MỤC LỤC
1
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp vừa qua, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản
thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô
giáo, bạn bè, người thân và các cơ quan đơn vị.
Qua thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học đã giúp tôi không những bổ sung
kinh nghiệm mà còn cho tôi làm quen dần với thực tế sản xuất. Có được thành công
đó, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo, ThS. Lê Hữu Cơ, với
tư cách là người trực tiếp hướng dẫn, thầy đã giành nhiều thời gian quý báu, tận
tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới Ban giám hiệu Trường Đại Học
Hồng Đức, Ban chủ nhiệm Khoa Nông Lâm Ngư Nghiệp, cùng các thầy giáo cô
giáo trong khoa đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu
của mình.
Tuy nhiên do thời gian không có nhiều, với kinh nghiệm và tầm nhìn còn hạn
chế nên báo cáo thực tập không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được
sự góp ý chân thành của giáo viên hướng dẫn và các thầy cô giáo trong khoa, cùng
toàn thể các bạn trong lớp ĐH Nông học Thiệu Hóa - Trường Đại Học Hồng Đức
để tôi khắc phục được những hạn chế của mình, đúc kết thêm kinh nghiệm trong
học tập, cũng như sau này ra trường công tác.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hoá, tháng 06 năm 2016
Sinh viên
Lê Viết Hương
2
trọng trong việc nâng cao hiệu quả phân bón, tăng năng suất, chất lượng và mang
lại hiệu quả kinh tế cho người dân. Với mục đích đó, chúng tôi tiến hành thực hiện
đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón đạm đến khả năng sinh
trưởng, phát triển và năng suất giống lúa Nhị ưu 838 vụ xuân 2016 tại xã Cán
Khê, huyện Như Thanh, Tỉnh Thanh Hóa”.
1.2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục đích
- Xác định được liều lượng bón đạm thích hợp giúp cho cây lúa sinh trưởng,
phát triển tốt và có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, đạt năng suất cao.
1.2.2. Yêu cầu cần đạt
- Xác định được ảnh hưởng của liều lượng bón đạm đến các chỉ tiêu sinh
trưởng của giống Nhị ưu 838.
- Đánh giá được ảnh hưởng của liều lượng bón đạm đến tình hình phát sinh
phát triển bệnh hại và khả năng chống chịu bệnh hại của giống Nhị ưu 838.
- Đánh giá được ảnh hưởng của liều lượng bón đạm khác nhau đến các yếu
tố tạo thành năng suất và năng suất của giống Nhị ưu 838.
- Đánh giá được hiệu quả kinh tế của việc bón phân đạm cho giống Nhị ưu
838.
1.3. Ý nghĩa khoa học – ý nghĩa thực tiễn
1.3.1. Ý nghĩa về mặt khoa học
Đánh giá và xây dựng cơ sở khoa học cho việc bón đạm trong sản xuất lúa.
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần khẳng định và làm rõ thêm lý luận về vai
trò quan trọng của đạm và góp phần hoàn thiện quy trình bón phân cho lúa.
1.3.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu sẽ chỉ ra ảnh hưởng của đạm đến sinh trưởng, phát triển
khả năng chống chịu một số loại sâu bệnh hại chính và năng suất của giống Nhị ưu
838, từ đó tạo cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn để hoàn thiện quy trình thâm canh
tăng năng suất của giống Nhị ưu 838 nói riêng và cây lúa nói chung.
đòng. Giai đoạn này cây phát triển về thân lá, chiều cao tăng dần và ra nhiều chồi
5
mới. Cây ra lá ngày càng nhiều và kích thước lá ngày càng tăng giúp cây lúa nhận
nhiều ánh sáng mặt trời để quang hợp, hấp thụ dinh dưỡng, gia tăng chiều cao, nở
bụi và chuẩn bị các giai đoạn sau.
