Thiết kế trò chơi vận động cho trẻ nhà trẻ 24 – 36 tháng tuổi trường mầm non hoa hồng – huyện mộc châu – tỉnh sơn la - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

LÒ THỊ HÀ

THIẾT KẾ MỘT SỐ TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG CHO TRẺ
NHÀ TRẺ 24 – 36 THÁNG TUỔI TRƯỜNG MẦM NON HOA
HỒNG – HUYỆN MỘC CHÂU – TỈNH SƠN LA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sơn La, năm 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

LÒ THỊ HÀ

THIẾT KẾ MỘT SỐ TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG CHO TRẺ
NHÀ TRẺ 24 – 36 THÁNG TUỔI TRƯỜNG MẦM NON HOA
HỒNG – HUYỆN MỘC CHÂU – TỈNH SƠN LA

Thuộc nhóm ngành khoa học: Giáo dục mầm non
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS. Lường Thị Định

Sơn La, năm 2016


LỜI CẢM ƠN

TCSPMN

Trung cấp sư phạm mầm non

TCVĐ

Trò chơi vận động

BT

Bình thường

SDD

Suy dinh dưỡng

BP

Béo phì

TC

Thấp còi

B. BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Bảng theo dõi sức khỏe trẻ 24 - 36 tháng tuổi trường Mầm non Hoa
Hồng - huyện Mộc Châu - tỉnh Sơn La (2015 - 2016)……………………..…..30


MỤC LỤC

MẦM NON ......................................................................................................... 29


2.1. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................. 29
2.1.1. Khảo sát thực tiễn ...................................................................................... 29
2.1.2. Phân tích kết quả điều tra .......................................................................... 30
2.2. Căn cứ để thiết kế ra một số trò chơi vận động cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi . 35
2.2.1. Căn cứ vào sự phát triển vận động của trẻ 24 – 36 tháng tuổi. ................. 35
2.2.2. Căn cứ vào hoạt động trong ngày và hoạt động phát triển vận động cho trẻ ...36
2.2.3. Căn cứ vào đặc điểm, tình hình tăng trưởng và phát triển của trẻ 24 – 36 tháng
tuổi trường Mầm non Hoa Hồng.....................................................................................37
2.2.4. Căn cứ vào nội dung hoạt động phát triển vận động cho trẻ trong chương
trình giáo dục mầm non ....................................................................................... 38
2.3. Các bước thiết kế TCVĐ cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong khóa luận .............. 39
2.4. Thiết kế một số TCVĐ cho trẻ 24- 36 tháng tuổi theo chủ đề ở trường mầm
non……. .............................................................................................................. 44
2.4.1. Trò chơi: Tàu hỏa đi vào đường hầm ........................................................ 44
2.4.2. Trò chơi: Thuyền cập bến ......................................................................... 45
2.4.3. Trò chơi: Bắn máy bay .............................................................................. 46
2.4.4. Trò chơi: Đua xe ô tô ................................................................................ 46
2.4.5. Trò chơi:Chở hàng về kho......................................................................... 47
2.4.6. Trò chơi “Xe đạp xuống dốc” ................................................................... 47
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 ...................................................................................... 49
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................... 51
1. Kết luận ........................................................................................................... 51
2. Kiến nghị ......................................................................................................... 51
2.1. Đối với giáo viên .......................................................................................... 51
2.2. Đối với cán bộ quản lý Giáo viên mầm non ................................................ 52
2.3. Đối với các cơ sở đào tạo giáo viên mầm non ............................................. 52
2.4. Đối với các cấp quản lí ................................................................................. 52

cong vẹo, sai khớp. Thứ hai là hạn chế về đồ dùng, đồ chơi cho trẻ còn chưa đa
dạng phong phú; lớp học, sân chơi dành cho các TCVĐ còn hạn hẹp. Thứ ba là
giáo viên chưa thật sự đầu tư thời gian vào việc thiết kế trò chơi vận động cho
trẻ, giáo viên còn phụ thuộc vào sách vở sử dụng những trò chơi có sẵn trong
1


