Ảnh hưởng của chế phẩm l nutrizym đến khả năng sinh trưởng của đàn gà lai f1 (mía x lương phượng) nuôi thịt tại trại giống gia cầm thịnh đán thành phố thái nguyên - Pdf 38

43

Tr−êng §¹i häc N«ng L©m
Khoa ch¨n nu«i - thó y
-------------

BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
MÃ SỐ: SV 2012 - 56
Tên đề tài:
“Ảnh hưởng của chế phẩm L-Nutrizym đến khả năng sinh trưởng
của đàn gà lai F1 (Mía x Lương Phượng) nuôi thịt tại trại giống
gia cầm Thịnh Đán - thành phố Thái Nguyên”

Chủ nhiệm đề tài
Lớp
Khoa

: Bùi Thị Thảo
: 41 - CNTY
: Chăn nuôi Thú y

Th¸i Nguyªn, n¨m 2012


44

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y
-------------


Ca
Cs
ĐC
G
Kg
ME
P
SS

TTTĂ
TN

: Can xi
: Cộng sự
: Đối chứng
: Gam
: Kilogram
: Năng lượng trao đổi
: Khối lượng
: Sơ sinh
: Thức ăn
: Tiêu tốn thức ăn
: Thí nghiệm


39

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm................................................................. 20

1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................. 1
1.2. Mục tiêu đề tài ....................................................................................... 2
Phần 2 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................ 4
2.1. Cơ sở khoa học ...................................................................................... 4
2.1.1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu sự di truyền của các tính trạng ở
gia cầm......................................................................................................... 4
2.1.2. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gia cầm ................................................... 6
2.1.3. Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh
trưởng của gia cầm ....................................................................................... 8
2.1.4. Sức sống và khả năng cảm nhiễm bệnh .............................................. 13
2.1.5. Giới thiệu vài nét về gà lai (Mía x Lương Phượng)............................. 13
2.1.6. Vài nét về chế phẩm L - Nutrizym ...................................................... 14
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước................................... 16
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước....................................................... 16
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ....................................................... 18
Phần 3 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ........................................................................................... 19
3.1. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................ 19
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................. 19
3.3. Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi ........................................ 19
3.3.1. Nội dung............................................................................................. 19
3.3.2. Chỉ tiêu theo dõi ................................................................................. 19
3.4. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 19
3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm ........................................................... 19
3.4.2. Phương pháp theo dõi ......................................................................... 21
3.5. Phương pháp xử lý số liệu ..................................................................... 23
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................ 24
4.1. Kết quả nuôi sống của gà thí nghiệm ..................................................... 24
4.2. Sinh trưởng tích lũy của gà qua các tuần tuổi ........................................ 25
4.3. Sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối ..................................... 27

áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất.
Cùng với sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, thì
việc đầu tư cho phát triển nông thôn bền vững là việc hết sức quan trọng.
Từ đó, Cục chăn nuôi nước ta đã có những chính sách xây dựng một hệ
thống chăn nuôi tiên tiến theo tiêu chuẩn thế giới, đồng thời phát triển
ngành chăn nuôi theo hướng chất lượng và có hiệu quả nhằm nâng cao sức
cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trường thế giới.
Để thúc đẩy ngành chăn nuôi gà theo hướng phát triển gắn liền với
nền kinh tế thị trường, cùng với nhu cầu tiêu thụ trong và ngoài nước,
ngoài vấn đề con giống và việc ứng dụng nhiều biện pháp như: Bổ sung
kháng sinh, vitamin… vào thức ăn nước uống thì việc sử dụng một số men
vi sinh vật có ích dựa trên cơ sở của quá trình lên men đang được sử dụng
rộng rãi, đem lại lợi ích tương đối cao cho người chăn nuôi.
Nhiều nghiên cứu cho thấy khi lai giữa giống gà Mía với giống gà
Lương Phượng tạo ra con lai có sức sản xuất cao, phù hợp với mọi hình thức
chăn nuôi , chất lượng thịt thơm ngon, khắc phục được những nhược điểm của
giống gốc. Đã có nhiều nghiên cứu đánh giá sức sản xuất thịt của con lai và đều
khẳng định con lai (Mía x Lương Phượng) có khả năng sinh trưởng tốt trong
các điều kiện. Để đánh giá việc bổ sung chế phẩm đến khả năng sinh trưởng


