Chế định về hôn nhân gia đình trong Bộ Luật Hồng Đức - Pdf 38

LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
VIỆT NAM
ĐỀ TÀI:

Pháp luật hôn nhân và gia đình trong BLHD
Sự kết hợp hài hòa giữa tư tưởng nho giáo với truyền thống,
tập quán dân tộc Việt Nam.

THỰC HIỆN : NHÓM 6B
LỚP :

TP.HCM ngày 22 tháng 3 năm 2016

DANH SÁCH NHÓM 6


Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam

MỤC LỤC

KẾT LUẬN
Tài liệu tham khảo

Nhóm 6b

Page 2


A. LỜI MỞ ĐẦU
Bộ luật Hồng Đức là một trong những bộ luật quan trọng nhất của Việt Nam thời
kỳ phong kiến. Nói đến bộ luật Hồng Đức người ta nghĩ ngay đến một bộ luật có kĩ

còn được lưu giữ đầy đủ. Do các bộ luật của các triều đại phong kiến Việt Nam đều có
tên gọi là Quốc triều hình luật nên ở đây dùng tên gọi Luật Hồng Đức làm tên gọi cho
bài mặc dù nó không phải là tên gọi chính thức.
Nó có thể coi là bộ luật tổng hợp bao gồm nhiều quy phạm pháp luật thuộc nhiều
lĩnh vực pháp luật khác nhau như: Lĩnh vực luật hình sự, luật dân sự, luật tố tụng, luật
hôn nhân-gia đình, luật hành chính..v.v

1.1. Hoàn cảnh ra đời.
Sự phát triển cao độ của chế độ phong kiến tập quyền thời Lê Sơ còn đề ra yêu cầu
xây dựng một bộ pháp luật hoàn chỉnh để cố định những trật tự có lợi cho giai cấp
thống trị để bảo vệ và bên vực nền chuyên chính của giai cấp phong kiến. Bộ quốc
triều hình luật (tức luật Hồng Đức) đã ra đời trong hoàn cảnh lịch sử ấy, nhằm đáp
ứng những yêu cầu phát triển sang giai đoạn mới của chế đọ phong kiến Việt Nam.Bộ
luật Hồng Đức đã trải qua một quá trình xây dựng lâu dài từ thời Lê Thái Tổ đến thời
Lê Thánh Tông mới hoàn thành.
Ngay sau khi lên ngôi, trong năm 1428 Lê Lợi đã cùng các đại thần bàn định một
số luật lệ về kiện tụng và phân chia ruộng đất của thôn xã. Những hình phạt, những lễ
ân giảm trong luật Hồng Đức (49 điều thuộc chương danh lệ) phần lớn đều được quy
định thời Lê Thái Tổ. Ba mươi hai điều luật trong chương điền sản để pháp chế hóa
các thể lệ quân điền cũng được quy định chặt chẽ trong những năm Thuận Thiên
(1428-1433) và được thực hiện trong suốt thời Lê Sơ.
Đến năm 1449, Nhân Tông ban hành 14 điều luật khẳng định và bảo vệ quyền tư
hữu ruộng đất. Sang thời Thánh Tông, triều đình liên tiếp ban bố nhiều điều lệ về kế
thừa hương hỏa, về việc bảo vệ tôn ti trật tự và đạo đức phong kiến về việc trấn áp
mọi hành vi chống đối hay làm nguy hại đến địa vị thống trị của giai cấp phong kiến.
Năm 1483, Thánh Tông sai các triều thần sưu tập tất cả các điều luật, các phép luật đó
ban bố và thi hành trong các triều vua thời Lê Sơ, san định lại, xây dựng một bộ pháp
điển hoàn chỉnh.

1.2. Ý nghĩa.

định khá tỉ mỉ về vấn đề này “Việc sửa đê những sông lớn bắt đầu từ ngày mồng mười
tháng giêng, người xã nào ở trong đường đê phải đến nhận phần đắp đê, hạn trong hai
tháng đến ngày mông mười tháng 3 thì phải đắp xong. Quan lộ phải năng đến xem xét,
quan coi đê phải đốc thúc hàng ngày. Nếu không cố gắng làm để quá hạn mà không
xong thì quan lộ bị phạt, quan giám bị biếm. Quân lính và dân binh không theo thời
hạn đến làm và không chăm chỉ sửa đê, để quá hạn không xong thì bị trượng hoặc
biếm.
Nhóm 6