khi đó trẻ 24 – 36 tháng tuổi là trẻ đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ về
mọi mặt nhất là mặt thể chất vì vậy trẻ cần được tham gia vào các TCVĐ mới
phù hợp với sự phát triển của trẻ.
Từ những lý do trên, đề tài “ Thiết kế trò chơi vận động cho trẻ nhà trẻ 24 –
36 tháng tuổi trường mầm non Hoa Hồng – huyện Mộc Châu – tỉnh Sơn La” đã
được lựa chọn để nghiên cứu thành khóa luận.
2. Lich
̣ sử nghiên cứu vấ n đề
Nghiên cứu sự phát triển về thể chất của trẻ là một vấn đề không còn mới
mẻ mà nó đã có từ rất lâu nhưng những nghiên cứu về vấn đề này cho đến tận
bây giờ nó vẫn luôn là sự lựa chọn nóng cho các nhà nghiên cứu. Qua nhiều thời
đại giáo dục thể chất nhất là những TCVĐ, hoạt động vận động nhằm phát triển
thể chất cho trẻ vẫn luôn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học
khác nhau như: giáo dục học, tâm lý học, triết học,… và đã đạt được những
thành tựu to lớn.
Có rất nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục học trên khắp thế giới cùng tham
gia nghiên cứu về sự phát triển thể lực và TCVĐ cho trẻ như: nhà giáo dục lỗi
lạc K.D.Usixci (1824 – 1870) người Nga, đề cao vai trò của thể lực và TCVĐ
của trẻ ở ngoài trời; nhà triết học, nhà xã hội học, nhà sư phạm G.Spencer (1820
– 1903) tác giả của học thuyết “ sức dư thừa” cho rằng chơi (vận động) chính là
sự giải tỏa năng lượng dư thừa ở trẻ em giúp cho trẻ cảm thấy thoải mái, tinh
thần vui vẻ hơn. Ngoài các tác giả trên ta có thể kể đến một số tác giả như: P.Ph
Lexgap, G.Rútxô, I.G. Pestalozi, các nhà tâm lý, nhà giáo dục học Macxit,

đế n khóa luận.
3.2.2. Thiế t kế một số TCVĐ cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi theo chủ đề ở
trường mầm non.
4. Đối tượng, khách thể và địa bàn nghiên cứu
4.1. Đố i tượng nghiên cứu
Tìm hiểu việc thiết kế trò chơi vận động cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi.
4.2. Khách thể và địa bàn nghiên cứu
4.2.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình phát triển thể chất cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi ở trường mầm non.
4.2.2. Địa bàn nghiên cứu

3


Trường mầm non Hoa Hồng – huyện mộc Châu – tỉnh sơn La gồm: 10 giáo
viên, 2 lớp nhà trẻ 24 – 36 tháng tuổi (mỗi lớp 30 trẻ)
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu sách, tài liệu có liên quan tới vấn đề đang nghiên cứu. Từ đó,
đọc và hệ thống hóa, chọn lọc những tài liệu liên quan để xây dựng cơ sở lí luận
cho khóa luận.
5.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.2.1. Dùng phiếu điều tra kết hợp trao đổi với một số giáo viên ở trường
mầm non về thực trạng nhận thức và trình độ đào tạo của giáo viên liên quan đến
việc thiết kế TCVĐ cho trẻ nhà trẻ 24 – 36 tháng tuổi.
5.2.2. Quan sát giờ học phát triển thể chất, quan sát và ghi chép lại những
TCVĐ thường dùng ở trường mầm non mà giáo viên sử dụng nhằm phát triển thể
chất cho trẻ.
5.2.3. Xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học: thống kê số liệu
thu thập được sau khỏa sát để có những nhận định, đánh giá thực trạng một cách

