúp HS chiếm lĩnh được một công cụ mới : chữ
viết; có được năng lực mới : đọc thông viết thạo. Từ đó mở cánh cửa bước vào
địa hạt của người biết đọc, biết viết để có điều kiện nắm lấy kho tàng tri thức và
văn hóa của loài người tàng trữ trong sách vở. Đối với HS lớp 3, việc rèn kĩ
năng đọc vô cùng quan trọng, nó giúp HS hiểu đúng văn bản, giáo dục các em
tình yêu quê hương đất nước, yêu gia đình, bạn bè, thầy cô và mái trường… từ
đó làm giàu kiến thức văn hóa, ngôn ngữ, phát triển nhân cách cho HS… nhờ
biết đọc các em có điều kiện học tốt các môn học khác trong chương trình.
1.3. Trường Tiểu học Lục Sơn nằm ở địa bàn xã Lục Sơn, huyện Lục Nam
- tỉnh Bắc Giang, HS là con em dân tộc chiếm số đông, HS dân tộc Kinh chiếm
số lượng ít. Do những đặc điểm trên nên khi áp dụng chương trình vào giảng
dạy còn gặp nhiều trở ngại, chất lượng đọc của HS trong giờ Tập đọc chưa cao.
Điều này đòi hỏi nhà trường cần có biện pháp khắc phục để đạt kết quả cao hơn
trong giờ dạy - học Tập đọc. Từ những lí do trên tôi đã mạnh dạn viết khóa luận
1

nhật những thông tin đổi mới về nội dung, chương trình SGK mới, về phương
2


pháp dạy và học theo chương trình mới. Tác giả đã trình bày một cách chi tiết,
cụ thể về cấu trúc nội dung và phương pháp dạy học cho từng phân môn. Đặc
biệt tác giả còn giới thiệu được một số phương pháp dạy học tích cực theo
hướng đổi mới như : sử dụng bộ đồ dùng học tập trong dạy học, sử dụng máy
chiếu, băng hình,… nhằm phục vụ cho quá trình dạy - học đạt kết quả cao nhất.
Trong cuốn Phương pháp dạy học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc cấp tiểu
học (Tài liệu bồi dưỡng GV) của dự án phát triển GVTH đã nghiên cứu và hướng
dẫn HS trong giờ Tập đọc. Đây là những vấn đề có ý nghĩa thực tiễn có thể áp dụng
vào dạy đọc không chỉ đối với HS dân tộc thiểu số mà ngay cả đối với HS dân tộc
Kinh thì những biện pháp này vẫn hoàn toàn có tác dụng tích cực.
Dạy lớp 3 theo chương trình tiểu học mới của dự án phát triển GVTH đã
đề cập đến những phương pháp, biện pháp chủ yếu để dạy đọc trong đó chú
trọng phương pháp đọc mẫu, phương pháp luyện đọc theo mẫu, phương pháp
thực hành giao tiếp, phương pháp đàm thoại, phương pháp sử dụng trò chơi học
tập nhưng mới chỉ đề cập đến vấn đề mang tính lí luận của phương pháp, chưa
hướng dẫn cụ thể.
Cuốn Rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt (Giáo trình đào tạo GVTH hệ cao
đẳng sư phạm và sư phạm 12 + 2). Tác giả Đào Ngọc - Nguyễn Quang Ninh đã
đưa ra kĩ thuật đọc ở các hình thức đọc thành tiếng và đọc thầm đây cũng là
những gợi ý để tôi đề xuất các biện pháp rèn kĩ năng đọc cho HS lớp 3, trường
Tiểu học Lục Sơn.
Những công trình nghiên cứu trên với các hướng nghiên cứu khác nhau
song đều đưa ra những lí luận có tính thuyết phục cho dạy học tập đọc, đây là cơ
sở quan trọng để người viết đi sâu vào tìm hiểu “Biện pháp rèn kĩ năng đọc cho
HS lớp 3 Trường Tiểu học Lục Sơn, huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang” sao cho
có hiệu quả.

- Phương pháp thống kê khảo sát thực tế nhằm củng cố cơ sở thực tiễn
cho khóa luận bằng cách dự giờ, phát phiếu điều tra, trắc nghiệm,…
- Phương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp lí thuyết và thực
tiễn khái quát và rút ra những kết luận, đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng đọc
cho HS.