Page 5


Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam
1.2.5. Mở rộng giao lưu, khuyến khích thương nghiệp lành mạnh.
Dưới thời trị vì của vua Lê Thánh Tông ban hành một số luật định nhằm giúp cho
hàng hóa từ kinh đô Thăng Long về các nơi trung tâm buôn bán các địa phương trong
cả nước, luôn luôn tấp nập ngược xuôi như những dòng xuối cuộn chảy ngày đêm
không ngừng.
Bảo vệ quyền sở hữu tài sản của công dân, trừng trị nghiêm khắc những hành vi ức
hiếp, đục khoét dân lành của quan lại.
Vua Lê Thánh Tông trong ý thức và hành động của mình lại lấy dân làm quý. Ông
chăm lo rất chu đáo đến sự ấm no cho dân. Một trong những biện pháp hữu hiệu nhất
là bằng cách cải thiện pháp luật, bảo vệ quyền sở hữu ruộng đất, là cái quyền gốc cho
việc thực hiện các quyền tiếp theo bảo vệ quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu
hạnh phúc cho người dân.
Trong bộ luật Hồng Đức đã có những điều luật quy định việc trừng phạt những
hành vi vi phạm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt ruộng đất của
người dân như: Tranh giành đất đai trái với chúc thư (điều 354), nhận bừa ruộng đất
của người khác (điều 344), hà hiếp, bức hại để mua ruộng đất của người khác (điều
355), tá điền cấy rẽ mà trở mặt ăn cướp (điều 356).

hạn chế tình trạng tảo hôn trong xã hội.
b. Đăng kí kết hôn.
• Thủ tục và trình tự.
Nghi thức kết hôn thực hiện trang trọng, qua bốn lễ, với lễ vật theo luật định:
Nghị hôn (nhờ mối lái bàn định).
Định thân (đem lễ vật vấn danh đến nhà gái).
Nạp trưng (đem đủ sính lễ đẫn cưới đến nhà gái).
Thân nghinh (đón dâu).
Việc đính hôn thông qua lễ nạp trưng có giá trị pháp lý ràng buộc trách nhiệm của
hai gia đình trong việc hứa hôn thể hiện qua trao, nhận sính lễ.
Nhà gái “đã nhận đồ sính lễ mà lại thôi, không gả nữa thì bị phạt 80 trượng, bồi
thường đồ sính lễ gấp đôi”. Nhà trai “đã nhận sính lễ rồi mà không lấy nữa thì phạt 80
trượng, mất đồ sính lễ”(điều 315). Tuy nhiên, nếu trong thời gian từ lễ đính hôn cho
đến khi thành hôn mà một trong hai bên bị ác tật hay phạm tội thì bên kia có quyền từ
hôn.
Trường hợp đôi nam nữ tự ý chung sống với nhau như vợ chồng mà không qua
nghi lễ luật định, gọi là “cẩu hợp”, thì người con trai phải nộp tiền tạ cho cha mẹ
người con gái, đồng thời người con gái bị phạt 50 roi. Sau đó giá thú mới được gọi là
hợp pháp (điều 314).
• Những trường hợp không được đăng kí kết hôn:
Không được kết hôn khi đang có tang cha mẹ hoặc tang chồng (điều 317); khi ông
bà, cha mẹ bị giam tù (điều 318).
Kết hôn với người thân thích cùng họ, con riêng của vợ, với vợ cả, vợ lẽ của người
bà con (điều 319).
Quan lại và con cháu quan lại lấy con gái làm nghề hát xướng (điều 323).
Nhóm 6

Page 7



bỏ lại không có bà con để trở về. Đồng thời, khi hai bên vợ chồng đang có tang cha
mẹ thì vấn đề ly hôn cũng không dược đặt ra.Vợ thông gian (điều 401). Vợ đánh
chồng (không /có gây thương tích hoặc chết) (điều 481).
Nhóm 6