5


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Sơ lược về thiết kế trò chơi vận động
1.1.1. Khái niệm
1.1.1.1. Thiết kế là gì?
Theo George, Trưởng khoa Đồ họa trường Đại học Luân Đôn thì “Thiết
kế là những gì liên kết sự sáng tạo và đổi mới. Nó định hình các ý tưởng để trở
thành những đề xuất thực tiễn và hấp dẫn người dùng hoặc khách hàng. Thiết kế
có thể được mô tả như sự triển khai sáng tạo đến một mục đích cụ thể nào đó”.
Nghĩa là: Khi nhắc đến thiết kế chúng ta sẽ nghĩ ngay đến những cái mới mẻ,
chưa từng được công bố, chưa ai khám phá hay chưa có một ai biết đến,... Nó
hoàn toàn là sản phẩm của sự sáng tạo xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, nó xuất
hiện là để nhằm mục đích thỏa mãn những nhu cầu của xã hội và nó phù hợp với
sự phát triển của xã hội.
1.1.1.2. Trò chơi vận động là gì?
Trò chơi vận động là loại trò chơi có luật, thường do người lớn nghĩ ra
cho trẻ chơi. TCVĐ là sự phối hợp giữa các thao tác vận động và một số vận
động cơ bản trong đó lượng vận động chiếm ưu thế. TCVĐ dành cho trẻ mầm
non thường là những trò chơi có chủ đề. Nội dung chơi thường phản ánh về hiện
tượng thiên nhiên, xã hội, các hành động của con vật... do đó, TCVĐ mang tính
hiện thực.
Khi tham gia vào trò chơi, trẻ phải tập trung chú ý, ghi nhớ những lời giải
thích của giáo viên để thực hiện đúng các vận động cần thiết. Cho nên, đặc điểm
nổi bật của trò chơi vận động là sự đòi hỏi phối hợp hoạt động của quá trình nhận
thức và vận động.
Ví dụ: Trong trò chơi vận động Mèo đuổi chuột, quy tắc chơi quy định là
chuột chạy trốn, Mèo đuổi chuột. Nhưng chuột và mèo chạy trốn và đuổi như

trẻ biết: con gà, con chuột, con mèo,... hoặc những phương tiện xã hội: đoàn tàu,
ô tô, tàu thủy,... Nội dung vận động được hình tượng hóa như vậy sẽ lôi cuốn sự
hứng thú, tích cực của trẻ và tiếp cận dễ dàng hơn.
- Hành động chơi là những hệ thống động tác (thao tác) vận động mà trẻ
phải thực hiện trong quá trình chơi. Hệ thống các động tác vận động thường có

7


lời ca, tiếng hát có vần nhịp đi kèm: trẻ vừa hát vừa chạy nhảy, vừa hát vừa
bò,...
- Luật chơi là những quy ước, quy định mà trẻ phải tuân theo trong khi
chơi. Luật chơi ở đây không gò đứa trẻ vào một khuôn mẫu cứng nhắc xong nó
trở thành động cơ thúc đẩy trẻ vận động tích cực.
Thứ ba là trong TCVĐ, mọi trẻ đều được tham ra. Có hoạt động tập thể
nên có sự ganh đua. Trong đó yếu tố thắng thua đã kích thích tính tích cực vận
động của trẻ. Nói đúng hơn, kết quả chơi đã kích thích tính tích cực vận động.
Song điều lý thú hơn là dù thắng hay thua, mọi trẻ đều vui vẻ thoải mái, không
hề buồn bã.
1.1.3. Vai trò của trò chơi vận động đối với trẻ 24 - 36 tháng tuổi
Ở trường mầm non, TCVĐ được sử dụng một cách tối đa, nó vừa là nội
dung học tập trong chương trình giáo dục thể chất, vừa là phương pháp dạy học
vận động, vừa là hình thức tổ chức vui chơi, nghỉ ngơi tích cực, được trẻ rất yêu
thích, vừa là phương tiện để giáo dục toàn diện.Trò chơi mang lại niềm vui cho
trẻ, làm cho tinh thần của trẻ sảng khoái, một yếu tố quan trọng để phát triển thể
chất cho trẻ, vì tinh thần sảng khoái, thỏa mãn sẽ làm cho thể lực được phát triển
tốt hơn. Khi tham ra trò chơi, các cơ quan trong cơ thể được vận động một cách
tích cực, thúc đẩy sự trao đổi chất, tăng cường hô hấp và tuần hoàn máu... góp
phần tăng cường sức khỏe cho trẻ và TCVĐ còn ảnh hưởng đến tính cách của
trẻ. Trò chơi vận động là một nội dung quan trọng trong giáo dục thể chất. Vì