Giai đoạn sinh sản từ phân hoá đòng đến lúa trổ bông. Trong giai đoạn này,
nếu đầy đủ dinh dưỡng, mực nước thích hợp, ánh sáng nhiều, không sâu bệnh và
thời tiết thuận lợi thì bông lúa sẽ hình thành nhiều hơn và vỏ trấu sẽ đạt được kích
thước lớn nhất của giống, tạo điều kiện gia tăng khối lượng hạt sau này.
Giai đoạn chín từ lúc lúa trổ bông đến lúc thu hoạch. Giai đoạn này cây lúa
trải qua các thời kỳ chín sữa, thời kỳ chín sáp, thời kỳ chín vàng, thời kỳ chín hoàn
toàn.
Yêu cầu dinh dưỡng đạm của cây lúa.
Đạm là một yếu tố dinh dưỡng quan trọng, quyết định sự sinh trưởng và phát
triển của cây trồng. đạm là một trong những nguyên tố cơ bản của cây trồng, là
thành phần cơ bản của axit amin, axit nucleotit và diệp lục. Trong thành phần chất
khô của cây có chứa từ 0,5 - 6% đạm tổng số. Hàm lượng đạm trong lá liên quan
chặt chẽ với cường độ quang hợp và sản sinh lượng sinh khối. đối với cây lúa thì
đạm lại càng quan trọng hơn, nó có tác dụng trong việc hình thành bộ rễ; thúc đẩy
nhanh quá trình đẻ nhánh và sự phát triển thân lá của lúa dẫn đến làm tăng năng suất
lúa. Do vậy, đạm góp phần thúc đẩy sinh trưởng nhanh (chiều cao, số dảnh) và tăng
kích thước lá, số hạt, tỷ lệ hạt chắc và tăng hàm lượng protein trong hạt. đạm ảnh
hưởng đến tất cả các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất lúa.
Đạm ảnh lớn đến hình thành đòng và bông lúa sau này, sự hình thành số hạt
trên bông, tỷ lệ hạt chắc, trọng lượng nghìn hạt ...
Lúa là cây trồng rất mẫn cảm với việc bón đạm. Nếu giai đoạn đẻ nhánh mà
thiếu đạm sẽ làm năng suất lúa giảm do đẻ nhánh ít, dẫn đến số bông ít. Nếu bón
dinh dưỡng cây lúa lấy đi là 100kg N, 50kg P 2O5, 160kg K2O, 19kg Ca, 12kg
Mg, 10kg S (Nguồn FIAC, do FAO Rome dẫn trong Fertilizes and Their use
lần thứ 5.
7
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Việt Nam đã sử dụng phân bón vô cơ trong
nông nghiệp. Đặc biệt trong những năm gần đây, có rất nhiều giống lúa lai được đưa
vào sử dụng, có khả năng chịu phân rất tốt, là tiền đề cho việc thâm canh cao, nhằm
không ngừng tăng năng suất lúa. Đối với cây lúa, đạm là yếu tố dinh dưỡng quan
trọng nhất, nó giữ vai trò quan trọng trong tăng năng suất.
Theo Nguyễn Như Hà, 2005 [16], nhu cầu về đạm của cây lúa có tính chất
liên tục trong suốt thời gian sinh trưởng của cây. Hàm lượng đạm trong cây và sự
tích luỹ đạm qua các giai đoạn phát triển của cây lúa cũng tăng rõ rệt khi tăng liều
lượng đạm bón. Nhưng nếu quá lạm dụng đạm thì cây trồng phát triển mạnh, lá to,
dài, phiến lá mỏng, tăng số nhánh đẻ vô hiệu, trỗ muộn, đồng thời dễ bị lốp đổ và
nhiễm sâu bệnh, làm giảm năng suất. Ngược lại thiếu đạm cây lúa còi cọc, đẻ
nhánh kém, phiến lá nhỏ, trỗ sớm. Hiệu lực của đạm còn phụ thuộc vào các yếu tố
dinh dưỡng khác. Thông thường các giống lúa có tiềm năng năng suất cao bao giờ
cũng cần lượng đạm cao; dinh dưỡng càng đầy đủ thì càng phát huy được tiềm
năng năng suất.