4


7. Giả thiết khoa học
Nếu khóa luận được thực hiện thành công sẽ là tài liệu tham khảo cho sinh
viên khoa Tiểu học - Mầm non, GV Trường Tiểu học Lục Sơn, huyện Lục Nam
- tỉnh Bắc giang để góp phần rèn kĩ năng đọc cho HS.
8. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của khóa luận được
chia làm 3 chương :
Chương 1 : Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.
Cơ sở lí luận : Nghiên cứu đọc và rèn kĩ năng đọc ở nhà trường tiểu học;
cơ sở tâm, sinh lí của việc dạy đọc; cơ sở ngôn ngữ và văn học của việc dạy đọc;
các phương pháp dạy học đặc trưng của môn Tiếng Việt ở tiểu học.
Cơ sở thực tiễn : Tìm hiểu nội dung chương trình phân môn Tập đọc trong
SGK Tiếng Việt 3; thực trạng dạy - học phân môn Tập đọc lớp 3 Trường Tiểu
học Lục Sơn.
Chương 2 : Biện pháp rèn kĩ năng đọc cho HS lớp 3 Trường Tiểu học
Lục Sơn, huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang.
Tác giả đề xuất 10 biện pháp : Tạo hứng thú học tập cho HS; GV rèn kĩ
năng đọc mẫu; Hướng dẫn HS rèn kĩ năng đọc đúng; Hướng dẫn HS rèn kĩ năng
đọc diễn cảm; Hướng dẫn HS rèn kĩ năng đọc thầm; thiết kế hệ thống câu hỏi
giúp HS tìm hiểu bài; sử dụng đồ dùng trực quan; sử dụng trò chơi; dạy học Tập
đọc theo hướng tích hợp với các phân môn và môn học khác; sử dụng hoạt động

phương pháp dạy học.
Kĩ năng đọc là một kĩ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện tập lâu
dài T.G.E Gôrốp chia việc hình thành này thành 3 giai đoạn phân tích, tổng hợp
(còn gọi là giai đoạn phát sinh, hình thành một cấu trúc chỉnh thể của hành
động) và giai đoạn tự động hóa.

6


HS lớp 2, 3 bắt đầu đọc tổng hợp. Thời gian gần đây người ta đã chú trọng hơn
đến những mối quan hệ quy định lẫn nhau của việc hình thành kĩ năng đọc, đồng
thời hướng tới việc hoàn thiện kĩ năng đọc, hướng đến đọc có ý thức bài đọc.
1.1.2.3. Ý nghĩa của việc đọc và rèn kĩ năng đọc
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu của văn hóa, khoa học,
tư tưởng, tình cảm của các thế hệ trước và của cả những người đương thời phần
lớn đã được ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì con người không thể
tiếp thu nền văn minh của loài người, không thể sống bình thường có hạnh phúc
với đúng nghĩa của từ này trong xã hội hiện đại. Biết đọc con người đã nhân khả
năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây ta biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống, nhận
thức các mối quan hệ tự nhiên xã hội tư duy. Biết đọc con người sẽ có khả năng
chế ngự một phương tiện văn hóa cơ bản giúp họ giao tiếp được với thế giới bên
trong của người khác, thông hiểu tư tưởng, tình cảm của người khác. Đặc biệt
khi đọc các tác phẩm văn chương, con người không chỉ thức tỉnh về nhận thức
mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, được khơi dậy năng
lực hành động, sức mạnh sáng tạo cũng như bồi dưỡng tâm hồn. Không biết đọc
con người sẽ không có điều kiện hưởng thụ sự giáo dục mà xã hội dành cho họ,
không thể hình thành được một nhân cách toàn diện. Đặc biệt trong thời đại
bùng nổ công nghệ thông tin thì biết đọc ngày càng quan trọng vì nó sẽ giúp
người ta sử dụng các nguồn thông tin, đọc chính là học, học nữa, học mãi, đọc
để tự học, học cả đời.

