Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

LÝ THỊ HÀNH

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC
VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4,5

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

LÝ THỊ HÀNH

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC
VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4,5

CHUYÊN NGHÀNH: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS. Khổng Cát Sơn

SƠN LA, NĂM 2016


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo - Thạc sĩ

SGV

: Sách Giáo viên

NXB

: Nhà xuất bản

VD

: Ví dụ

TLV

: Tậplàm văn


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................ 2
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................. 4
4. Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu ............................................... 4
5. Phạm vi nghiên cứu .......................................................................................... 4
6. Giả thiết khoa học ............................................................................................. 4
7. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 5
8. Cấu trúc của đề tài ............................................................................................. 5
NỘI DUNG........................................................................................................... 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ......................................... 6
1.1. Cơ sở lý luận .................................................................................................. 6

2.5. Rèn kĩ năng phát hiện và sửa lỗi .................................................................. 51
TIỂU KẾT ........................................................................................................... 52
CHƯƠNG 3: THỂ NGHIỆM SƯ PHẠM ....................................................... 53
3.1. Mục đích thể nghiệm .................................................................................... 53
3.2. Đối tượng, địa bàn, thời gian thực nghiệm .................................................. 53
3.3. Phương pháp thực nghiệm ........................................................................... 53
3.4. Nội dung thực nghiệm và tiêu chí đánh giá ................................................. 54
3.4.1. Nội dung thực nghiệm ............................................................................... 54
3.4.2. Tiêu chí đánh giá ....................................................................................... 55
3.5. Kết quả thực nghiệm .................................................................................... 55
TIỂU KẾT ........................................................................................................... 60
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 63
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ xa xưa, con người đã biết dùng miêu tả trong thể hiện những sinh hoạt
trong cuộc sống hàng ngày. Sự miêu tả đó thường thấy ở những hình vẽ, những bản
trường ca, tiểu thuyết, áng văn… Đây là những tác phẩm được đúc kết từ kinh
nghiệm sống của các hoạ sĩ, nhà văn, nhà thơ,… những người có cảm nhận sâu sắc
về cuộc sống. Bằng nhiều biện pháp, cách thức, họ đã truyền tải đến người đọc,
người nghe những bức tranh sinh động đầy mầu sắc của sự vật hiện tượng.
Trẻ em chưa thể vẽ được những bức vẽ hoàn thiện. Các em chỉ biết dùng
lời nói, câu văn để viết lại những điều mà các em đã quan sát, nhận xét sự vật
dưới cái nhìn của trẻ con. Sự quan sát, nhận xét của các em còn thiên về cảm
tính. Việc dạy văn miêu tả cho trẻ Tiểu học sẽ góp phần nuôi dưỡng mối quan
hệ và tạo nên sự quan tâm của các em với thế giới xung quanh, trong đó quan
trọng nhất là với thiên nhiên, góp phần giáo dục tình cảm thẩm mĩ, tình yêu cái

Đồng thời bản thân HS còn gặp nhiều khó khăn về kiến thức lẫn kỹ năng viết
một bài văn miêu tả. Vì vậy bài văn của học sinh còn mang tính chất liệt kê, lời
văn lủng củng thiếu ý hay sắp xếp ý một cách lộn xộn, chưa có sự liên kết giữa
các ý và các câu, chưa có bố cục rõ ràng… Làm thế nào để viết được bài văn
vừa phù hợp về nội dung vừa đảm bảo về mặt hình thức? Cách viết một bài văn
miêu tả theo kết câí như thế nào? Cách viết phần mở bài, thân bài, kết bài? Cách
chuyển dàn ý thành một bài văn miêu tả hoàn chỉnh… Đây chính là những
nguyên nhân chủ yếu làm cho bài văn miêu tả trở nên lạc ý, thiếu ý, lặp ý, bị đứt
mạch do lỗi sử dụng các phương tiện liên kết. Làm cho những tiết TLV rèn kỹ
năng làm văn miêu tả trở nên căng thẳng, khô khan, thiếu cảm xúc đã làm mất
đi sự hứng thú trong học tập, sự sáng tạo và óc tưởng tượng phong phú của các
em học sinh.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Một số biện pháp
nâng cao hiệu quả dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phân môn TLV được chia thành nhiều kiểu bài khác nhau, mỗi kiểu bài có
vị trí và vai trò nhất định trong việc cung cấp kiến thức cho học sinh. Đối với
phân môn TLV ở tiểu học, văn miêu tả có vị trí đặc biệt quan trọng. Thực tế
hiện nay có rất nhiều nhà giáo dục đã tiến hành các công trình nghiên cứu rèn
2