hệ hô hấp và các hệ cơ quan khác của cơ thể. Hoạt động vận động thường xuyên
sẽ kích thích mạnh mẽ sự trao đổi chất, thúc đẩy sự hoàn thiện về cấu trúc và các
chức năng của cơ thể như tăng cường năng lực co bóp, lưu thông máu, điều hòa
thần kinh tim được cải thiện, bộ máy hô hấp cũng được hoàn thiện.
Vai trò giáo dưỡng:
Nhờ có tính thích nghi của hệ thần kinh, những kĩ năng vận động được
hình thành dễ dàng ở trẻ em. Trẻ sử dụng những kĩ năng đó trong cuộc sống
hàng ngày để di động, dần dần thành thói quen vận động. Những thói quen vận
động giúp trẻ tiết kiệm được sức di chuyển trong không gian, thúc đẩy sự phát
triển của các cơ quan bên trong cơ thể, tăng cường khả năng nhận thức thế giới
xung quanh. Trẻ biết bò thì nó tự bò đến các đồ vật mà nó thích và làm quen với
chúng… Tập luyện đúng đắn với các động tác của bài tập vận động cũng như
9


các động tác trong trò chơi vận động sẽ ảnh hưởng tích cực tới sự phát triển cơ
bắp dây chằng, khớp, hệ xương. Tạo ra khả năng lặp lại các động tác với số lần
nhiều hơn và ảnh hưởng tốt tới hệ tim mạch, hô hấp cũng như việc phát triển các
tố chất thể lực (sự nhanh nhẹn, khéo léo, sự mạnh mẽ bền bỉ).
Vai trò giáo dục:
Trò chơi là phương tiện phát triển trí tuệ cho trẻ: Là phương tiện mở rộng,
củng cố chính xác hóa những biểu tượng của trẻ về cuộc sống xung quanh. Nội
dung chủ yếu của trò chơi là nhiệm vụ vận động mà trẻ phải thực hiện đó là
những vận động cơ bản phù hợp với lứa tuổi và được thể hiện dưới dạng hành vi
vận động mà trẻ biết tất cả những điều trẻ lĩnh hội được trước lúc chơi dưới
nhiều hình thức hoạt động khác nhau sẽ được chính xác hơn, phong phú hơn.
Là phương tiện giúp trẻ lĩnh hội tri thức mới. Trong một số trường hợp
khi tham gia chơi dưới sự hướng dẫn của người lớn trẻ khám phá được nhiều
điều mới lạ, thú vị với thế giới xung quanh. Là phương tiện phát triển các quá
trình tâm lý nhận thức của trẻ (cảm giác, tri giác,trí nhớ, tư duy, tưởng tượng,

dục toàn diện cho trẻ.
Trong quá trình giáo dục thể chất, trò chơi vận động là phương tiện hoàn
thiện kĩ năng vận động cơ bản cho trẻ: bò, chạy, nhảy, ném, bắt… Đồng thời qua
trò chơi này, những phẩm chất thể lực cơ bản cũng được hình thành: sự nhanh
nhẹn, linh hoạt, dẻo dai, mạnh dạn… Nhờ sự vận động một cách tích cực, hứng
thú mà quá rình trao đổi chất của trẻ được tăng cường, hệ tuần hoàn, hô hấp, tiêu
hóa hoạt động tích cực hơn; hoạt động của hệ thần kinh được linh hoạt, bền bỉ
hơn, cơ bắp phát triển mạnh mẽ. TCVĐ góp phần phát triển sự tập trung chú ý,
trí nhớ, tư duy tưởng tượng và cảm xúc cho trẻ em. Để tham gia trò chơi, trẻ
phải tập trung nghe cô giáo giới thiệu nội dung chơi, luật chơi, làm cho tri giác,
trí nhớ có chủ định của trẻ được phát triển.
Khi tham gia trò chơi, trẻ tích cực sáng tạo giải quyết các nhiệm vụ chơi,
tình huống chơi trong hoàn cảnh tưởng tượng nhờ đó mà tư duy, trí tưởng tượng
của trẻ được phát triển. Những trò chơi vận động có kèm lời ca, tiếng hát mô tả
hành động làm cho ngôn ngữ trẻ được phát triển. Trong khi thể hiện hành động
chơi, nhất là hành động chơi theo vai (vai quạ, vai gà con, vai gà mẹ…) và kết
thúc chơi (ai thắng, ai thua…) mang lại niềm vui vô bờ bến, qua đó xúc cảm,
tình cảm của trẻ được phát triển (trẻ lo lắng, chạy thật nhanh khi “quạ” đuổi; vui
11