chỗ theo dấu câu và ngữ nghĩa văn bản; giọng đọc rõ ràng lưu loát đủ nghe.
+ Đọc diễn cảm là hình hình thức đọc thành tiếng không những đạt được
yêu cầu đọc đúng đã nêu ở trên mà còn có yêu cầu về ngữ điệu đọc truyền cảm
và sự kết hợp về ngữ điệu đọc với các yếu tố kèm ngôn ngữ như nét mặt, cử chỉ,
điệu bộ, ánh mắt góp phần diễn tả nội dung bài đọc và hướng tới người nghe.
- Đọc thầm là hình thức đọc không thành tiếng, người đọc dùng mắt để
nhận biết văn bản và vận dụng năng lực tư duy để thông hiểu và tiếp nhận nội
dung thông tin của văn bản.
Yêu cầu của kĩ thuật đọc thầm là :
+ Tập trung chú ý trong khi đọc.
+ Rèn luyện để có tốc độ đọc thầm nhanh.
+ Tự kiểm tra kết quả đọc thầm.
8


b) Giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phương pháp và thói quen làm
việc với sách, làm việc với văn bản, làm việc với sách cho HS
Làm cho sách trở thành một sự tôn sùng, ngự trị trong nhà trường, đó là
một trong những điều kiện để trường học thực sự trở thành trung tâm văn hóa.
Nói cách khác thông qua việc dạy đọc, phải làm cho HS thích thú và thấy đó là
một trong những con đường đặc biệt để tạo cho mình cuộc sống trí tuệ đầy đủ và
phát triển.
c) Các nhiệm vụ khác
Vì việc đọc không thể tách rời khỏi những nội dung được đọc nên bên
cạnh việc rèn kĩ năng đọc, giáo dục lòng yêu sách, phân môn Tập đọc còn có các
nhiệm vụ sau :
- Làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, kiến thức văn học cho HS.
- Phát triển ngôn ngữ và tư duy cho HS.
- Giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ cho HS.
1.1.2. Cơ sở tâm lí, sinh lí của việc dạy đọc

Quá trình hiểu văn bản bao gồm các bước sau :
+ Hiểu các từ ngữ
+ Hiểu nghĩa các câu
+ Hiểu nghĩa các khối đoạn
+ Hiểu nghĩa được cả bài
HSTH không phải bao giờ cũng dễ dàng hiểu được những bài mình đọc. Hầu
như toàn bộ sức chú ý đều tập trung vào việc nhận ra mặt chữ, đánh vần để phát
âm, còn nghĩa thì chưa đủ thì giờ và sức lực để mà nhận biết. Mặt khác, do vốn từ,
năng lực liên kết thành câu, thành ý còn hạn chế nên việc hiểu nội dung còn khó
khăn. Đây là cơ sở để hình thành năng lực đọc hiểu cho HSTH.
1.1.3. Cơ sở ngôn ngữ và văn học với việc dạy đọc
Phương pháp dạy học Tập đọc phải dựa trên cơ sở ngôn ngữ học. Nó liên
quan mật thiết đến một số vấn đề của ngôn ngữ học như vấn đề chính âm, chính
tả, chữ viết, ngữ điệu (thuộc ngữ âm học) vấn đề nghĩa của từ, câu, đoạn, bài
(thuộc từ vựng học, ngữ pháp học) vấn đề dấu câu, các kiểu câu,... (thuộc ngữ
pháp học).
Mặt khác, cần phải thấy rằng hiện nay, những vấn đề nghiên cứu của việt
ngữ học còn hạn chế, chưa đáp ứng những vấn đề đòi hỏi của phương pháp.
10


Ví dụ : Việc chưa thống nhất được một chuẩn chính âm, những nghiên cứu
ít ỏi về ngữ điệu tiếng Việt,... làm cho phương pháp dạy Tập đọc không tránh
khỏi những lúng túng khi giải quyết những vấn đề về đọc đúng, đọc diễn cảm.
Chẳng hạn, không giải quyết được vấn đề phát âm địa phương một cách có tính
nguyên tắc, không có được những chỉ dẫn cụ thể cho đọc đúng, đọc diễn cảm
đành bằng lòng với những cách nói chung chung, hời hợt.
a) Vấn đề chính âm trong tiếng Việt
Chính âm là các chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và hiệu
quả về mặt xã hội. Vấn đề chuẩn mực phát âm tiếng Việt đang là vấn đề thời sự