2

của gà lai F1 (Mía x Lương Phượng), chúng tôi tiến hành đề tài “Ảnh hưởng
của chế phẩm L-Nutrizym đến khả năng sinh trưởng của đàn gà lai F1
(Mía x Lương Phượng) nuôi thịt tại trại giống gia cầm Thịnh Đán - thành
phố Thái Nguyên”.
1.2. Mục tiêu đề tài
- Xác định được ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm tới tỷ lệ nuôi
sống và khả năng sinh trưởng của đàn gà lai F1 (Mía x Lương Phượng).

chủng loại. Sự sai khác nhau này chính là nguồn vật liệu cho chọn lọc tự
nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo. Các tính trạng số lượng được qui định bởi
nhiều gen, các gen điều khiển tính trạng số lượng phải có môi trường phù hợp
mới được biểu hiện hoàn toàn.
Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [14], thì giá trị đo lường của tính trạng
số lượng trên một cá thể được gọi là giá trị kiểu hình (Phenotypic value) của
cá thể đó. Các giá trị có liên quan đến kiểu gen là giá trị kiểu gen (Genotypic
value) và giá trị có liên quan đến môi trường là sai lệch môi trường
(Environmental deviation). Như vậy, kiểu gen qui định một giá trị nào đó của
kiểu hình và môi trường gây ra một sự sai lệch với giá trị kiểu gen theo hướng
này hoặc hướng khác. Quan hệ đó được biểu thị như sau:
P= G + E
Trong đó: P: Là giá trị kiểu hình
G: Là giá trị kiểu gen
E: Là sai lệch môi trường
Tuy nhiên khác với tính trạng chất lượng, giá trị kiểu gen của tính
trạng số lượng do nhiều gen nhỏ (Minorgene) cấu tạo thành. Đó là hiệu ứng
riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ ảnh hưởng
rõ rệt đến tính trạng nghiên cứu. Hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen


5

(Polygene) gồm các thành phần: Cộng gộp, trội, tương tác gen nên được biểu
thị theo công thức sau:
G = A+ D + I
Trong đó:
G: Là giá trị kiểu gen
A: Là giá trị cộng gộp
D: Là giá trị sai lệch trội


trường thích hợp để tiềm năng của giống (G) được thể hiện ra giá trị kiểu hình
(P) có lợi cho người chăn nuôi.
2.1.2. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gia cầm
Theo Lê Hồng Mận (2007) [8] sự trao đổi chất và năng lượng ở gia cầm
cao hơn so với động vật có vú và được bồi bổ nhanh chính bởi quá trình tiêu
hóa và hấp thụ các chất dinh dưỡng. Khối lượng rất lớn các chất tiêu hóa đi
qua ống tiêu hóa thể hiện tốc độ và cường độ của các quá trình tiêu hóa ở gia
cầm. Ở gà còn non tốc độ là 30 - 39cm/giờ, gà con lớn hơn là 32 - 40cm/giờ,
và ở gà trưởng thành là 40 - 42cm/giờ, chất tiêu hóa được giữ lại trong ống
tiêu hóa không quá 2 - 4giờ.
* Tiêu hóa ở miệng
Gia cầm mổ thức ăn bằng mỏ, một phút mổ 180 - 240 lần, lúc đói mổ
nhanh, mỏ mở rộng. Mặt trên lưỡi có răng rất nhỏ hóa sừng, hướng về cổ
họng để đưa thức ăn về phía thực quản - thị giác và xúc giác kiểm tra tiếp
nhận thức ăn, còn vị giác và khứu giác giữ vai trò kém hơn. Thiếu ánh sáng
gà ăn kém. Tuyến nước bọt kém phát triển, thành phần chủ yếu là dịch nhầy.
Nước bọt có tác dụng thấm trơn thức ăn thuận tiện cho việc nuốt. Trong nước
bọt có chứa một số ít men amylaza nên có ít tác dụng đối với tiêu hóa. Gà mái
có thể tiết 7 - 25ml nước bọt trong một ngày đêm (bình quân khoảng 12ml)
(Nguyễn Duy Hoan, 1998 [2]). Thức ăn vào diều, khi đói theo ống diều vào
thẳng dạ dày, không giữ lại lâu ở diều.
* Tiêu hóa ở diều
Diều gà hình túi ở thực quản chứa được 100 - 120 mg thức ăn. Giữa các
cơ thắt lại có ống diều để khi gà đói, thức ăn đi thẳng vào phần dưới của thực
quản và dạ dày không qua túi diều.
Ở diều thức ăn được làm mềm, quấy trộn và tiêu hóa từng phần do các
men và vi khuẩn có trong thức ăn thực vật. Thức ăn cứng lưu lại trong diều
lâu hơn. Khi thức ăn và nước có tỉ lệ 1:1 thì được giữ lại ở diều 5 - 6 giờ.
Độ pH trong diều gia cầm là 4,5 - 5,8. Sau khi ăn từ 1- 2 giờ diều co