Theo De Datta S.K cho rằng, đạm là yếu tố hạn chế năng suất lúa có tưới.
Như vậy, để tăng năng suất lúa nước, cần tạo điều kiện cho cây lúa hút được nhiều
đạm. Sự hút đạm của cây lúa không phụ thuộc vào nồng độ đạm xung quanh rễ mà
được quyết định bởi nhu cầu đạm của cây.
Để nâng cao hiệu quả bón đạm thì phương pháp bón cũng rất quan trọng.
Theo nhiều nhà nghiên cứu thì khi bón đạm vãi trên mặt ruộng sẽ gây mất đạm tới
50% do nhiều con đường khác nhau do rửa trôi, bay hơi, ngấm sâu hay do phản
đạm hoá [7], [9], [19].
Theo Bùi Huy Đáp, 1980 [11], khi bón vãi đạm trên mặt ruộng lúa ở đất nhẹ, sau
rồi tham gia vào quá trình phản đạm hoá do các vi sinh vật sống trong điều kiện
yếm khí, có đủ chất khử, chúng khử NO 3 → NO2 → NO → N2O → N2. Phản ứng
có thể dừng ở bất kỳ giai đoạn nào và dẫn đến việc mất đạm bay vào không khí.
* Quá trình cân bằng đạm trong đất lúa
2.3.2.1. Nguồn thu:
9
+ Do nước mưa: Theo Bùi Huy Đáp [12], ruộng lúa nước nhiệt đới trong
mùa mưa còn nhận được từ những trận mưa giông có sấm sét một lượng đạm đáng
kể do nước mưa đưa xuống. Đo mưa và phân tích nước mưa ở Việt Nam cho thấy,
một năm một hecta ruộng lúa nước có thể thu thêm được 15 - 20 kg N do sấm sét
tạo ra và nước mưa đưa xuống. Ngoài ra một số loại tảo xanh lam sinh sống tự
nhiên ở ruộng lúa nước cũng có khả năng cố định đạm tự do của khí trời. đất ruộng
lúa cũng có nhiều loại vi sinh vật azotobacter cố định đạm. Lại còn các loại vi sinh
vật sống ở vùng rễ lúa, làm cho hiệu quả cố định đạm tự do của rễ khá mạnh.
+ Do tưới nước
+ Trong đất
+ Do bón phân
- Nguồn tiêu thụ đạm
+ Cây lúa hút đạm để tạo năng suất hạt
+ Mất đạm do bị phản đạm hoá, rửa trôi.
2.3.3. Các kết quả nghiên cứu về phân đạm cho cây lúa
Đạm là yếu tố quan trọng đối với cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng.
Nhu cầu về đạm của cây lúa đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới đi sâu nghiên
cứu và có nhận xét chung là: nhu cầu đạm của cây lúa có tính chất liên tục từ đầu
thời kỳ sinh trưởng cho đến lúc thu hoạch. Trong suốt quá trình sinh trưởng, phát
triển của cây lúa, có hai thời kỳ mà nhu cầu dinh dưỡng đạm của cây lúa cao nhất là
thời kỳ đẻ nhánh rộ và thời kỳ làm đòng. Ở thời kỳ đẻ nhánh rộ cây hút nhiều đạm
nhất [6]. Theo Yoshida (1985), lượng đạm cây hút ở thời kỳ đẻ nhánh quyết định tới
nhiều nhưng cường độ quang hợp tăng mạnh hơn cường độ hô hấp gấp 10 lần cho
nên vai trò của đạm làm tăng tích luỹ chất khô (Nguyễn Thị Lẫm, 1994).
Nếu bón đạm với liều lượng cao thì hiệu suất cao nhất là bón vào lúa đẻ
11
nhánh và sau đó giảm dần. Với liều lượng bón đạm thấp thì bón vào lúc lúa đẻ và
trước trỗ 10 ngày có hiệu quả cao (Yoshida, 1985).