Page 8


Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam
Ly hôn do lỗi của người chồng: Các điều 308, 333 quy định người vợ có quyền
trình xin li hôn cụ thể:
Điều 308 quy định: "Phàm chồng đã bỏ lửng vợ 5 tháng không đi lại (vợ được
trình với quan sở tại và xã quan làm chứng) nếu có con thì 1 năm thì mất vợ". Hoặc
người chồng mắng nhiếc cha mẹ vợ một cách phi lý. Quy định như vậy quyền lợi của
người phụ nữ đã được bảo đảm và quan trọng hơn nó cũng trở thành cơ sở để người
chồng phải thực hiện tốt nghĩa vụ của mình đối với vợ, với gia đình. Đây là quy định
nổi bật phản ánh tính sáng tạo của nhà làm luật nhằm duy trì trật tự ổn định trong gia
đình
Ngoài những quy định trên Bộ Luật Hồng Đức còn chấp nhận chấm dứt kết hôn
do:
Nguyên nhân từ 2 phía: Giấy li hôn được làm dưới hình thức họp đồng,người vợ
và người chồng mỗi bên giữ 1 bãn làm bằng chứng(điều 167)
• Phân chia tài sản khi chấm dứt hôn nhân.
Luật Hồng Đức không quy định cách thức giải quyết chung mà chỉ hướng dẫn cụ
thể đối với một số trường hợp đặc biệt (như khi chồng qua đời).
Đối với điền sản có được do bố mẹ dành cho (phu điền sản và thê sản):
Khi người chồng chết trước thì ruộng đất do nhà chồng đã cho ( phu điền sản)
được chia làm hai phần bằng nhau. Một phần dành cho gia đình bên chồng để lo cho
việc tế lễ (bố mẹ bên hoặc những người thừa tự bên chồng). Một phần dành cho vợ
được hưởng suốt đời nhưng không được làm của riêng (nghĩa là không được bán). Khi

đi tái giá (hoặc người chồng sau khi lấy vợ khác) bán ruộng đất trong gia đình của lần
hôn nhân trước (điều 377).
Tuy nhiên luật không đề cập đến việc phân chia tài sản sau khi ly hôn (có lẽ ly hôn
thời xưa là việc rất đặc biệt, bất thường, luật pháp không trù liệu cách giải quyết hậu
quả).
• Quyền và nghĩa vụ chăm sóc con cái sau ly hôn.
Tương tự tài sản, con cái không được xác định cụ thể sau khi cha mẹ ly hôn.
Nhưng thông thường khi ly hôn, con cái thuộc về người chồng, nhưng nếu muốn giữ
con, người vợ có quyền đòi chia một nửa số con.
2.2.2. Quan hệ gia đình.
Trong lĩnh vực quan hệ gia đình, bộ luật đã điều chỉnh các quan hệ như quan hệ
nhân thân giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thân thuộc khác (vợ cảvợ lẽ, anh-chị-em, cha mẹ-con nuôi, vai trò của người tôn trưởng tức trưởng họ).
a. Quan hệ vợ-chồng
Phong tục tập quán và lễ nghĩa Nho giáo đã điều chỉnh quan hệ vợ-chồng, tuy
nhiên luật Hồng Đức cũng có các quy định nhằm điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ
nhân thân như: Nghĩa vụ phải chung sống tại một nơi và phải có trách nhiệm với nhau
(các điều 321 và 308, 309), không được ngược đãi vợ (điều 482), nghĩa vụ chung thủy
(điều 401, 405), nghĩa vụ để tang nhau (các điều 2, 7).
b. Quan hệ pháp luật về nhân thân giữa cha mẹ và con:
Nhóm 6

Page 10


Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam
Cha mẹ có toàn quyền nuôi dưỡng, giáo dục, đại diện cho các con, quyết định nơi
ở cho các con, đồng thời cha mẹ cũng có nghĩa vụ đại diện cho các con trong việc bồi
thường thiệt hại do hành vi phạm pháp của con mình gây ra; chịu trách nhiệm hình sự
về hành vi phạm pháp của các con (điều 506, 507).
Con có các quyền được giảm hình phạt theo quan phẩm của cha, mẹ (điều 12), có



Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam
f. Quan hệ nuôi con nuôi (các điều 380, 381, 506)
Việc nhận nuôi con nuôi phải được lập thành văn bản và phải đối xử như con đẻ
cũng như ngược lại, con nuôi phải có nghĩa vụ như con đẻ đối với cha mẹ nuôi. Cụ thể
hình thức nhận nuôi con nuôi ( điều 380), các quyền và nghĩa vụ về nhân thân của con
nuôi (điều 380). Các mối quan hệ pháp lý giữa cha mẹ nuôi và con nuôi ( điều 381).
g. Quan hệ nhân thân khác:
Đại gia đình gồm các thân nhân thuộc “tam tộc”: thân nhân bên nội (nội thân),
thân nhân bên ngoại (ngoại thích) và thân nhân bên vợ (bà con bên vợ).
Các người thân thuộc ở trên đời ta gọi là tôn thuộc (như: ông bà, cha mẹ, chú bác);
những người thân thuộc ở dưới đời ta gọi là ty thuộc (như: con, cháu, chắt, chút).
Thân thuộc cùng một họ và một ông tổ sinh ra gọi là đồng tông; người cùng một
họ mà không cùng chung một ông tổ gọi là đồng tính. Người đồng tông không được
lấy nhau làm vợ chồng; còn đồng tính thì có thể kết hôn với nhau được.