nên cho gà ăn sỏi thạch anh vì không bị phân hủy bởi acid chlohydric.
Tiêu hóa ở ruột
Quá trình cơ bản phân tích men từng bước các chất dinh dưỡng đều
được tiến hành chủ yếu ở ruột non.
Dịch ruột gà lỏng, đục, kiềm tính, pH = 7,42 với độ đặc 1,0076 và chứa
các men proteolyse, amonlitic, lypolitic và enterokinaza.
Dịch tuyến tụy - pancreatic - lỏng, không màu, hơi mặn, có phản ứng
hơi kiềm (pH = 6 ở gà, pH = 7,2 -7,5 ở gia cầm khác). Dịch này có men
tripsin, carboxi peptidaza, mantaza và lipaza. Trong các chất khô của dịch này
có các acid amin, lipid và các chất khoáng CaCl2, NaCl, NaHCO3…
Gà một năm tuổi, lúc bình thường tuyến tụy tiết ra 0,4 - 0,8ml/giờ, sau
khi 5 - 10 phút lượng tiết tăng gấp 3-4 lần, giữ cho đến giờ thứ 3, rồi giảm
dần. Thành phần thức ăn có ảnh hưởng đến quá trình tiết dịch men của tụy:


8

thức ăn giàu protein nâng hoạt tính proteolyse lên 60%, giàu lipid tăng hoạt
tính của lypolitic,…..
Mật của gia cầm được tiết liên tục từ túi mật vào đường ruột, dịch mật
lỏng màu sáng hoặc xanh đậm, tính kiềm (pH =7,3 - 8,5).
Mật có vai trò đa dạng trong quá trình tiêu hóa của gia cầm, gây nên
nhũ tương mỡ, hoạt hóa các men tiêu hóa của dịch tụy, kích thích làm tăng
nhu động ruột, tạo điều kiện hấp thu các chất dinh dưỡng đã được tiêu hóa,
đặc biệt là các acid béo mà chúng tạo thành các hợp chất dễ hòa tan. Mật ngăn
cản việc gây nên vết loét trên màng nhầy của dạ dày cơ và có tính diệt khuẩn.
Ở ruột gluxit được phân giải thành các monosaccarit do men amylaza
của dịch tụy và một phần của dịch ruột.
Phần dưỡng chất không được hấp thu ở ruột non chuyển xuống manh
tràng và van hồi manh tràng của ruột già.

quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao,
chiều dài, bề ngang khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ
sở tính chất di truyền từ đời trước”.
Sinh trưởng của gia súc luôn gắn với phát dục, đó là quá trình thay đổi
chất lượng, là sự tăng lên và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng hoạt động
của cơ thể. Hai quá trình đó liên quan mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên
sự hoàn thiện cơ thể gia súc, gia cầm. Sinh trưởng và phát dục của cơ thể gia
súc tuân theo tính quy luật và theo giai đoạn.
* Những chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng
- Khối lượng cơ thể: Khối lượng cơ thể từng thời kỳ là chỉ tiêu sử
dụng để đánh giá khả năng sinh trưởng của gia cầm. Tuy nhiên, chỉ tiêu này
xác định được khả năng sinh trưởng ở một thời điểm xác định của cơ thể
nhưng không chỉ ra được sự sai khác về tỷ lệ sinh trưởng của cơ thể trong một
khoảng thời gian ở các độ tuổi khác nhau.
Chỉ tiêu khối lượng cơ thể được minh họa bằng đồ thị gọi là đồ thị sinh
trưởng tích lũy. Đồ thị này thay đổi theo dòng giống, điều kiện chăm sóc nuôi
dưỡng. Đối với gia cầm khối lượng cơ thể tính theo tuần tuổi có đơn vị là
kg/con/tuần hoặc g/con/tuần.
- Sinh trưởng tuyệt đối: là sự tăng lên về khối lượng, kích thước và thể
tích của cơ thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát. Sinh trưởng tuyệt
đối tính bằng g/con/ngày. Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabol. Giá trị
sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì càng có hiệu quả kinh tế cao.
- Sinh trưởng tương đối: Là tỷ lệ % tăng lên về khối lượng kích thước
và thể tích cơ thể lúc khảo sát so với lúc ban đầu khảo sát. Đồ thị sinh trưởng
tương đối có dạng hyperbol, gà còn non thì sẽ có sinh trưởng tương đối cao,
sau đó giảm dần theo tuổi.
* Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng của gia cầm
- Ảnh hưởng của giống



trưởng liên kết giới tính cho nên con trống thường lớn hơn con mái. Điều này
chứng tỏ di truyền có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình sinh trưởng của gia cầm.
- Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng
Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng tới sự phát triển của từng mô khác nhau
gây nên sự biến động trong quá trình phát triển và có sự khác nhau giữa mô


11

này với mô khác. Chế độ dinh dưỡng không những ảnh hưởng tới sinh trưởng
mà còn làm biến động di truyền về sinh trưởng.
Lê Hồng Mận và cs (1993) [6] cho biết nhu cầu protein thích hợp cho
gà broiler cho năng suất cao đã được xác định, các tác giả nhấn mạnh tỷ lệ
giữa năng lượng và protein trong thức ăn cũng rất quan trọng, để phát huy
được khả năng sinh trưởng tối đa cần phải cung cấp đầy đủ dinh dưỡng với sự
cân bằng nghiêm ngặt giữa protein, axit amin với năng lượng.
Chi phí thức ăn chiếm tới 70% giá thành trong chăn nuôi gà broiler, nên
bất cứ yếu tố nào nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn đều đưa lại hiệu
quả kinh tế cao cho ngành chăn nuôi gà broiler. Do vậy, để có năng suất cao
trong chăn nuôi gia cầm, đặc biệt để phát huy được tiềm năng sinh trưởng thì
trong những vấn đề căn bản là lập ra những khẩu dinh dưỡng hoàn hảo, cân
đối, trên cơ sở tính toán nhu cầu của gia cầm trong từng giai đoạn nuôi.
- Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường
Bên cạnh các yếu tố nêu trên thì sinh trưởng của gà còn chịu ảnh hưởng
của nhiều yếu tố môi trường như chăm sóc nuôi dưỡng, nhiệt độ, ẩm độ, độ
thông thoáng, mật độ nuôi.
+ Ảnh hưởng của nhiệt độ
Theo Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1993) [5] thì nhiệt độ chuồng nuôi
gà sau 28 ngày thích hợp là 18 - 200C. Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn tới nhu cầu
năng lượng trao đổi (ME) và protein thô (CP) của gà broiler, do vậy tiêu thụ