+

+

Âm đầu v

+

+

-

Âm cuối t, n

+

+

-

Sáu thanh

+

-

-

Thực tế bức tranh ngữ âm của các phương ngữ tiếng Việt còn đa dạng và

c) Lí thuyết văn bản, phong cách văn bản và việc dạy đọc
Việc dạy đọc không thể không dựa trên lí thuyết về văn bản. Những tiêu
chuẩn để phân tích, đánh giá một văn bản (ở đây muốn nói tới những bài Tập
đọc ở tiểu học) nói chung cũng như lí thuyết để phân tích, đánh giá các tác phẩm
văn chương nói riêng.
Việc hình thành kĩ năng đọc đúng, đọc diễn cảm và đọc hiểu cho HS phải
dựa trên những tiêu chuẩn đánh giá một văn bản tốt : Tính chính xác, tính đúng
đắn và tính thẩm mĩ, dựa trên các đặc điểm về các kiểu ngôn ngữ, các phong
12


cách chức năng, các thể loại, các bảng điểm về loại thể của tác phẩm văn
chương dùng làm ngữ điệu đọc ở tiểu học.
Ví dụ : Cách đọc khai thác để hiểu nội dung một bài thơ, một đoạn tả
cảnh, một câu tục ngữ, một truyền thuyết, một bài lịch sử, một bài có tính chất
khoa học thường thức,... là khác nhau. Việc hướng dẫn HS tìm hiểu nội dung bài
đọc cũng phải dựa trên những hiểu biết về đề tài, chủ đề kết cấu nhân vật, quan
hệ giữa nội dung và hình thức, các biện pháp thể hiện trong tác phẩm văn học
nhằm miêu tả, kể chuyện và biểu hiện các phương tiện, biện pháp tu từ.
Việc luyện đọc cho HS phải dựa trên những đặc điểm ngôn ngữ văn học,
tính hình tượng, tính tổ chức cao và tính hàm xúc đa nghĩa của nó.
1.1.4. Các phương pháp đặc trưng của dạy học Tiếng Việt ở tiểu học
Có nhiều phương pháp dạy học đặc trưng của dạy học môn Tiếng Việt ở
tiểu học có thể áp dụng vào dạy phân môn Tập đọc như :
Phương pháp phân tích ngôn ngữ : Là phương pháp được sử dụng một
cách có hệ thống trong việc xem xét tất cả các mặt của ngôn ngữ : Ngữ âm, ngữ
pháp, từ vựng, cấu tạo từ, chính tả, phong cách với mục đích làm rõ các kiểu
đơn vị ngôn ngữ. Hình thức và cách thức cấu tạo ý nghĩa của việc sử dụng
chúng trong nói năng. Các dạng phân tích ngôn ngữ : quan sát ngôn ngữ (là giai
đoạn đầu của quá trình phân tích ngôn ngữ nhằm tìm ra điểm giống và khác

1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Nội dung dạy học phân môn Tập đọc lớp 3
SGK Tiếng Việt 3 gồm 93 bài Tập đọc, trong đó có 30 bài thơ, 63 bài văn
xuôi (truyện, văn miêu tả, văn bản khoa học, nghị luận và văn bản thông
thường), 18 bài là tác phẩm văn học nước ngoài hoặc có nội dung về nước ngoài
và người nước ngoài.
Chương trình gồm 15 chủ điểm lớn như : Măng non, Mái ấm, Tới trường,
Cộng đồng, Quê hương, Bắc trung nam, Anh em một nhà, Thành thị và nông
thôn, Bảo vệ tổ quốc, Sáng tạo, Nghệ thuật, Lễ hội, Thể thao, Ngôi nhà chung,
Bầu trời và mặt đất. Mỗi chủ điểm được học trong hai tuần, riêng chủ điểm Ngôi
nhà chung học trong 3 tuần.
Bám sát các chủ điểm, nội dung phân môn Tập đọc phản ánh nhiều lĩnh
vực khác nhau, từ gia đình, nhà trường, quê hương, các vùng miền và các dân
tộc anh em trên đất nước ta đến các hoạt động văn hóa, khoa học, thể thao và các
14


vấn đề lớn của xã hội như bảo vệ hòa bình, phát triển tình hữu nghị, sự hợp tác
giữa các dân tộc, bảo vệ môi trường sống, chinh phục vũ trụ,...
Trong các bài Tập đọc việc sử dụng các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa
ngắn gọn, dễ hiểu tạo nên hình ảnh ngôn ngữ. Vì vậy nhờ sự phân dạng các bài
Tập đọc đã góp phần giúp GV xác định được đặc trưng riêng của từng giọng
điệu để hướng dẫn HS đọc tốt, đọc hay và nâng cao chất lượng cảm thụ của HS
bằng chính giọng đọc của mình.
Về thơ, thể thơ trữ tình chiếm vị trí đa số. Các bài thơ được trích dẫn từ
hình ảnh nhạc điệu quen thuộc, thiên về giáo dục tình cảm, đạo đức, tình yêu
quê hương đất nước, gia đình, trường học, tình hữu nghị, những ước mơ cao
đẹp,... Giúp HS nâng cao kĩ năng, cảm xúc thẩm mĩ, kích thích các em đọc
đúng, đọc hay để cảm thụ cái hay, cái đẹp của văn chương.
1.2.2. Thực trạng dạy - học phân môn Tập đọc lớp 3 Trường Tiểu học