kỹ năng làm văn, trong đó có văn miêu tả, để nâng cao chất lượng bài văn cho
học sinh.
Trong các tài liệu Bồi dưỡng giáo viên (NXB GD - 2004, 2005, 2006), đã
đề cập đén một số yêu cầu cơ bản về kiến thức, kỹ năng mà HS cần phải nắm
được trong phân môn TLV. Qua đó đề xuất các biện pháp dạy học TLV theo nội
dung khá đa dạng và phong phú cho GV tiểu học.
Cuốn Rèn kỹ năng sử dụng tiếng Việt (giáo trình đào tạo giáo viên tiểu học
hệ cao đẳng sư phạm và sư phạm 12/12) của Tác giả Đào Ngọc - Nguyễn Quang

pháp nâng cao hiệu dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5.
Nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài hướng tới là:
- Tìm hiểu mục tiêu, nội dung dạy- học văn miêu tả lớp 4,5
- Thực trạng dạy- học văn miêu tả ở lớp 4,5
- Một số biện pháp dạy học văn miêu tả lớp 4,5
4. Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp
4, 5.
4.2. Khách thể nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành trên 94 học sinh khối lớp 4, 5 trường Tiểu học
Kiên Lao - Lục Ngạn – Bắc Giang.
5. Phạm vi nghiên cứu
- Các biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4,
5 nằm trong chương trình Tiểu học.
- 94 học sinh khối lớp 4, 5 thuộc trường Tiểu học Kiên Lao – Lục Ngạn –
Bắc Giang.
- 15 giáo viên thuộc trường Tiểu học Kiên Lao – Lục Ngạn – Bắc Giang.
- Các dạng văn miêu tả ở lớp 4: miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối, miêu tả con vật.
- Các dạng văn miêu tả ở lớp 5: tả cảnh và tả người.
6. Giả thiết khoa học
Tìm hiểu biện pháp rèn kỹ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 là
một vấn đề còn nhiều khó khăn được GV tiểu học quan tâm. Nếu các biện pháp
được tôi đề xuất chứng minh được tính khả thi sẽ góp phần rèn luyện kỹ năng
4


làm văn miêu tả cho HS lớp 4,5 nói riêng và góp phần nâng cao hiệu quả dạy
học môn Tiếng Việt nói chung. Đề tài mong muốn sẽ là tài liệu cho sinh viên
khoa Tiểu học- Mầm non trong quá trình học tập, nghiên cứu, rèn luyện nghiệp

1.1.1.1. Văn miêu tả
Theo Đào Duy Anh trong hán việt từ điển thì miêu tả là “lấy nét vẽ hoặc
câu văn để biểu hiện chân tướng sự vật”. Trong hội hoạ, các hoạ sĩ thường dùng
đến những đường nét, mầu sắc để miêu tả sự vật, hiện tượng khiến các bức tranh
trông y thật. Sự miêu tả trong văn chương có ưu thế riêng so với sự miêu tả bằng
mầu sắc, đường nét,hội hoạ. Dùng ngôn ngữ văn chương có thể miêu tả sự vật
trong một quá trình vận động ; có thể tả được những thứ vô hình như âm thanh,
tiếng động, hương vị… hay tư tưởng thầm kín của con người. Vì vậy, trong văn
miêu tả, người ta không đưa ra một lời nhận xét chung chung hay những đánh
giá trừu tượng về một sự vật đại loại như cái xe này xấu, cái bánh kia ngon…
Văn miêu tả là một bức tranh vẽ các sự vật, hiện tượng, con người bằng ngôn
ngữ một cách sinh động, cụ thể. Nhờ có văn miêu tả, con người có thể lạc vào
thế giới của những cảm xúc, những âm thanh, tiếng động,hương vị của những
cánh đồng, khu rừng, làng quê…, thấy rõ tư tưởng, tình cảm của mỗi con người,
mỗi sự vật. Đó là sự kết tinh các nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc mà
người viết thu lượm được khi quan sát cuộc sống.
Dưới cánh bay của chú chuồn chuồn nước xinh xắn, chúng ta hãy cùng
ngắm nhìn vẻ đẹp thanh bình của đất nước qua ngòi bút của nhà văn Nguyễn
Thế Hội : “Rồi đột nhiên, chú chuồn chuồn nước tung cánh bay vọt lên. Cái
bóng chú nhỏ xíu lướt nhanh trên mặt hồ. Mặt hồ trải rộng mênh mông và lặng
sóng. Chú bay lên cao hơn và xa hơn. Dưới tầm cánh chú bây giờ là luỹ tre xanh
rì rào trong gió, là bờ ao với những khóm khoai nước rung rinh. Rồi những cảnh
tuyệt đẹp của đất nước hiện ra : cánh đồng với những đàn trâu thung thăng gặm
cỏ; dòng sông với những đoàn thuyền ngược xuôi. Còn trên tầm cao kia là đàn
cò đang bay, là trời xanh và cao vút…”
6