năng nhiễm bệnh Cầu trùng, Newcastle, CRD dẫn tới làm giảm khả năng sinh
trưởng của gà.
Độ thông thoáng trong chuồng nuôi có vai trò quan trọng trong việc
giúp gà đủ O2, thải CO2 và các chất độc khác. Thông thoáng làm giảm ẩm độ,
điều chỉnh nhiệt độ chuồng nuôi từ đó hạn chế bệnh tật.
Tốc độ gió lùa và nhiệt độ không khí có ảnh hưởng tới tăng khối lượng
của gà, gà con nhạy cảm hơn gà trưởng thành. Đối với gà lớn cần tốc độ lưu
thông không khí lớn hơn gà nhỏ.
+ Ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng
Theo Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998) [2], với gà broiler
giết thịt sớm 38 - 42 ngày tuổi, thời gian chiếu sáng như sau: 3 ngày đầu chiếu
sáng 24/24 giờ, cường độ chiếu sáng 20 lux /m2, ngày thứ tư đến kết thúc thời
gian chiếu sáng giảm xuống còn 23/24 giờ, cường độ chiếu sáng còn 5lux/m2.
Khi cường độ chiếu sáng cao, gà hoạt động nhiều do đó làm giảm tốc
độ tăng khối lượng. Với chuồng nuôi thông thoáng tự nhiên, mùa hè cần che
ánh nắng mặt trời chiếu thẳng vào chuồng nhưng vẫn đảm bảo thông thoáng,
ánh sáng được phân bố đều trong chuồng, hoặc có thể sử dụng bóng đèn có
cùng công suất của để tránh gà tụ tập vào nơi có ánh sáng mạnh hơn.
+ Ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt
Mật độ nuôi nhốt cũng là một yếu tố quan trọng để chăn nuôi đạt hiệu
quả cao, nếu mật độ nuôi nhốt cao thì chuồng nhanh bẩn, lượng khí thải NH3,


13

CO2, H2S cao và quần thể vi sinh vật phát triển ảnh hưởng tới khả năng tăng
khối lượng và sức khoẻ của đàn gà, gà dễ bị cảm nhiễm với bệnh tật, tỷ lệ
đồng đều thấp, tỷ lệ chết cao, cuối cùng làm giảm hiệu quả trong chăn nuôi.
Ngược lại mật độ nuôi nhốt thấp thì chi phí chuồng trại cao. Do vậy tuỳ theo
mùa vụ, tuổi gà và mục đích sử dụng cần có mật độ chăn nuôi thí nghiệm


14

lượng 3- 3,4 kg. con mái từ 2- 2,5kg, khả năng sinh sản thấp gà mái đẻ trứng
muộn, sản lượng trứng đạt từ 55-60 quả/mái/năm, khối lượng trứng thịt ăn
ngon. Ở tuổi trưởng thành, con trống nặng 1,8-2,5 kg, con mái nặng 1,8-2,0 kg.
Gà lai (Mía x Lương Phượng) được tạo ra từ công thức lai gà trống Mía
lai với gà mái Lương Phượng. Gà lai có màu lông đẹp, tỷ lệ nuôi sống từ 1-19
tuần tuổi là 89 - 91 %, khối lượng cơ thể lúc 19 tuần tuổi đạt 1,9 - 2,2 kg. Gà
lai thương phẩm nuôi nhốt đến 12 tuần tuổi có tỷ lệ nuôi sống 95 - 97%, khối
lượng cơ thể 1,7 - 2,0 kg/con; tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể là
3,2 - 3,3 kg. Nuôi bán chăn thả đến 12 tuần tuổi có tỷ lệ nuôi sống đạt 94 96%, khối lượng cơ thể 1,8-2,1 kg/con; tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ
thể là 2,8 - 3,0 kg, chất lượng thịt ngon như gà Ri.
2.1.6. Vài nét về chế phẩm L – Nutrizym
Chế phẩm L – Nutrizym được sản xuất từ công ty CP Hùng Nguyên tại
Khu công nghiệp Mỹ Hào – Hưng Yên.
* Thành phần:
- Lactobacillus.....................
1x108 CPU
- Bacillus Subtilis................
1x108 CPU
- L-lactic..............................
1x108 CPU
- L-bifidobacterium.............. 1x108CPU
- Vitamin B1......................... 1,25g
- Không có Hoccmon, kháng sinh & dược liệu
- Tá dược vừa đủ.................
1kg
- Các chỉ tiêu khác theo quy định.
* Công dụng:

“thân thiện” này đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh sự kháng lại
những sinh vật ngoại sinh nhất là sinh vật mang mầm bệnh.
Bacillus subtilis
- Là trực khuẩn, Gram (+)
- có khả năng sinh catalase
- hiếu khí hay kị khí tùy nghi
- thường được tìm thấy trong đất có nội bào tử có khả năng chịu nhiệt,
tia bức xạ.
Bifidobacterium
Vi khuẩn Gram (+)
- Không sinh bào tử.
- Trực khuẩn kị khí.
- Bất động.
- Hình que, nhánh.
- Ưa ẩm, nhiệt độ sinh trưởng: 310C -400C
- Lên men lactic dị hình.
- Sản phẩm chính là acid acetic và acid lactic, không sinh CO2