100

6

24%

19

76%

3B

25

100

5

20%

20

80%

3C

24

100

số kết quả quan trọng.
Với câu hỏi thứ nhất : Theo cô ở lớp 3 Tập đọc là phân môn như thế nào ?
Thì cả 3 cô đều cho rằng Tập đọc là phân môn rất quan trọng và nó có tác động
đến nhiều môn học khác. Đây là một nhận thức đúng đắn bởi muốn dạy tốt được
phân môn này cần phải hiểu đúng về tầm quan trọng của nó từ đó sẽ chú trọng
hơn đến việc rèn đọc cho HS.
Việc sử dụng phương pháp dạy học sao cho đạt kết quả tốt cũng là một
vấn đề đáng quan tâm, khi tôi đưa ra câu hỏi thứ hai : Trong giờ dạy Tập đọc lớp
3 cô thường sử dụng những phương pháp nào ? Cả 3 cô đều cho biết : phương
pháp đọc mẫu và luyện đọc theo mẫu, phương pháp trực quan, phương pháp
giao tiếp, phương pháp hỏi đáp, phương pháp khen thưởng,...
Qua hai tiết dự giờ ở lớp 3A và lớp 3C tôi nhận thấy đội ngũ GV đã đảm
bảo về mặt kiến thức chuyên môn là chuẩn GVTH. Trong quá trình giảng dạy
cũng đã có sự đổi mới về phương pháp, thích ứng với nội dung chương trình
mới nhưng vẫn gặp một số khó khăn trong giảng dạy dẫn đến hiệu quả dạy học
chưa cao.
Khi trò chuyện với cô Bàn Thị Thanh - GV dạy Tập đọc kiêm chủ nhiệm
lớp 3C (lớp chọn), cô cho tôi biết : HS lớp 3C phần lớn là HS dân tộc Kinh
(chiếm khoảng 54%), nhìn chung điều kiện gia đình các em khá, điều kiện học
tập tốt nên các em có khả năng đọc tốt, bên cạnh đó các em HS dân tộc cũng là
những HS được lựa chọn vào lớp chọn nên có khả năng đọc khá tốt. Hứng thú
học phân môn Tập đọc của các em cao, các em đã tự biết cách đọc bài theo loại
thể, tự biết ngắt, nghỉ hơi đúng chỗ, tuy khả năng đọc diễn cảm chưa cao và
phần nhiều các em còn phát âm ngọng hai phụ âm l/n. Đây là những khó khăn
lớn mà cô Thanh trăn trở, đang từng bước sửa lỗi cho các em nhưng cô cho biết
“Hiệu quả sửa lỗi chưa khả quan, việc phát âm sai phụ âm l/n đã là một hiện
tượng đối với các em HS đặc biệt là HS dân tộc Kinh. Việc sửa lỗi phát âm hai
phụ âm này là rất khó, cần phải có quá trình lâu dài”.
16


Không thích

Số lượng

53/74

20/74

1/74

Tỉ lệ

72%

27%

1%

17


Bảng 4 (câu 2) : Em thích đọc loại bài nào ?
Loại bài

Tổng

Bình thường

tập đọc


Văn xuôi

74

48

65%

24

32%

2

3%

Thích

Không thích

Bảng 5 (câu 3) : Em có những sách gì phục vụ cho việc học tập đọc ?