Với cách miêu tả linh hoạt, tránh sự đơn điệu, tác giả đã lấy cái tĩnh tại
của hồ nước mênh mông và lặng sóng, của luỹ tre xanh rì rào, của bờ ao, khóm


tượng này đều có những nét khác nhau nhất định trong văn miêu tả. Nhưng
không có nghĩa bất kỳ sự vật nào trong thực tế cũng trở thành đối tượng của văn
miêu tả. Văn miêu tả phải là loại văn giàu cảm xúc, giàu những rung động mạnh
mẽ của tâm hồn người viết.
b. Văn miêu tả mang tính chân thực, sinh động, tạo hình
Đây là đặc điểm quan trọng của văn miêu tả. Một bài văn miêu tả được coi
là sinh động, tạo hình khi các sự vật, hiện tượng, con người hiện lên qua từng
câu, từng dòng như trong cuộc sống hiện thực, người ta có thể cầm, nắm, nhìn,
ngắm, hoặc “sờ mó” được chúng. M.Gorki có lần đã nói lên sự khâm phục của
mình trước những trang miêu tả thần diệu của Ban - dắc trong tác phẩm Miếng
da lừa : “Tôi thực sự kinh ngạc khi đọc những trang tả bữa tiệc ở nhà ông chủ
nhà băng trong tiểu thuyết Miếng da lừa của Bandắc. Ở đó có đến vài chục
người cùng nói, tạo nên cảnh ồn ào hỗn độn và tôi tưởng như nghe thấy những
âm thanh phức tạp ấy. Nhưng cái chính là tôi không cchỉ nghe thấy mà còn trông
thấy ai nói như thế nào. Tôi thấy con mắt, nụ cười điệu bộ của họ mặc dù
Bandắc không tả hình dáng các vị khách của ông chủ nhà băng.”
Văn miêu tả không hạn chế sự tưởng tượng, không ngăn cản cái mới mẻ
của người viết. Nhưng như vậy không có nghĩa văn miêu tả cho phép người viết
bịa một cách tuỳ tiện, muốn nói sao thì nói, viết sao thì viết.
Khi miêu tả cái mới, cái riêng phải gắn chặt với cái chân thực. Thấy đúng
như thế nào thì tả như vậy. Không thể thấy con mèo rất nhỏ mà lại tả to như con
hổ mẹ được.
Văn miêu tả vẽ ra các sự vật, sự việc, hiện tượng, con người bằng ngôn ngữ
một cách sinh động, cụ thể. Bởi vì trong văn miêu tả, người ta không đưa ra
những nhận xét chung chung, những lời đánh giá trừu tượng về sự vật mà phải
làm cho người ta thấy rõ đối tượng như đang xem tận mắt, bắt tận tay.
Văn miêu tả có tính sinh động và tạo hình. Nét sinh động và tạo hình của
văn miêu tả là những chi tiết sống, gây ấn tượng nhưng khi tước bỏ chúng đi bài
văn sẽ trở nên mờ nhạt, vô vị. Đọc lại bài văn “tưởng như bắt gặp nụ cười nhợt

thấy đủ loại tính từ : màu sắc, tính chất, đánh giá…đan xen nhau tạo thành
“những chùm sáng ngôn ngữ” trong văn miêu tả. Và người viết còn đan xen giai
điệuphụ trợ như: tường thuật, kể chuyện… làm cho việc trình bày nội dung sinh
động hơn giúp người đọc hứng thú trong việc tiếp nhận văn bản.
9


