ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------
TRỊNH THỊ PHƢƠNG
NHỮNG HÌNH ẢNH BIỂU TƢỢNG TRONG
THƠ TẾ HANH GIAI ĐOẠN 1945 - 1975
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------
TRỊNH THỊ PHƢƠNG
NHỮNG HÌNH ẢNH BIỂU TƢỢNG TRONG
THƠ TẾ HANH GIAI ĐOẠN 1945 - 1975
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60.22.01.20
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Lê Văn Lân
Hà Nội – 2014
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 3
1. Lí do chọn đề tài......................................................................................... 3
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................ 4
3. Phạm vi nghiên cứu.................................. Error! Bookmark not defined.
4. Mục đích nghiên cứu................................ Error! Bookmark not defined.
5. Phương pháp nghiên cứu ......................... Error! Bookmark not defined.
5. Kết cấu của luận văn ................................ Error! Bookmark not defined.
Chƣơng 1: KHÁI LƢỢC VỀ BIỂU TƢỢNG VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG
TÁC THƠ TẾ HANH GIAI ĐOẠN 1945 - 1975....... Error! Bookmark not
defined.
1.1. Khái lƣợc về biểu tƣợng ..................... Error! Bookmark not defined.
1.1.1. Một số quan niệm về biểu tượng ..... Error! Bookmark not defined.
1.1.2. Đặc trưng của biểu tượng ............... Error! Bookmark not defined.
1.1.3. Biểu tượng trong văn học nghệ thuật - một loại hình tượng đặc biệt.
................................................................... Error! Bookmark not defined.
1.2. Hành trình sáng tác thơ Tế Hanh giai đoạn 1945 - 1975 ......... Error!
Bookmark not defined.
1.2.1. Thơ Tế Hanh giai đoạn 1945 - 1954 ............. Error! Bookmark not
defined.
1.1.2. Thơ Tế Hanh giai đoạn 1954 – 1975 ............. Error! Bookmark not
defined.
Chƣơng 2: CÁC LOẠI HÌNH ẢNH BIỂU TƢỢNG TRONG THƠ TẾ
HANH GIAI ĐOẠN 1945 - 1975 ................. Error! Bookmark not defined.
2.1. Biểu tƣợng thiên nhiên ....................... Error! Bookmark not defined.
2.1.1. Hình ảnh biểu tượng dòng sông ..... Error! Bookmark not defined.
2.1.2. Hình ảnh biểu tượng biển ............... Error! Bookmark not defined.
và có nhiều đóng góp đáng kể. Thơ Tế Hanh không hướng về thế giới vĩ mô
xa lạ mà tìm về những cảnh đời bình dị, gần gũi của quê hương trong cách
cảm nghĩ chân thực, hồn nhiên và giàu ý vị của tuổi hoa niên. Đời thơ Tế
Hanh như Xuân Diệu nói là dòng suối trong thầm thì, róc rách đi vào những
mạch thầm kín của tình đời, tình người. Cùng với thế hệ các nhà thơ xuất hiện
trước Cách mạng tháng Tám, Tế Hanh đã đi qua chặng đường sáng tác khá
dài trên 60 năm và để lại nhiều tác phẩm có giá trị. Không kể tập tiểu luận
Thơ và cuộc sống mới và thơ viết cho thiếu nhi, ông có khoảng hơn 20 tập
thơ. Đến với thơ Tế Hanh, người đọc dễ dàng bắt gặp một hồn thơ hồn hậu,
trong trẻo và tràn đầy cảm xúc. Hồn thơ ấy lại được biểu hiện ra bởi một thế
giới của những gì rất gần gũi, quen thuộc, bình dị như cuộc sống thường ngày
của mọi người mà không thiếu những vẻ đẹp sâu xa. Trong đó, ta thấy có
những hình ảnh được xuất hiện nhiều lần, mang giá trị tượng trưng và trở
thành chìa khóa mã hóa thế giới nghệ thuật của nhà thơ. Đó là những loại từ
tập trung biểu đạt từng nội dung về thiên nhiên (sông, biển, ánh trăng, hoa…)
và con người (người mẹ, người tình “em”…). Những hình ảnh thực đó của
3
đời sống đã hiện lên với tất cả nét chân mộc và “điêu huyền” của nó, phù hợp
với tạng cảm xúc, quan niệm thẩm mỹ, góp phần đem lại nét riêng, độc đáo
của phong cách nghệ thuật thơ Tế Hanh.
1.3. Tế Hanh là cây bút sớm được phát hiện, khẳng định. Thơ ông đã
thu hút được sự quan tâm, đánh giá, phê bình của đông đảo bạn đọc và giới
nghiên cứu phê bình. Vì thế, từ trước đến nay đã có nhiều bài trên các sách,
báo, tạp chí, trang web… viết về sáng tác của Tế Hanh. Đa số, các bài viết
đều làm nổi bật những đặc sắc, thành công cả về nội dung tư tưởng và nghệ
thuật biểu hiện, đồng thời cũng chỉ ra được vị trí của mỗi tập thơ trong chặng
đường thơ của Tế Hanh. Nhìn chung, các bài viết vẫn chỉ dừng ở thế giới thơ,
phong cách nghệ thuật thơ Tế Hanh hoặc những chặng đường thơ. Vì vậy,
nhân không thể ngờ tới được” [40, tr. 140].