sướng khi chạy đến bên mẹ không bị bắt…). Khi tham gia TCVĐ, các biểu
tượng về thế giới xung quanh: đặc điểm hoạt động lao động của người lớn, cách
thức đi của con vật, của phương tiện giao thông… được mở rộng và củng cố.
TCVĐ còn ảnh hưởng đến tính cách, khí chất của trẻ. Trong khi chơi trẻ
thể hiện hành vi, đạo đức, tính cách của mình, trẻ phải tuân theo quy tắc (luật)
của trò chơi. Những quy tắc đó điều khiển hành vi của trẻ, tạo điều kiện để trẻ
hợp tác với nhau trong khi chơi, hình thành ở trẻ tính trung thực, lòng dũng cảm,
tính kiên trì… Thực tế cho hay rằng, trong công tác giáo dục thể chất cho trẻ ở
trường mầm non, người ta thường tổ chức trò chơi vận động hoặc ít ra là đưa ra

phù hợp với trẻ mầm non vì nó bao trùm hết các trò chơi vận động trong chương
trình giáo dục vận động cho trẻ.
- Nhóm trò chơi vận động có luật đơn giản
Nhóm trò chơi này bao gồm các TCVĐ khác nhau về nội dung, phương
pháp tổ chức trẻ, mức độ phức tạp của luật chơi và đặc điểm của nhiệm vụ vận
động. Vì vậy, người ta chia nhóm trò chơi vận động này thành những nhóm nhỏ,
bao gồm: Trò chơi vận động có chủ đề, trò chơi vận động không có chủ đề, trò
chơi vận động vui nhôn giải trí.
+ Trò chơi vận động có chủ đề
Trò chơi loại này được xây dựng trên cơ sở những kinh nghiệm vận động
của trẻ, những hiểu biết và những ấn tượng của chúng về cuộc sống xung quanh
như: Nghề nghiệp của người lớn, các phương tiện giao thông, các hiện tượng
thiên nhiên và một số con vật.
Những đặc điểm vận động của các hiện tượng trên là cơ sở để xây dựng
nội dung và quy tắc của trò chơi. Trò chơi vận động có chủ đề có nội dung và
quy tắc chơi. Chủ đề là quy tắc của trò chơi sẽ xác định tính chất vận động của
trẻ trong khi chơi. Có trường hợp trẻ phải chạy nhấc cao đầu gối bắt chước con
ngựa, trong trường hợp khác trẻ phải nhảy như con thỏ, có lúc lại phải biết leo
lên thang giống như các chú công an cứu hỏa,… Như vậy, trò chơi vận động có
chủ đề, các vận động của trò chơi bao giờ cũng mang tính bắt chước. Trẻ tham
gia chơi phải bắt đầu vận động, dừng lại hoặc thay đổi vận động cho phù hợp
với quy tắc của trò chơi. Quy tắc và nội dung chơi có liên quan chặt chẽ với
nhau. Quy tắc xác định hành vi và mối quan hệ qua lại của các trẻ tham gia chơi.

13


Ví dụ: Trong trò chơi mèo đuổi chuột, mèo và chuột có quan hệ với nhau. Mèo
chạy chậm, chuột có thể chạy chậm và ngược lại.
Trò chơi vận động có chủ đề có các vai chơi, nó tạo ra khả năng tác động