1.1.2. Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 4, 5 với việc dạy học văn miêu tả
Học sinh lớp 4, 5 đã bắt đầu bước vào tuổi thiếu niên. Các em lớn nhanh,
kích thước và tổ chức cơ thể đã tiến gần đến người trưởng thành. Hành vi và đời
sống của các em đang có những thay đổi rõ rệt. Lưa tuổi này được gọi là lứa tuổi
chuyển giao giữa trẻ con và người lớn. Các em rất dễ xúc động. Chính việc dâng
cao cảm xúc đã làm các em thay đổi hoạt động sáng tạo yêu thích, từ vẽ sang hình
thức sáng tạo bằng lời nói. So với vẽ và đặc biệt là những bức vẽ hoàn thiện thì lời
nói cho phép diễn đạt dễ dàng hơn rất nhiều lần những quan hệ phức tạp, những
tính chất bên trong, những sự vận động logic, sự phức tạp của sự kiện.
Lớp 4, 5 là giai đoạn mà các em chuyển từ nhận thức cảm tính sang nhận
thức lý tính, có mục đích. Đối với HS lớp 4, 5 tư duy trực quan đã được hình
thành và bắt đầu chuyển dần sang tư duy trừu tượng, khái quát. Tư duy các em
đã thay đổi về chất, biết tổng hợp các sự vật, hiện tượng, tích luỹ được nhiều
kinh nghiệm hơn so với các lớp đầu bậc học. Các em đã có khả năng phân tích,
khái quát, biết phê phán và kiến thức lĩnh hội không chỉ một chiều. Ở lứa tuổi
này, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cụ thể, trẻ tái
tạo ra những hình ảnh mới. Tưởng tượng sáng tạo, phong phú tương đối phát
triển, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ…Đặc biệt trí tưởng
tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các cảm xúc, tình
cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng để gắn liền với các rung động tình
cảm. Các em có lòng say mê văn học, hứng thú với việc dùng câu văn của mình
để bộc lộ một sự vật, một hiện tượng nào đó, có tình cảm và sự gắn bó với
những đồ vật, những loài vật và cây cối xung quanh. Từ đó các em có nhu cầu

1.2.1. Văn miêu tả trong trường tiểu học
Nội dung chương trình Tập làm văn lớp 4, 5
Trong chương trình TLV lớp 4, 5 học sinh được trang bị kiến thức cần
thiết về văn miêu tả, về kỹ năng viết đoạn văn, bài văn miêu tả. Các kiến thức
này được cung cấp qua các nội dung: cấu tạo bài văn miêu tả, Luyện tập quan
sát, Luyện tập lập dàn ý, Luyện tập xây dựng đoạn văn, Bài viết và trả bài viết.
Các nội dung này là một khuôn mẫu, được lặp lại ở các kiểu bài văn miêu tả:
miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối, miêu tả con vật, miêu tả cảnh, miêu tả con
người. Ngoài ra nội dung chương trìnhTLV miêu tả lớp 4, 5 còn có thêm cả
những kiến thức lý thuyết sơ
11


giản giúp HS nắm chắc về đặc điểm, kết cấu và phương pháp làm bài của từng
kiểu văn miêu tả. Chương trình nhấn mạnh yếu tố thực hành, coi trọng việc rèn
luyện kỹ năng, đặc biệt là kĩ năng xây dựng đoạn văn.Hs được học các viết đoạn
văn với nhiều nội dung và các kiểu khác nhau ở một số dạng bài văn miêu
tảnhững dối tượng quen thuộc,gần gũi với học sinh.Một số kĩ năng xây dựng
đoạn văn thành thạo, học sinh sẽ chủ động, tự tin hơn khi xây dựng được một
bài văn hoàn chỉnh.
Văn miêu tả chiếm vị trí quan trọng trong chương trình tập làm văn lớp 4,
5. Ở lớp 4 số tiết học văn miêu tả là 30/62 tiết tập làm văn chiếm 48,38% (chưa
kể số tiết ôn tập và kiểm tra giữa kỳ, cuối kỳ). Ở lớp 5 số tiết học văn miêu tả là
45 tiết trong tổng số 62 tiết tập làm văn của cả năm học. Ở hai lớp học này, HS
được học là 5 kiểu bài: tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật, tả cảnh và tả người.
Như vậy, mỗi bài kiểm tra đều được dành khá nhiều số tiết, nhằm giúp
học sinh luyện tập và làm bài tốt hơn. Nghĩa là, HS có đầy đủ kiến thức và kỹ
năng làm được một bài văn miêu tả hay, sinh động, sáng tạo, giàu hình ảnh và
cảm xúc. Tất cả các tiết học đều có kỹ năng làm văn, có nghĩa là chương trình
tập làm văn nói chung và văn miêu tả nói riêng đã chú trọng đến vấn đề rèn kỹ