Năm 1973, Xiniura và Chiba có kết quả thí nghiệm bón đạm theo 9 cách
tương ứng với các giai đoạn sinh trưởng, phát triển. Mỗi lần bón với 7 mức đạm
khác nhau, hai tác giả trên đã có những kết luận sau:
+ Hiệu suất của đạm (kể cả rơm rạ và thóc) cao khi lượng đạm bón ở mức
thấp.
+ Có hai đỉnh về hiệu suất, đỉnh đầu tiên là xuất hiện ở thời kỳ đẻ nhánh,
đỉnh thứ hai xuất hiện từ 19 đến 9 ngày trước trỗ, nếu lượng đạm nhiều thì không
có đỉnh thứ hai. Nếu bón liều lượng đạm thấp thì bón vào lúc 20 ngày trước trỗ, nếu
bón liều lượng đạm cao thì bón vào lúc cây lúa đẻ nhánh [14].
Viện Nông hoá - Thổ nhưỡng đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của đất,
mùa vụ và liều lượng phân đạm bón đến tỷ lệ đạm cây hút. Không phải do bón
nhiều đạm thì tỷ lệ đạm của cây lúa sử dụng nhiều. Ở mức đạm 80 kg N/ha, tỷ lệ sử
dụng đạm là 46,6%, so với mức đạm này có sử dụng phân chuồng tỷ lệ đạm hút
được là 47,4%. Nếu tiếp tục tăng liều lượng đạm đến 160N và 240N có phân
chuồng thì tỷ lệ đạm mà cây lúa sử dụng cũng giảm xuống. Trên đất bạc màu so với
đất phù sa sông Hồng thì hiệu suất sử dụng đạm của cây lúa thấp hơn. Khi bón liều
lượng đạm từ 40N - 120N thì hiệu suất sử dụng phân giảm xuống, tuy lượng đạm
tuyệt đối do lúa sử dụng vẫn tăng lên.
Kết quả nghiên cứu sử dụng phân bón đạm trên đất phù sa sông Hồng của
Viện Khoa học Nông Nghiệp Việt Nam đã tổng kết các thí nghiệm 4 mức đạm từ
năm 1992 đến 1994, kết quả cho thấy: phản ứng của phân đạm đối với lúa phụ
thuộc vào thời vụ, loại đất và giống lúa.
cho lúa lai làm tăng năng suất 9-18 kg thóc, so với lúa thuần thì tăng 2-13 kg thóc.
Như vậy, trên các loại đất có vấn đề như đất bạc màu, đất gley, khi các yếu tố khác
chưa được khắc phục về độ chua, lân, kali, thì vai trò của phân đạm không phát huy
được, nên năng suất lúa lai tăng có 17,7% trên đất bạc màu và 11,5% trên đất gley
[6].
13
Với đất phù sa sông Hồng, bón đạm với mức 180 kgN/ha trong vụ Xuân và
150 kgN/ha trong vụ Mùa cho lúa lai vẫn không làm giảm năng suất lúa. Tuy
nhiên, ở mức bón 120 kgN/ha làm cho hiệu quả cao hơn các mức khác.
Thời kỳ bón đạm là thời kỳ rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực của
phân để làm tăng năng suất lúa. Với phương pháp bón đạm (bón tập trung vào giai
đoạn đầu và bón nhẹ vào giai đoạn cuối) của Việt Nam vẫn cho năng suất lúa cao,
năng suất lúa tăng thêm từ 3,5 tạ/ha [5].
Liều lượng bón cho 1ha: 8 tấn phân chuồng + 120 kgN + 90 kg P2O5 + 60
kg K2O. Kết quả thời kỳ bón cho thấy rất rõ hiệu quả của phân đạm trên đất phù xa
sông Hồng đạt cao nhất ở thời kỳ bón lót từ 50 - 75% tổng lượng đạm, lượng
đạm bón nuôi đòng chỉ từ 12,5-25% [3].