3. Tư tưởng nho giáo.
3.1. Khái niệm .
Nho giáo là một thuật ngữ bắt đầu từ chữ Nho, theo Hán Tự từ Nho gồm từ nhân
(người) đứng cận chữ Nhu (cần, đợi, chờ). Nho Giáo còn gọi là nhà nho, người đọc
sách thánh hiền, được thiên hạ trọng dụng để dạy bảo người đời, ăn ở cho phù hợp với
luân thường đạo lý.
Người sáng lập ra Nho giáo là Khổng Tử (551-479 TCN), tên Khâu, Tự Trọng
Ni người nước Lỗ, Khổng Tử đã hệ thống hóa những tri thức cũng như tư tưởng trước
đây thành học thuyết gọi là Nho học hay Nho giáo.
3.2. Ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo đối với việt nam.
a. Tích cực
Trước hết là cương vị độc tôn, Nho giáo đã có thêm nhiều sức mạnh và uy thế góp
phần củng cố và phát triển chế độ quân chủ và những kinh nghiệm mẫu mực cho việc

và bệnh khuôn sáo phát triển mạnh trong lĩnh vực tư tưởng và trong địa hạt giáo dục
khoa học. Các quan lại, sĩ phu, đều lấy thánh kinh, hiền truyện của Nho giáo làm
khuôn vàng thước ngọc cho mọi người suy nghĩ và hành động của mình, lấy cái xã hội
thời Nghiêu Thuấn làm khuôn mẫu cho mọi tình trạng xã hội; lấy những sự tích và
điều phạm trong kinh, thư, kinh xuân thu làm tiêu chuẩn để bình giá mọi sự việc.
Bệnh giáo điều và khuôn sáo này đã ăn sâu vào trong lĩnh vực khoa học và nghệ
thuật nhất là trong văn học và sử học khiến cho sự sáng tạo trong các lĩnh vực này bị
dập vào những cái khuôn sẵn có. Đó là một tật bệnh đã được rèn đúc ngay từ khi
người nho sĩ phải mài dũa văn chương để tiến vào con đường cử nghiệp.
Tính chất tiêu cực ấy của Nho giáo càng về sau càng gây tác hại không nhỏ trong
việc phát triển lực lượng sản xuất của xã hội.Khi đã chiếm được địa vị thống trị trên
vũ đài tư tưởng, Nho giáo Việt Nam không tiếp tục đi sâu vào khám phá những vấn đề
bản chất của đời sống và của vũ trụ, vì mối quan hệ giữa tinh thần và thể xác. Nó chỉ
chú trọng đến những quan hệ chính trị và đạo đức thực tế.

Nhóm 6

Page 13


Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam
Cho nên khi xã hội phong kiến rối loạn, vấn đề số phận và yêu cầu giải phóng con
người được đặt ra thì Nho giáo trở thành bất lực. Nó không giải đáp được vấn đề ấy vì
nó đã sớm bỏ con đường phát triển tư duy trừu tượng. Nó bắt đầu đè nặng lên con
người và bóp nghẹt nếp sống giản dị, những quan hệ xã hội trong sáng, những tình
cảm tự nhiên và chân thực của suy sụp cùng với xã hội phong kiến thì nó trở nên phản
động, cổ hủ và lạc hậu.