dạycác tiết học về văn miêu tả. Tuy nhiên, trong thực tế dạy học văn miêu tả,
hoạt động dạy và học còn diễn ra khá sơ sài, qua loa. Tôi đã tiến hành điều tra,
khảo sát thực trạng về nắm vững các yêu cầu về giảng dạy các tiết Tập làm văn
miêu tả của 15 giáo viên thuộc địa bàn Xã Kiên Lao, Huyện Lục Ngạn, Tỉnh
Bắc Giang và kết quả điều tra thu được kết quả sau:
Bảng: Thực trạng về việc nắm được các yêu cầu giảng dạy TLV miêu tả
KẾT QUẢ ĐIỀU TRA
STT

NỘI DUNG
SỐ LƯỢNG

TỈ LỆ %

1

Khái niệm về văn miêu tả

11

53,33

2

Nắm được đặc điểm văn miêu tả

6

23,58



Nắm được cách lập dàn bài cho bài văn

12

55,88

7

Nhận biết được các loại đoạn văn

1

8,82

8

Nắm được các phép liên kết câu

8

41,18

9

Nắm được các biện pháp tu từ sử dụng trong

3

26,47

trạng thầy, trò nhiều khi bị lệ thuộc vào văn mẫu, không thoát ra được.
- Nhìn chung GV chưa nắm kỹ các kiến thức, yêu cầu giảng dạy TLV miêu
14


tả, tình trạng trên là do các nguyên nhân sau: trình độ giáo viên không đồng đều,
đào tạo dưới mhiều hình thức khác nhau(chính quy, tại chức,…), thiếu tài liệu
tham khảo, ít thời gian cho việc bổ sung khiến thức hoặc chưa thường xuyên tự
trau đồi kiến thức phục vụ cho việc giảng dạy văn miêu tả… Vì vậy các kiến
thức GV vận dụng vào những tiết dạy văn tả thường sơ sài, qua loa. Ngoài ra,
GV chưa nhận thức được hết tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng viết văn miêm
tả, đặc điểm tâm lý của HS cũng khiến cho giờ dạy và học TLV miêu tả trở nên
nhàm chán, ít gây được hứng thú cho HS.
- Thực trạng về việc rèn kỹ năng viết văn miêu tả cho HS lớp 4, 5
Việc dạy học văn miêu tả ở Tiểu học, bên cạnh có nhiều điểm tốt, mang lại
một số hiệu quả nhất định, còn có khá nhiều nhược điểm. Khuyết điểm, lớn nhất,
dễ thấy nhất là bệnh công thức, khuân sáo máy móc thiếu tính chân thực trong
cả cách dạy và học văn miêu tả.
Mỗi bài văn là sự kết tinh của những nhận xét tinh tế, là sản phẩm của sự
tiếp thu và vận dụng nhứng kiến thức đã học. Đọc xong một bài văn của HS có
thể thấy ngay kết quả dạy học của GV. Thực tế cho thấy GV lớp 4,5 sợ dạy văn
miêu tả, HS cũng sợ viết văn miêu tả. Tại sao lại mhư vậy? Bên cạnh GV nắm
kiến thức chưa sâu, chưa chắc chắn còn có các nguyên nhân về tổ chức thực hiện
các kỹ năng viết văn miêu tả.
Do quan sát, tìm ý là một hoạt động không thể thiếu trong việc dạy và học
viết văn miêu tả nên chương trình dành hẳn một tiết quan sát, tìm ý ở mỗi kiểu
bài văn miêu tả. Tuy nhiên, các tiết quan sát, tìm ý thường diễn ra sơ sài, chưa
đúng với một tiết dạy quan sát, tìm ý. Vì vậy, kiến thức, kỹ năng mà GV cung
cấp trong các tiết dạy quan sát, tìm ý chưa giúp HS phản ánh dầy đủ và chính
xác đối tượng miêu tả.