STT

Tên sách

Số HS

1



74

100%

0

0%

Các tài liệu khác

74

28

38%

46

62%

Bảng 6 (câu 4) : Trong quá trình học tập đọc em có thích chơi trò chơi không ?
Thích

Tổng số HS
74

Bình thường

Không thích

3A

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Không bao giờ

SL

%

SL

%

SL

%

25

7

28%

15

60%


54%

1

4%

18


Bảng 8 : Một số lỗi phát âm sai phụ âm đầu của HS lớp 3 Trường Tiểu học
Lục Sơn.
Lỗi phát âm
Lớp

Số HS

3A

25

3B

25

3C

24

l/n


12/25

9/25

6/25

7/25

(48%)

(36%)

(24%)

(28%)

15/24

5/24

4/24

2/24

(63%)

(21%)

(17%)


(%)

6/25

8/25

3/25

(24%)

(32%)

(12%)

7/25

6/25

4/25

(28%)

(24%)

(16%)

2/24

3/24


%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

3A

25

100

3

12%

8


8%

3C

24

100

9

38

13

54%

2

8%

0

0%

Tổng số

74

100


đọc. Nhưng bên cạnh đó còn có các văn bản theo phong cách khoa học, hành
chính lời đọc thường nhanh, mạnh, gọn, rứt khoát, trang nghiêm khó đọc nên
hứng thú đọc của các em chưa cao. Vì vậy, GV cần giúp HS nâng cao hứng thú
đọc các thể loại này.
Trò chơi là một biện pháp dạy học được vận dụng trong các môn học ở
tiểu học rất phổ biến, nó phù hợp với đặc điểm HSTH. Qua kết quả khảo sát cho
20


thấy tỉ lệ HS thích tham gia chơi trò chơi trong giờ Tập đọc cao (92%). Điều đó
cho thấy trò chơi có tác dụng rất lớn đối với HS, tạo cho các em niềm tin hứng
thú khi đọc. Do đó, GV cần thiết kế những trò chơi hay, thu hút HS tham gia
chơi, thực hiện được mục đích học mà chơi - chơi mà học trong giờ Tập đọc.
Giáo dục đổi mới cả nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và cách
nhận xét, đánh giá. Giờ đây GV không còn giao cho HS bài tập về nhà nhiều
như trước, việc rèn đọc được thực hiện chủ yếu trên lớp. Tuy nhiên đối với
những HS yếu thì sự hỗ trợ từ gia đình giúp các em rèn đọc ở nhà là rất cần
thiết. Kết quả trên cho thấy việc rèn đọc ở nhà của các em bị coi nhẹ. Bên cạnh
những HS dân tộc Kinh, điều kiện gia đình khá (nhiều HS là con em cán bộ)
được gia đình quan tâm rèn đọc cho con thì các em HS dân tộc lại không được
gia đình quan tâm như vậy. Các em HS dân tộc thường đọc yếu hơn, vì vậy mà
hứng thú đọc chưa cao, về nhà các em lười đọc. Điều đó giải thích vì sao ở lớp
3C (lớp chọn) chiếm tới 54% HS dân tộc Kinh lại có khả năng đọc tốt hơn hẳn 2
lớp còn lại.
Rèn kĩ năng đọc không tách khỏi yêu cầu sửa lỗi phát âm cho HS, dù HS
đọc nhanh, diễn cảm tốt đến đâu nhưng phát âm sai thì chưa được coi là có kĩ
năng đọc tốt. Kết quả điều tra cho thấy nhìn chung HS lớp 3 Trường Tiểu học
Lục Sơn đều mắc lỗi phát âm. Hai phụ âm mà các em mắc lỗi phát âm nhiều
nhất là l/n (HS dân tộc Kinh hầu như phát âm sai hai phụ âm này), tiếp theo là
các phụ âm tr/ch, r/d/gi, s/x. Nhiều HS chỉ phát âm sai 1 đến 2 phụ âm nhưng có

Việt ở tiểu học có thể áp dụng vào dạy phân môn Tập đọc lớp 3. Đây là vấn đề
người viết tìm hiểu qua tài liệu tham khảo. Thông qua cơ sở lí luận cho thấy rèn kĩ
năng đọc cho HS có vai trò quan trọng và cấp thiết, nó là tiền đề giúp các em học
tốt môn học này và cũng là cơ sở để học tốt các môn học khác trong chương trình
lớp 3 cũng như chuẩn bị cho yêu cầu về kĩ năng đọc cao hơn ở các lớp trên.
Về cơ sở thực tiễn, người viết tìm hiểu về nội dung chương trình phân môn
Tập đọc trong SGK Tiếng Việt 3; tìm hiểu về thực trạng dạy và học phân môn
Tập đọc lớp 3 Trường Tiểu học Lục Sơn. Qua khảo sát người viết nhận thấy rằng
nội dung chương trình phân môn Tập đọc trong SGK Tiếng Việt 3 rất phù hợp
với sự đổi mới giáo dục hiện nay, nhìn chung HS đã có hứng thú học phân môn.
này. Tuy nhiên khả năng đọc của các em còn chưa cao, các cô đã có sự quan tâm
đến việc luyện đọc cho HS nhưng kết quả đạt được còn chưa như mong muốn.
22