4. Truyền thống và tập quán của Việt Nam
4.1. Khái niệm

nhận và áp dụng trong suốt quá trình sống, lao động, sinh hoạt tạo ra vật chất và
những quan hệ liên quan đến tài sản, đến tình cảm của con người trong cộng đồng.
Việt Nam có 54 dân tộc, mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hoá riêng và bản lĩnh văn hoá
có tính độc lập tương đối giữa các dân tộc. Do vậy, tập quán của mỗi dân tộc đều có
những nét đặc thù, khác nhau. Câu ngạn ngữ: “Luật vua thua lệ làng” đã phản ánh
đúng thực trạng về tập quán của mỗi dân tộc ở Việt Nam.
4.3. Thành tựu và hạn chế.
4.3.1. Thành tựu
Truyền thống:
Trước hết, yêu nước, đối với người Việt Nam không phải là một chủ nghĩa, mà là
một truyền thống ngàn đời.
Thứ hai, người Việt Nam đánh giặc vì muốn gìn giữ đất nước, muốn mở mang
lãnh thổ, chứ không phải vì muốn bảo vệ ngai vàng của một ông vua.
Truyền thống bất khuất: Tinh thần bất khuất đó cũng ăn sâu vào lòng mỗi người
dân Việt, để trở thành truyền thống muôn đời. Bởi vậy, khi người Việt bị các giống
dân khác đô hộ, nếu mình yếu thế thì tinh thần bất khuất biểu lộ bằng lới nói, bằng sự
châm chọc, bằng những mẩu chuyện tiếu lâm. Ðến khi mình mạnh thì vùng lên giết
giặc...
Truyền thống tự chủ: Ðọc lịch sử, chúng ta thấy có rất nhiều giai đoạn nước Việt
phải xưng thần, phải triều cống, phải nhận sắc phong của nước Tàu. Ðây không phải
là sự mất tự chủ, mà là một phương cách ngoại giao khéo léo để giữ nước. Trong các
giai đoạn đó, người Việt vẫn làm chủ nước Việt, chớ không để mất nền tự chủ.
Truyền thống hiếu học: Dân tộc Việt Nam có một tinh thần hiếu học rất cao. Và,
bài ca dao trên đây đã cho thấy tinh thần hiếu học và mục đích của sự học. Muốn khôn
thì phải học và học để phục vụ đất nước. Tinh thần hiếu học của người Việt Nam đã
biến thành truyền thống. Và truyền thống này vẫn còn tiếp nối ở trong nước, cũng như
tại hải ngoại.
Tập quán
Người Việt Nam có những phong tục tập quán rất phong phú trái dài trên khắp mọi
miền Tổ quốc.Đó là tục ăn trầu, hút thuốc lào, tết nguyên đán, tết thanh minh, lễ động

nhân đạo cũng là một trong những đặc tính nổi bật của “Quốc triều hình luật” so với
các bộ luật khác.
Chủ nghĩa nhân đạo của Khổng Tử - nhân học, mà hạt nhân là chữ hiếu - là quan
hệ huyết thống tự nhiên của con người, quan hệ huyết thống tự nhiên này là cơ sở
cho chủ nghĩa nhân đạo của Khổng Tử, đã có ảnh hưởng mạnh mẽ vào Việt Nam.
Nó có tính hợp lý khi Khổng Tử đã kết hợp nhân ái (đạo đức), huyết thống (quan hệ
tự nhiên) và chế độ đẳng cấp (chính trị) lại với nhau; và nhân ái là chất keo để gắn
chặt mối quan hệ ngang dọc của xã hội. "Nhân" là phạm trù trung tâm của toàn bộ
học thuyết Khổng giáo. Khổng Tử nói nhiều đến chữ “Nhân” và coi “Nhân” là cao
ngất, là rộng đến sâu thẳm của đạo đức con người.
Đặc biệt hơn nữa trong Bộ Luật Hồng Đức đặt ra mức hình phạt dành cho người
phạm tội là phụ nữ và hình phạt đối với phụ nữ có thai cũng phản ánh tính chất nhân
đạo. Điều 1 qui định trượng hình chỉ đàn ông phải chịu: “Từ 60 cho đến 100 trượng,
chia làm 5 bậc: 60 trượng, 70 trượng, 80 trượng, 90 trượng, 100 trượng, tuỳ theo tội
mà thêm bớt. Xử tội này có thể cùng với tội lưu, tội đồ, biếm chức, hoặc xử riêng chỉ
đàn ông phải chịu.” Qui định này được đánh giá rất cao về sự tiến bộ của nó, nếu đặt
nó trong mối liên hệ với quan niệm phong kiến (chịu ảnh hưởng lớn của tưởng Nho
giáo) về địa vị thấp kém của người phụ nữ so với người chồng trong gia đình.
Tính nhân đạo còn được thể hiện ở chỗ cho phép hoãn hình phạt đối với phụ nữ
đang có thai và 100 ngày sau khi sinh con. Điều 680: "Đàn bà phải tội tử hình trở
xuống nếu đang có thai, thì phải để sinh đẻ sau 100 ngày mới đem hành hình. Nếu
chưa sinh mà đem hành hình thì ngục quan bị xử biếm hai tư; ngục quản bị đồ làm
bản cục đinh. Dù đã sinh rồi , nhưng chưa đủ hạn một trăm ngày mà đem hành hình,