Như vậy, có thể nói, các nghiên cứu về phân đạm cho cây lúa vẫn cần được
tiếp tục nghiên cứu cho từng giống lúa, từng chất đất và từng vùng cụ thể. Trong
tương lai, người ta hy vọng tạo ra các giống siêu lúa sử dụng phân đạm có hiệu quả
hơn và sử dụng các nguồn đạm khác trong đất do vi sinh vật cố định đạm tạo ra hay
do các hoạt động vi sinh vật khác ở đất lúa. Siêu lúa với những giống lúa cạn, lưu
niên có thể có nốt sần có vi sinh vật cộng sinh để tự tạo ra đạm. Siêu lúa do sử dụng
chất đạm hoá học hiệu quả hơn, không những tiết kiệm được đạm mà còn có chế độ
dinh dưỡng đạm khác các giống lúa cũ, nên không gây ô nhiễm môi trường, ô
nhiễm nước mặt và nước ngầm, hạn chế hiện tượng phân đạm bón làm phát sinh
nhiều NO trong không khí ruộng lúa [12].
2.3.4. Các loại và dạng phân bón sử dụng cho lúa
phần phân đạm và kali. Thường bón lót phân chuồng trong quá trình làm đất, phân
lân, phân kali cùng với đạm bón trước khi bừa lần cuối.
Cây hút khá nhiều lân trong các giai đoạn sinh trưởng đầu và giai đoạn cây
con, lúa bị khủng hoảng lân, do vậy phân lân cần được bón lót toàn bộ hoặc bón lót
hoặc thúc sớm. Phân lân nên bón rải đều trên mặt ruộng trước khi bừa lần cuối để
gieo cấy.
Nên bón lót nhiều phân kali trong các trường hợp sau: trồng giống đẻ nhánh
15
nhiều hay ngắn ngày, lúa có hiện tượng bị ngộ độc sắt, đất có khả năng hấp thu cao
hay thiếu kali, mưa nhiều, ngập nước sâu, khí hậu lạnh. Trong thực tiễn còn chia
phân kali ra bón thúc làm nhiều lần, do lúa là cây có nhu cầu cung cấp kali vào giai
đoạn rễ lúa ăn nổi trên mặt đất, cuối đẻ nhánh đến đầu làm đòng, kali cung cấp từ
đất và nước tưới thường giảm đi ở giai đoạn đẻ nhánh của cây lúa.
Thường dành 1/3 - 2/3 tổng lượng N để bón lót cho cây lúa, tỷ lệ phân dùng
để bón lót tuỳ thuộc vào tính chất đất, độ sâu cày bừa, điều kiện khí hậu, thời gian
sinh trưởng của lúa. Cần bón lót nhiều đạm hơn khi cấy bằng mạ già, các giống lúa
ngắn ngày, lúa chét (lúa mọc từ gốc rạ).
* Phân bón thúc đẻ nhánh
Bón thúc đẻ nhánh cho lúa thường bón bằng phân đạm hay phối hợp thêm
với một phần phân lân (nếu còn chưa bón lót hết). Thời gian bón thúc đẻ nhánh vào
khoảng 18-20 ngày sau gieo hoặc sau khi lúa bén rễ hồi xanh, vào khoảng 10-20
ngày sau cấy (tuỳ thuộc mùa vụ khi cây lúa bắt đầu đẻ nhánh).
Trên đất phèn và đất quá chua, khả năng cố định lân của đất khá mạnh thì
bón thúc lân cho lúa là cần thiết vì vừa nhằm hạ phèn và độc tố trong đất, vừa cung
cấp dinh dưỡng lân cho lúa. Việc kết hợp bón lót và thúc một phần phân lân hoà tan
trong nước cho lúa làm tăng hiệu quả sử dụng phân bón. Khi bón thúc nên dùng các
loại lân hạt để tránh bám dính gây cháy lá.