1

Sự thích thú môn học làm văn

30

33,33

2

Hiểu khái niệm về văn miêu tả

35

37,04

3

Nắm được đặc điểm văn miêu tả

29

31,48

4

Nắm được nội dung, yêu cầu, đặc điểm

37



Nắm đuọc các phép liên kết câu

36

38,89

9

Nắm được các biện pháp tu từ sử dụng

41

46,30

trong văn miêu tả
16


Qua điều tra chúng ta thấy:
- Số HS thích thú với việc làm văn là rất thấp chỉ chiếm 33,33%
- Hiểu khái niệm về văn miêu tả chiếm 37,04%
- Năm được đặc điểm văn miêu tả chiếm 31,48%
- Nắm được nguyên tắc, phương pháp qua sát chiếm 40,74%
- Nắm được yêu cầu, nội dung, đặc điểm của các dạng văn miêu tả chiếm 29,63%
- Nắm được cách tìm ý, lập dàn bài chiếm 27,78%
- Nhận biết được các loại đoạn văn chiếm 33, 33%
- Nắm được các phép liên kết câu chiếm 38,89%
- Nắm được các biện pháp tu từ chiếm 46,30%
Qua việc xem bài làm của HS và khảo sát tình hình học tập của các em HS

+ Nắng đã lên me hem ra đồng.
- Lỗi về sử dụng dấu câu sai:
+ Cây phượng vĩ. Rợp bóng cho sân trường của em.
Lỗi ngoài câu:
- Lỗi câu lạc chủ đề: Con sông nằm uốn mình dưới bờ tre xanh rì rào, cây
tre nhiều đốt màu xanh.
- Lỗi câu có nội dung trùng lặp với câu khác trong văn bản:
+ Giặc minh xâm chiếm nước ta. Chúng làm nhiều điều bạo ngượckhiến
dân ta vô cùng căm hận. Chúng hòng cướp nước ta.
Học sinh nắm được kiến thức cơ bản của phân môn Luyện từ và câu nhưng
khi áp dụng vào viết văn thì các em thường không chú ý diễn đạt nên đã mắc
phải một số lỗi như ở trên. Từ chỗ mắc lỗi về câu cộng với việc chưa biết cách
sử dụng các biện pháp nghệ thuật, vốn từ lại nghèo nàn nên bài văn miêu tả của
các em thường khô khan, lủng củng nghèo cảm xúc, bài văn trở thành một bảng
liệt kê các chi tiết của đối tượng miêu tả.
Học sinh chưa nắm được các bước quan sát, tìm ý, cungc như cách ghi ý
trong quá trình quan sát. Các em quan sát còn lộn xộn, không đi theo một trình
tự nhất định. Cách quan sát cũng chưa có logic và hệ thống, cộng với vốn từ quá
ít ỏi đã gây không ít khó khăn cho việc chọn từ ngữ, hình ảnh khi miêu tả.
Trong quá trình viết đoạn văn, việc phát triển các ý thành câu và liên kết
các câu trong đoạn văn chiếm tỉ lệ thấp.
18


Bên cạnh đó các em chua biết lồng cảm xúc vào trong bài viết của mình.
Phần lớn bài văn miêu tả của các em rất khô khan, thiếu sự gợi cảm cần có của
văn miêu tả.
Tóm lại, tất cả những tồn tại trên đã trực tiếp làm cho chất lượng dạy học
TLV miêu tả đang ở mức độ thấp. Sâu xa hơn, nó còn ảnh hưởng đến tư tưởng,
tình cảm và sự phát triển nhân cách của HS. Với cách dạy học TLV như thực


6

4

10

+ Miêu tả cây cối

0

11

11

+Miêu tả con vật

0

8

8

+ Viết thư

3

0

3


3

32 Tiết

30 Tiết

62 Tiết

-Kể chuyện
-Miêu tả

-Các loại văn khác:

Tổng số

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status