Cũng với tập thơ đầu tay này, Nhất Linh nhận định: “Ông Tế Hanh có
rất nhiều hứa hẹn trở nên một thi sĩ có tài…Hai bài Quê hương và Những
ngày nghỉ học là hai bài thơ hay của thơ ca Việt Nam và hai bài đó đủ định
giá trị của nhà thơ Tế Hanh” [22, tr. 283], điệu hồn thơ riêng của ông ngay từ
đầu cũng được Nhất Linh nắm bắt tinh tế “Một linh hồn rất phong phú có
những rung động rất sâu sắc và để diễn tả tâm hồn, ông có đủ nghệ thuật và
cách đặt câu, tìm chữ”… “Nghẹn ngào là thơ của một người có tấm lòng giàu,
dễ rung động trước muôn nghìn cảnh hoặc tầm thường, hoặc éo le trong đời.
Tập Nghẹn ngào gom góp tất cả những rung động phức tạp của một đời thiếu
niên” [22, tr. 284].
Quả thật, ngay từ đầu, Tế Hanh đã được khẳng định như một cây bút
thơ tinh tế, trong trẻo, nhiều hứa hẹn ngay từ trước cách mạng tháng Tám.
2.2. Sau cách mạng tháng Tám
Sau Cách mạng tháng Tám, Tế Hanh hồ hởi sáng tác và liên tiếp cho ra
đời những đứa con tinh thần của mình: Nhân dân một lòng (1953), Lòng miền
5
Nam (1956), Gửi miền Bắc (1958), Tiếng sóng (1960), Bài thơ tháng bảy
(1961), Hai nửa yêu thương (1963), Khúc ca mới (1966), Đi suốt bài ca
(1970), Câu chuyện quê hương (1973), Theo nhịp tháng ngày (1974), …Hầu
như mỗi tập thơ của ông ra đời sau đó đều xuất hiện những bài phê bình kịp
thời và công phu. Bài viết về thơ ông khá phong phú nhưng chủ yếu ở hai
dạng sau:
2.2.1. Những bài viết riêng về từng tập thơ
Là cây bút được mến mộ nên có nhiều bài viết tiêu biểu về các tập thơ
dọc theo đời thơ Tế Hanh. Lê Đình Kỵ với Tiếng sóng hay tiếng lòng của một
nhà thơ Việt Nam; Tiếng sóng một thành công quan trọng của Tế Hanh của
Đỗ Hữu Tấn; Thiếu Mai với Về tập thơ Hai nửa yêu thương của Tế Hanh;
Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội
4.
Nguyễn Văn Dân (1995), Những vấn đề lý luận của văn học so sánh,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
5.
Xuân Diệu (1983), Tuyển tập thơ tháng 1, Nxb Văn học, Hà Nội
6.
Phan Cự Đệ (1997), Văn học lãng mạn Việt Nam (1932-1945), Nxb Giáo
dục Hà Nội
7.
Nguyễn Đình (1963), Hai nửa yêu thương, một tập thơ mới trong giai
đoạn mới của Tế Hanh, Tạp chí Văn học, số 5 năm
8.
Hà Minh Đức (1979), Nhà văn Việt Nam, Nxb ĐH và GD chuyên nghiệp
9.
Hà Minh Đức (1998), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại,
Nxb Giáo dục, Hà Nội
22. Mã Giang Lân (2003), Tế Hanh - Về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục
23. Nguyễn Văn Long (1984), Tế Hanh trong sách Từ điển văn học tập II,
Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội
24. Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam, Thành Thế Thái Bình (1995), Lí luận
văn học tập III, Nxb Giáo dục, Hà Nội
25. Thiếu Mai (1970), Đi suốt bài ca, Tạp chí Tác phẩm mới, số 10
26. Thiếu Mai (1969), Đường thơ Tế Hanh, Tạp chí Văn học, Số 2
27. Nguyễn Đăng Mạnh (2000), Nhà văn Việt Nam hiên đại - chân dung và
phong cách, Nxb Trẻ, TPHCM
28. Nguyễn Xuân Nam (1997), Tế Hanh - Một hồn thơ đậm tình đất nước,
tạp chí Tác phẩm mới, số 8
29. Bàng Sĩ Nguyên (1964), Tế Hanh với hai nửa yêu thương, Báo Văn
nghệ, số 37
8
30. Vương Trí Nhàn (1996), Lời con đường quê, Tạp chí Tác phẩm mới, số 6
31. Vương Trí Nhàn (20-7-1996), Một cuộc đời sống trọn vẹn với thơ, Báo
Thể thao và văn hóa, số 29
32.
Lê Lưu Oanh (1998), Thơ trữ tình Việt Nam 1975-1990, Nxb Đại học
Quốc gia, Hà Nội
33. Hoàng Phê (chủ biên) (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà nẵng và
Trung tâm Từ điển học
34. Vũ Quần Phương (15-3-1975), Đọc Theo nhịp tháng ngày của Tế Hanh,
Báo Văn nghệ
35. Vũ Quần Phương (1984), Tế Hanh trong sách Nhà thơ Việt Nam hiện