Thường dành 1/3 - 2/3 lượng N còn lại để bón thúc đẻ nhánh nhằm làm cho
thúc đẻ nhánh có thể không bón phân đón đòng. Hiện nay trong chiến lược "ba
giảm, ba tăng" người ta căn cứ vào màu lá lúa để quyết định việc bón phân đạm
cho lúa. Ngoài ra cũng có thể dựa vào việc chuẩn đoán lá để xác định nhu cầu phân
bón cho lúa.
Nên dùng phân kali bón thúc đòng cho lúa trong các trường hợp: giống đẻ
nhánh từ trung bình đến ít hay giống dài ngày, gieo cấy thưa; đất có điện thế oxy
hoá khử rất cao, thành phần cơ giới nhẹ, hay trên đất phèn (thiếu lân và ngộ độc
sắt), đất kiềm (thiếu kẽm), lân bị đất cố định hay mưa nhiều.
* Phân bón nuôi hạt
17
Sau khi lúa trỗ hoàn toàn có thể bón nuôi hạt bằng cách phun phân bón lá 1-2
lần nhằm tăng số hạt chắc, tăng năng suất. đây là thời kỳ bón phân có hiệu quả rõ
khi trồng lúa trên đất có thành phần cơ giới nhẹ, có khả năng cung cấp dinh dưỡng
và giữ phân kém.
2.3.7. Một số nguy cơ từ phân đạm
Trước sức ép của việc tăng dân số và nhu cầu cao của người nông dân đòi hỏi
nhiều lương thực, thực phẩm và sản xuất nông nghiệp thâm canh. Muốn đáp ứng
được nhu cầu trên, hoạt động nông nghiệp lại đòi hỏi sử dụng nhiều phân bón. đặc
biệt là phân đạm có vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất.
Bón quá nhiều đạm không những không làm tăng năng suất lúa mà còn làm
gia tăng sự xuất hiện sâu bệnh hại, có khi còn làm mất trắng.
Ngoài ra, bón phân đạm quá nhiều hoặc bón phân không cân đối có thể ảnh
hưởng xấu tới môi trường. Đã có nhiều khẳng định về ảnh hưởng của phân bón tới
sự ô nhiễm nitrat của nước ngầm do sử dụng quá nhiều phân đạm hay bón quá
nhiều chất thải động vật dưới dạng phân hoặc nước thải.
Hiện tượng phản đạm hoá dẫn đến mất đạm gây ô nhiễm không khí thể hiện
đầy đủ khi gặp các điều kiện sau đây: có đủ đạm nitrat hay nitrit; thiếu oxy, đủ chất
khử. Ngoài quá trình phản đạm còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố: pH và nhiệt độ,
3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Giống lúa thí nghiệm: Giống Nhị ưu 838.
Vật liệu nghiên cứu: - Đất thí nghiệm: Đất 2 vụ lúa
Các loại phân bón sử dụng: Đạm dùng phân Urê 46%, phân supe lân 16%,
Kaliclorua .
3.2. Nội dung nghiên cứu.
- Ảnh hưởng của liều lượng bón đạm khác nhau đến khả năng sinh trưởng,
phát triển của giống Nhị ưu 838.
- Ảnh hưởng của liều lượng bón đạm khác nhau đến khả năng phát sinh
phát triển một số loại sâu bệnh hại chính trên giống Nhị ưu 838.
- Ảnh hưởng của liều lượng bón phân đạm khác nhau đến các yếu tố tạo
thành năng suất và năng suất của giống Nhị ưu 838.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các công thức bón đạm cho giống Nhị ưu
838.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Thời gian: từ tháng 1 – 6/2016
Gieo mạ ngày: 20/01/2016
Ngày cấy: 15/02/2016
Địa điểm: tại xã Cán Khê, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa.
3.3.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm
3.3.2.1. Loại thí nghiệm
Thí nghiệm đồng ruộng.
3.3.2.2. Thi công thí nghiệm.
*Thí nghiệm gồm 5 công thức:
20
Các công thức thí nghiệm
IV3
III3
I3
Dải bảo vệ
Ghi chú: Tên công thức: I, II, III, IV, V .