Nhóm 6

Page 18


Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam

Nhóm 6

Page 19


Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam
trung thực và điều chỉnh mối quan hệ giữa vợ - chồng phù hợp với thực tế xã hội Việt
Nam được biểu hiện thông qua quyền bình đẳng về tài sản (Điều 374, 375, 376) và
quyền sở hữu với tài sản riêng (Điều 374, 377, 375 ,376) quyền sở hữu với tài sản
chung(Điều 375) ; bộ luật còn qui định sự ràng buộc trách nhiệm của người chồng với
gia đình, qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người vợ (Điều 308, 309 ,482,
405).

5.2. Tư tưởng nho giáo trong luật hôn nhân và gia đình.
Khổng Tử đã đưa ra một nhận định nổi tiếng khi luận bàn về vai trò của pháp
luật trong mối liên hệ với đạo đức, ông cho rằng: “ luật pháp chỉ là công cụ dẫn dắt
bằng chính, chấn chỉnh bằng hình, dân chịu mà vô sỉ. Dẫn dắt bằng đức, chấn chỉnh
bằng lễ, biết sỉ lại tiêu chuẩn, dân mới biết tự trọng và vào nề nếp… Pháp luật chỉ
khiến người ta sợ mà không dám làm điều ác, còn dùng đức trị thì người ta xúc động
tận trong lòng và tự nguyện thực hiện, không phải vì sợ pháp luật mà là vì sợ xấu hổ
trước người khác, sợ lương tâm cắn rứt đến chết dần, chết mòn”.
Ở Việt Nam và một số nước Á Đông, trong luân lý và đạo đức truyền thống đều
hướng tới việc xây dựng gia đình bền vững, lâu dài, một trách nhiệm, một luân lý và
đạo đức mà tình cảm cá nhân phải phụ thuộc vào đó. “Con người vừa mới sinh ra đã
phải là người con có hiếu và thuận hoà - cả cuộc đời đều hiến thân cho gia đình, lấy
công việc xây dựng gia đình làm hạnh phúc cho chính bản thân mình. Hạnh phúc và
danh dự cá nhân được gắn chặt với hạnh phúc và danh dự gia đình.”.
Triều Lê đặc biệt chú trọng đến vấn đề gia đình, coi gia đình là cơ sở quan trọng
bậc nhất để tạo lập kỉ cương và ổn định xã hội. Cũng giống như vấn đề chủ quyền
quốc gia, luật pháp thời kỳ nào cũng điều chỉnh vấn đề hôn nhân và gia đình, nhưng

qui định và hình phạt chặt chẽ nhằm bảo vệ lễ giáo phong kiến. Trong gia đình,
những hành vi vi phạm đạo lý của Nho giáo cũng bị qui định phải chịu hình phạt
theo hệ thống hình phạt ngũ hình ở Điều 1, đó là hình phạt từ nhẹ đến nặng như:
Suy, trượng, đồ, lưu, tử. Để cho giáo lý của đạo Nho được mọi người tuân theo một
cách triệt để, nhà làm luật đã dùng đến những hình phạt rất nặng để trừng trị những
hành vi trái với đạo lý Nho giáo.
Ngoài xã hội, chịu ảnh hưởng tư tưởng trung quân của Nho giáo, Quốc Triều
Hình Luật đưa ra các hình phạt cho những người phạm vào kỉ cương phép nước và
trật tự xã hội, mưu mô làm việc đại nghịch, mưu mô theo giặc phản nước phải chịu
hình phạt cao nhất là xử tử ở Điều 411, 412. Việc qui định chặt chẽ những lễ nghi
trong gia đình, ngoài xã hội và trừng phạt nghiêm khắc những người xâm hại lễ nghi
thì Quốc Triều Hình Luật đã thể hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa Lễ và Hình. Qua đó,
Bộ luật đã bảo vệ giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc như lòng hiếu thảo, sự tôn
kính ông bà, cha mẹ của con cháu; sự hoà thuận chung thuỷ giữa vợ chồng; sự kính
nhường hoà thuận giữa anh chị em, truyền thống tôn sư trọng đạo. Đồng thời các qui
định nghiêm khắc áp dụng trong mỗi vi phạm lễ nghi gia đình của Quốc Triều Hình
Luật có tác động rất lớn đến sự tự điều chỉnh hành vi trong gia đình khiến họ sớm có