như nhau, đều có quy tắc ; có nhân vật chủ chốt là người chạy, bị bắt ; có hành
động chơi liên quan giữa những trẻ tham gia chơi.
Trò chơi này được xây dựng chủ yếu từ những vận động đơn giản, thường
là vận động chạy kết hợp với vận động bắt hoặc tránh, né. Hành động trong trò
chơi của trẻ chỉ liên quan đến việc thực hiện một nhiệm vụ vận động nào đó
như: Hãy đuổi theo cô, Tìm cờ,…Điều kiện để thực hiện nhiệm vụ đó do quy tắc
của trò chơi xác định. Loại trò chơi này áp dụng nhiều đối với trẻ lứa tuổi nhà
trẻ và mẫu giáo bé.
+ Trò chơi vận động không có chủ đề loại thi đua, tranh giải:
Cơ sở của loại trò chơi này là việc thực hiện những nhiệm vụ nhất định
trong khuôn khổ của quy tắc. Những yếu tố thi đua trong trò chơi thúc đẩy tính
tích cực của trẻ, yêu cầu trẻ thể hiện các yếu tố vận động và phẩm chất ý chí
khác nhau như sức chịu đựng, tính tự lực,…
Có hai hình thức thi đua, tranh giải, bao gồm: Hình thức thi đua cá nhân
và thi đua tập thể: Hình thức thi đua cá nhân thường áp dụng cho trẻ lớp mẫu
giáo nhỡ như: Trò chơi Hãy đổi đồ chơi, Ai chạy nhanh đến cờ,…Trong trò
chơi, trẻ cố gắng thực hiện nhiệm vụ vận động tốt hơn cho chính bản thân mình.
Hình thức thi đua tập thể, đồng đội tranh giải, tiếp sức thường dành cho trẻ mẫu
giáo lớn, vì sức chịu đựng của cơ thể trẻ đã đạt ở mức độ cao. Trong trò chơi,
mỗi trẻ phải cố gắng thực hiện nhiệm vụ. Vì kết quả chung của tổ phụ thuộc vào
sự nhanh trí của mỗi tổ viên, vào sự nhịp nhàng, phối hợp của tất cả các thành
viên khi vận động.
Ví dụ như: Trò chơi Tổ nào tập nhanh nhất, Chuyền bóng tiếp sức, Cướp cờ,…
+ Trò chơi vận động không chủ đề có sử dụng dụng cụ: Quy tắc của trò
chơi loại này sẽ xác định vị trí, thứ tự sắp xếp dụng cụ, cách thức sử dụng dụng
cụ và thứ tự thực hiện vận động.
Mỗi trẻ tham gia chơi sẽ thực hiện hành động chơi chính, không phụ
thuộc vào những trẻ khác, nhưng kết quả của mỗi trẻ chơi lại là động cơ thúc
đẩy trẻ khác thực hiện vận động chính xác hơn phải cố gắng đạt kết quả cao hơn.
Trò chơi này thường được ấp dụng cho trẻ mẫu giáo lớn chơi.

hành động, kiểu đi của các con vật (có sự ganh đua). Qua những trò chơi đó các
chức năng tâm lí của trẻ như tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng, cảm xúc, ý
chí, đặc biệt là chức năng kí hiệu – tượng trưng được phát triển mạnh mẽ; cũng
16