II1
III2
II3
Lần nhắc: 1, 2, 3.
Thí nghiệm đồng ruộng, bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCB),
nhắc lại 3 lần.
Tổng số ô thí nghiệm: 15 ô
Diện tích ô thí nghiệm: 20 m2. Tổng diện tích thực tế thí nghiệm: 300m2
3.3.2.3. Kỹ thuật canh tác:
Kỹ thuật canh tác áp dụng theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo
nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống lúa. QCVN 01-55 :
2011/BNNPTNT.
Kỹ thuật gieo mạ : chuẩn bị hạt giống, xử lý và ngâm ủ hạt giống, chuẩn bị
đất gieo mạ, gieo mạ và chăm sóc mạ.
Làm đất cấy : cày bừa, làm cỏ, lấy nước. Bón vôi khi cày vỡ.
* Phương pháp bón phân:
- Bón lót : 100% phân chuồng + 100% phân lân + 30% đạm + 50% kali
- Bón thúc lần 1: khi lúa đẻ nhánh (sau cấy 10 – 15 ngày) bón 50% đạm.
- Bón thúc lần 2: khi cây lúa chuyển sang đứng cái làm đòng (bón đón
đòng) bón lượng Kali (50%) và đạm còn lại (20%)
21
22
Bắt đầu đẻ nhánh
Kết thúc đẻ nhánh
Bắt đầu trỗ bông
Kết thúc trỗ bông
Khi thu hoạch
Phương pháp đo: Ở thời kỳ sinh trưởng: đo từ đỉnh cọc đến mút lá cao
nhất
Thời kỳ sau trổ đo từ gốc đến mút bông lúa dài nhất
- Tốc độ tăng trưởng
=
chiều cao
* Động thái đẻ nhánh:
Chiều cao lần sau – Chiều cao lần trước
Thời gian giữa hai lần theo dõi
Thời kỳ bắt đầu đẻ nhánh: 14 ngày/ lần đếm tổng số nhánh trên khóm trừ
đi số nhánh cơ bản khi cấy, theo dõi ở 5 điểm của hai đường chéo góc, mỗi điểm
điều tra 2 cây, đánh dấu cố định khóm theo dõi. Lúc có 10% số cây theo dõi đẻ
nhánh là thời kỳ bắt đầu đẻ nhánh mới, nhánh mới được tính khi đỉnh của nhánh
vượt khỏi bẹ lá khoảng 1cm.
Thời kỳ đẻ nhánh rộ: khi có 80% số cây theo dõi suất hiện nhánh mới.
Thời kỳ kết thúc đẻ nhánh: khi số cây theo dõi có nhánh mới dưới 10%
khi đó lúa đạt số nhánh cao nhất.
- Tốc độ đẻ nhánh =
các chỉ tiêu.
Chiều cao cây cuối cùng đo từ chỗ có đốt không mang rễ đến mút
bông không kể râu.
Đếm số dảnh hữu hiệu trên khóm, dảnh thành bông có số hạt > 10.
Đếm số gié cấp 1, số hạt chắc trên bông, số hạt lép trên bông, từ đó
tính tỷ lệ chắc, lép.
Năng suất thực tế (tạ/ha): Sau khi phơi khô quạt sạch, cân cho từng công
thức.
P. (thóc khô, sạch)
Năng suất thực tế (tạ/ha) =
Đơn vị diện tích
* Tình hình phát sinh phát triển bệnh hại.
Điều tra và đánh giá mức độ phát triển của bệnh theo QCVN 01- 38:
2010 BNN&PTNT.
Điều tra theo 5 điểm chéo góc ô, định kỳ 14ngày/1lần, điểm điều tra ngẫu
nhiên.
Điều tra trên tất cả các lần nhắc lại.
- Tỷ lệ bệnh:
Công thức tính TLB%
TLB (%)
=
24
n
N
* 100