16

Vitamin B1 (Thiamin)
Vitamin B1 chi phối sự trao đổi Gluxit và Decacboxyl, tăng tính thèm
ăn và hoạt động của các men tiêu hoá, làm tăng tính hấp thu đường ruột. Duy
trì hoạt động bình thường của hệ thần kinh.
Nếu thiếu vitamin B1 trong khẩu phần gây liệt thần kinh ở gà con 2
tuần tuổi, gà ngồi bệt đít, đầu ngửa, kém ăn do mất tính thèm ăn, rối loạn tiêu
hoá, yếu cơ, đi lại không bình thường, rối loạn hệ thống cơ tim, hô hấp, sinh
bệnh gà mổ cắn nhau, gà thịt tăng trọng kém, lông xù. ở gà đẻ: Sức đẻ giảm
nếu thiếu kéo dài sinh bệnh ngẹo cổ, cong xương...

tăng khả năng tiêu hóa thức ăn ở gà. Tỷ lệ tăng trọng lô thí nghiệm cao hơn lô
đối chứng 11,8%.
Tác giả Võ Thị Hạnh (2003) đã sản xuất ra VEM- chế phẩm dạng lỏng
chứa tập đoàn vi sinh vật hữu ích như vi khuẩn lactic, bacilus, nấm men và vi
khuẩn quang dưỡng. Sau khi cho ra đời VEM vào cuối năm 2004, nhóm
nghiên cứu đã pha loãng chế phẩm này với nước tỷ lệ 1/1000 (1lít VEM với
1000lít nước) cho 4000 con gà tại trang trại Trung Hậu, Bình Dương, uống
hàng ngày. Kết quả: Các chủng vi sinh giúp giảm lượng tiêu tốn thức ăn là
1,8% so với những con không được uống VEM (1,88) (http.// Vietbao.vn)
Chế phẩm Lactovet được chế tạo từ chủng vi sinh vật Lactobacillus
acidophilus bằng công nghệ lên men sục khí trong môi trường nuôi cấy thích
hợp tạo ra các loại vitamin và các acid amin có tác dụng cân bằng hệ vi sinh
vật đường ruột, khống chế sự phát triển của các loại vi sinh vật có hại, phòng
một số bệnh tiêu chảy và kích thích tiêu hóa, nâng cao tỷ lệ chuyển hóa thức
ăn, tăng sức đề kháng (Phan Thanh Phượng, 2004) [11].
Theo Phạm Công Thiếu (2006) [16] bổ sung Phytaza vào thức ăn hỗn
hợp nuôi gà Lương Phượng sinh sản không làm ảnh hưởng đến khả năng thu
nhận thức ăn, khả năng sinh trưởng và tỷ lệ nuôi sống, sức kháng bệnh của
đàn gà bố mẹ. Làm giảm tỷ lệ hao hụt đàn 1,19%, mang lại hiệu quả kinh tế,
làm giảm chi phí tiền ăn 1 gà con giống là 87,41 đồng, tăng hiệu quả chuyển
hóa 6,89%.
Theo Phùng Đức Tiến (2006) [18] bổ sung Enzyme Avizyme 1502 vào
khẩu phần thức ăn có tỷ lệ cám gạo khác nhau đã làm tăng khối lượng gà thí
nghiệm từ 4,78- 8,69%, giảm tiêu tốn thức ăn 2,82- 6,37%, giảm chi phí thức
ăn 1,12- 4,78%.
Theo khảo sát của Trung tâm Khuyến nông tỉnh Vĩnh Long cũng cho
thấy, sử dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi giúp cải thiện môi trường
sống cho người lao động, tiết kiệm 10% chi phí thức ăn, tăng khối lượng tăng
khoảng 5% so với khẩu phần không bổ sung chế phẩm và đảm bảo chất lượng
thịt. Chế phẩm sinh học còn giúp phân hủy phân, giảm mùi hôi thối và các khí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status