Trong quá trình giảng dạy còn nhiều khó khăn vì các cô còn gặp không ít bỡ ngỡ
trong việc tiếp cận với chương trình mới. Mặt khác, các GV dạy phân môn Tập đọc
khối 3 đều có nhiều năm thâm niên công tác, các cô đã quá quen với cách dạy cũ
nên việc chuyển sang cách dạy mới theo thông tư 30 là cả một quá trình đổi mới
cần phải có sự kiên trì, yêu nghề thì mới đem lại được hiệu quả cao. Việc đổi mới
nội dung, phương pháp, hình thức dạy học vào dạy học phân môn Tập đọc cần phải
được GV nghiên cứu kĩ lưỡng để vận dụng sao cho phù hợp với đặc điểm, trình độ
HS của mình nhằm đạt được hiệu quả của việc rèn kĩ năng đọc.

23


CHƯƠNG 2
BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 3 TRƯỜNG
TIỂU HỌC LỤC SƠN, HUYỆN LỤC NAM - TỈNH BẮC GIANG

pháp luyện tập theo mẫu, phương pháp thực hành giao tiếp, phương pháp gợi
mở vấn đáp, phương pháp trò chơi,... kết hợp các hình thức dạy học linh hoạt
theo nhóm 2, nhóm 4,... cả lớp hoặc cá nhân) như vậy HS sẽ tiếp thu bài tốt, có
hứng thú cao trong việc đọc bài, tìm hiểu bài, không gây cảm giác mệt mỏi.
Việc đánh giá, khen thưởng, ghi nhận sự tiến bộ của HS cần được đưa ra
kịp thời, như vậy sẽ là nguồn động viên lớn đối với các em. Điều đó đòi hỏi sự
khéo léo trong giao tiếp sự phạm của GV, GV cần đưa ra được những lời nhận
xét chính xác và thiên về khuyến khích HS để các em cố gắng tiến bộ. GV tránh
dùng những lời làm tổn thương đến HS, ảnh hưởng đến hứng thú học tập của các
em. Ví dụ, sau khi gọi một HS đọc cá nhân xong, GV yêu cầu cả lớp nhận xét
bài đọc của bạn, rồi đưa ra lời nhận xét của mình : Cô cũng đồng ý với ý kiến
của các bạn trong lớp, cô thấy bạn Phương hôm nay đọc rất hay, cả lớp khen
bạn nào ! (vỗ tay) Ngoài ra GV có thể khen nhóm nào đó đọc tốt, khen một cá
nhân đọc kém đã có tiến bộ trong rèn đọc : Cả lớp thấy hôm nay bạn đọc tốt
chưa ? HS trả lời, GV nhận xét thêm : Cô thấy bạn Lâm đã rất lỗ lực trong rèn
đọc, bài hôm nay bạn đọc khá tốt. Cả lớp khen bạn nào ! (vỗ tay)
Có thể nói tạo được hứng thú cho HS trong suốt tiết học là một việc không
phải dễ dàng nhất là đối với những lớp có khả năng đọc chưa cao. Vì vậy GV
cần có lòng yêu trò, yêu nghề, có trình độ chuyên môn cao, nghệ thuật giao tiếp
sư phạm tốt thì mới tạo được hứng thú cao cho HS.
2.2. GV rèn kĩ năng đọc mẫu
Mục đích của việc đọc mẫu là đưa ra mẫu về đọc thành tiếng. Đây chính là
cái đích, mẫu hình thành kĩ năng đọc mà HS cần đạt được. Đồng thời GV dùng
giọng đọc mẫu cho HS có một biểu tượng ban đầu về nội dung văn bản. Lúc này
đọc mẫu lại là phương tiện để HS bước đầu làm quen với văn bản để chiếm lĩnh
nội dung của nó. Bước đọc mẫu rất quan trọng vì cách tiếp xúc trực tiếp ấn
tượng đầu tiên rất quan trọng. Nó góp phần quyết định việc HS yêu thích hay
không yêu thích văn bản được đọc.
Để chuẩn bị tốt cho việc đọc mẫu, trước khi soạn giáo án GV cần đọc bài
để tìm hiểu nội dung bài đọc. Sau khi tìm hiểu sâu sắc được nội dung bài đọc kết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status