Nhóm 6

Page 22


Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam
ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm với bản thân và làm tròn bổn phận ở từng vị trí cụ
thể với gia đình mình.
Như vậy, bộ luật đã hỗ trợ đắc lực cho sự giáo dục đạo đức trong gia đình, trong
xã hội, đã dùng pháp luật để xây dựng, củng cố những chuẩn mực và giá trị đạo đức
truyền thống.
Luật hôn nhân và gia đình: bộ Luật Hồng Đức do bị chi phối sâu sắc bởi tư tưởng

tính sáng tạo cao của nhà làm luật.
Mặc dù chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của Bộ Đường Luật sớ nghị thời nhà Đường,
nhưng trong số 722 Điều của Quốc Triều Hình Luật thì có đến 315 điều (chiếm gần
một nửa tổng số điều luật) là không tìm thấy trong Bộ luật của nhà Đường. Quốc
Triều Hình Luật vừa tiếp thu có chọn lọc tư tưởng của Nho giáo vừa phát huy những
phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc mình. Thí dụ: Điều 40: “Những người miền
thượng du (miền núi, miền đồng bào dân tộc ít người cư trú) cùng phạm tội với nhau
thì theo phong tục xứ ấy mà định tội. Những người thượng du phạm tội với người
trung châu (miền trung du và miền đồng bằng) thì theo luật mà định tội.”. Có thể nói
đây là điều luật thể hiện rõ nhất tính sáng tạo của nhà làm luật, luật pháp dù có hoàn
bị đến đâu cũng không thể phủ nhận hoặc thay thế hoàn toàn vai trò của phong tục
tập quán vốn dĩ đã tồn tại trước cả khi có luật.
Một vấn đề nữa cần phải khẳng định là nhà làm luật thời kỳ này đã nhận thức rõ
được sức mạnh của quần chúng nhân dân. Nho giáo đánh giá cao vai trò của dân với
việc cai trị và địa vị của nhà vua, của việc củng cố và duy trì địa vị xã hội theo giai
cấp phong kiến. Khổng Tử trong sách Luận ngữ đề cao vai trò của lòng dân - đó là
một yếu tố quan trọng quyết định đến sự thịnh suy của triều đại trong ba yếu tố
lương thực, binh lực, và lòng tin của dân chúng, thì Khổng Tử quan niệm lòng tin
của dân chúng là yếu tố quan trọng nhất.
Việc coi trọng sức mạnh của quần chúng nhân dân thông qua việc bảo vệ thuần
phong mĩ tục của đất nước cũng là một cách để nhà Lê ổn định xã hội và làm cho
“dân cường, nước thịnh”, ở một khía cạnh khác ta cũng thấy nhà cầm quyền cũng
không dại gì thay đổi hoặc phủ nhận những tập tục đó vì nếu làm vậy tự khắc triều
đình sẽ vấp phải sự chống đối mạnh mẽ từ phía dân chúng.
Ngay khi làm thủ tục kết hôn, nhà làm luật rất tôn trọng và thừa nhận những
phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc, các nghi lễ kết hôn gồm: Lễ nghị hôn: Lễ
chạm mặt (dạm hỏi); Lễ định thân: Vấn danh; Lễ nạp trưng: Lễ dẫn đồ cưới; Lễ thân
nghinh: Lễ đón dâu.Các nghi lễ này dần trở thành phong tục cưới hỏi của người dân
Nhóm 6


Bộ Luật Hồng Đức thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, bao trùm lên tất cả các lĩnh
vực kinh tế và xã hội. Sự ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo được in đậm trong nhiều quy
phạm pháp luật được ghi nhận trong bộ Luật Hồng Đức, không chỉ dưới khía cạnh
như gia đình và xã hội mà nó còn được trải rộng ra dưới khía cạnh kinh tế bằng những
chính sách trong nông nghiệp, chính sách quân điền, chính sách an dân, chính sách ổn
định sản xuất nông nghiệp. Việc nghiên cứu những ảnh hưởng của Nho giáo trong Bộ
Nhóm 6

Page 25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status