qua đó trẻ học được cách làm người một cách tự nhiên. Cứ thế hoạt động vui
chơi cùng với những hoạt động khác biến trẻ trở thành một con người có những
cơ sở ban đầu của một nhân cách đang phát triển với trí khôn của con người.
Giai đoạn 24 – 36 tháng tuổi là giai đoạn trẻ có những bước phát triển
mạnh về ngôn ngữ, trí tuệ, tình cảm.
Về ngôn ngữ: Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ ở giai đoạn này theo hai
hướng chính: Hoàn thiện sự thông hiểu lời nói và hình thành ngôn ngữ tích cực
của trẻ.
Nghe hiểu lời nói: Việc hiểu lời nói của trẻ ở giai đoạn này phải gắn với
hành động tình huống cụ thể. Trong nhận thức của trẻ các đồ vật và hành động
với đồ vật chưa thể tách rời khỏi nhau. Chẳng hạn, trẻ hiểu lời nói “đi xe” khi trẻ
nhìn thấy một người đi xe hay chính trẻ đang ngồi trên xe. Bước sang 2 tuổi lời
nói có tác động khởi động có tác dụng lớn hơn lời nói có tác dụng kìm hãm.
Nghĩa là, đứa trẻ bắt đầu thực hiện hành động nào đó theo lời chỉ dẫn dễ dàng
hơn nhiều so với việc ngưng lại hành động mà người lớn buộc thôi làm hay cấm
đoán. Thường thì đến khi lên 3 tuổi việc hiểu lời nói tách rời tình huống cụ thể
được hình thành. Đây là thành tựu quan trọng của trẻ ở lứa tuổi này. Nó giúp trẻ
biết sử dụng ngôn ngữ như là phương tiện để nhận thức thế giới.
Hình thành ngôn ngữ tích cực: khi trẻ được 24 tháng tuổi hoạt động với đồ
vật ngày càng phong phú thì giao tiếp với người xung quanh ngày càng mở rộng,
điều đó kích thích trẻ phát triển ngôn ngữ tích cực (ngôn ngữ nói). Đây là thời kỳ
phát cảm ngôn ngữ. Thời kỳ này nhịp độ phát triển ngôn ngữ của trẻ tăng lên rõ rệt,
đặc biệt là vốn từ được mở rộng nhanh chóng và phát âm cũng được chính xác hơn.
“Trẻ lên 3 cả nhà học nói”. Khi trẻ lên 3 ngôn ngữ tích cực của trẻ phát triển mạnh

Về mặt tình cảm: Song song với sự xuất hiện của ngôn ngữ, sự xuất hiện
của tư duy, tình cảm của trẻ ở lứa tuổi này là sự xuất hiện tiền đề của sự hình
thành nhân cách. Cùng với những đặc trưng tâm lí trên thì “cái tôi” xuất hiện.
Đây là một mốc son chói lọi trong chặng đường phát triển tâm lý của trẻ. Nó
đánh dấu một bước trưởng thành một sự “nhảy vọt” về chất (từ không đến có)
của trẻ. Ý thức xuất hiện, tự ý thức xuất hiện giúp trẻ không chỉ nhận ra mọi thứ
xung quanh mà còn nhận ra “tôi là ai?”, “con gái hay con trai?”, “tôi có thẩm
quyền gì với những người xung quanh?”, tôi là…tôi là… Chính vì “choáng
ngợp” trước “cái tôi” lần đầu tiên xuất hiện đó đã khiến trẻ thấy mình thật “phi
18


thường”. Mình được mọi người yêu thương, được mọi người quan tâm, được
chăm sóc… và là trung tâm của gia đình. Sự “ngưỡng mộ” về bản thân khiến
đứa trẻ nghĩ: Mình có thể làm được như người lớn, và trẻ “muốn” và “đòi” làm
như người lớn. Nhưng thật mâu thuẫn vì trẻ không thể “tự mình làm như người
lớn”, hơn nữa trẻ lại luôn bị người lớn “ngăn cấm” khiến trẻ cảm thấy vô cùng
“ấm ức”. Điều đó trong tâm lý học gọi là hiện tượng “khủng hoảng tuổi lên 3”.
Về thực chất đây là cuộc khủng hoảng của nhu cầu, mong muốn, nguyện vọng
được làm người lớn của trẻ với khả năng của chúng…mâu thuẫn này tất yếu
phải xảy ra, đánh dấu một bước trưởng thành về trình độ tâm lý của trẻ, nhưng
nếu người lớn không ý thức được, không hiểu đầy đủ và có những giải pháp hỗ
trợ trẻ thì sẽ khiến thời kỳ khủng hoảng của trẻ kéo dài hơn và để lại hậu quả
nặng nề ở những giai đoạn sau trong cuộc đời của trẻ.
Dấu hiệu đầu tiên của sự hình thành nhân cách là sự “tự hình thành ý
thức”. Lúc này, trẻ bắt đầu tự ý thức được mình là một con người riêng biệt,
khác với người xung quanh. Trẻ ý thức được về bản thân mình, từ đó nảy sinh ý
muốn và hành động phân biệt mình với người khác, nhận ra giới tính của mình,
hiểu cơ thể mình… Bước cao hơn của sự tự ý thức là trẻ tự nhận xét, đánh giá
được mình. Thông qua cách đánh giá của người lớn, trẻ mong muốn hiểu được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status