LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin cảm ơn Giáo sư Nguyễn Hải H à đã ch ỉ b ảo t ận tình,
cung cấp cho chúng tôi những kiến thức và t ư liệu quý giá để chúng tôi ho àn
thành luận văn này!
Chúng tôi xin cảm ơn các thầy cô trong tổ bộ môn v ăn h ọc n ước ngo ài,
các thầy cô trong khoa và trong trường đã trang bị cho chúng tôi những kiến
thức bổ ích để phục vụ cho công tác giảng dạy và cho cuộc sống của chúng
tôi sau này!
Cảm ơn gia đình, bạn bè, học sinh, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên
để chúng tôi hoàn thành khóa học!
Cuối cùng, chúng tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong H ội
đồng bảo vệ luận văn đã đánh giá, góp ý để luận v ăn của chúng tôi được
thông qua và hoàn thiện!
Hà Nội, ngày 27 tháng 10 năm 2015
Tác giả
Đỗ Chí Thành
1
MỤC LỤC
2
PHẦN MỞĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước Nga mênh mông, với những ngọn núi dòng sông, là nơi sinh
ra những nhà văn vĩ đại. Một trong những đại biểu ưu tú nhất của nền văn
học Nga chói lọi, huy hoàng là F.M. Dostoevsky. Dostoevsky sinh ra vào thế
rừng thẳm. Một người là nhà tiểu thuyết bi kịch, người kia là nhà ti ểu thuyết
sử thi. Cả hai ông đều có những cuốn tiểu thuy ết v ào loại đồ s ộ nh ất th ế gi ới.
Trong khi Lev Tolstoy thường hứng thú với tầng lớp quý t ộc thì Dostoevsky
lại dành sự quan tâm cho những người nghèo khổ bất hạnh. Chỉ riêng nhan đề
tác phẩm chúng ta đã thấy được sự khác biệt gi ữa hai nh à v ăn. Tác phẩm của
Tolstoy là Chiến tranh và hòa bình, tức là nói tới những vấn đề rất lớn lao
của nhân loại là chiến tranh và hòa bình, còn tác phẩm của Dostoevsky là
Những người ngèo, Những kẻ tủi nhục, Bút kí từ nhà chết, Tội ác và
trừng phạt, Con bạc, Lũ người quỷ ám. Nhân vật của Tolstoy là những
tiểu thư cành vàng lá ngọc, những nhà quý tộc hoặc những nhân v ật lịch s ử
nổi tiếng như: Andrei Bolconsky, Natasha, Pierre Bezoukhov, Hélèna, Nicolas
Rostov, Napoléon Bonaparte, Koutouzov, Anna Karenina... còn nhân vật c ủa
Dostoevsky là những kẻ bần hàn, những người bị xã hội ruồng bỏ, khinh khi
như: Makar Devushkin, Varenka Dobroselova, Sushilov, Baklushin,
Raxkonikov, Sonya, Marei, Dmitri Fedorovich...
Có nhiều yếu tố góp phần làm nên phong cách c ủa m ột nh à v ăn, trong
đó kí ức tuổi thơ là một trong những yếu tố quan trọng nhất. Kí ức thời thơ
ấu tạo nên cái nền cho tâm hồn và nhân cách con người, nó s ẽ đi theo con
người cho đến hết cuộc đời. Trong truyện Lão nông Marei, Dostoevsky nói
đến một nhân vật có cái nhìn thù địch với cuộc đời là do anh ta không có
những kỷ niệm đẹp về con người. Tác giả gọi anh ta là: “Một con người bất
hạnh! Anh chàng chẳng hề có một kỷ niệm gì về những con người như Marei
và cũng chẳng có một cái nhìn gì khác đối với những con người kia, ngoài cái
câu, tôi căm thù lũ ăn cướp ấy!” [14, 96]. Trong phần cuối tiểu thuyết Anh
em nhà Karamazov, đoạn “Diễn từ bên tảng đá”, Dostoevsky cũng nói đến
một ý tương tự: “Các bạn nên biết rằng không có gì cao hơn; m ạnh m ẽ hơn,
trong lành hơn và có ích hơn cho cuộc đời bằng một k ỷ niệm tốt đẹp, đặc biệt
là một kỷ niệm thời thơ ấu sống dưới mái nhà mẹ cha. Ng ười ta nói nhi ều v ới
Moskva. Vở kịch đã để lại cho chú bé những ấn t ượng vô cùng m ạnh m ẽ.
Năm hai mươi chín tuổi Dostoevsky phải bước vào tù giữa tu ổi đời sung mãn.
Sau khi ra tù, mặc dù đã viết được những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhưng đói
nghèo và bệnh tật vẫn theo đuổi ông cho đến hơi th ở cuối cùng. Chính vì
những lý do trên mà Dostoevsky trở thành nhà văn của đề tài về những nỗi
đau khổ bất hạnh của con người như một điều tất yếu.
Với lòng ngưỡng mộ đối với nhà văn vĩ đại, người đã hy sinh cả cuộc
đời vì nghệ thuật, chúng tôi đã chọn một tác phẩm của ông l àm đề tài nghiên
cứu cho luận văn của mình. Tác phẩm mà chúng tôi lựa ch ọn là Bút kí từ
nhà chết. Mặc dù là tác phẩm nổi tiếng, đánh dấu bước ngo ặt trong cu ộc đời
và sự nghiệp của Dostoevsky, nhưng đến năm 2013, Bút kí từ nhà chết mới
được dịch ra tiếng Việt. Do vậy, ở Việt Nam chưa có công trình nghiên c ứu
độc lập nào về tác phẩm này. Luận văn của chúng tôi s ẽ đi v ào ba v ấn đề v ới
5
những lý do khác nhau. Thứ nhất, người kể chuyện l à m ột v ấn đề được đặt ra
từ lâu nhưng nó chưa nhận được sự quan tâm đúng mức và thành tựu thu được
cũng chưa tương xứng với vị trí và tầm quan trọng của nó. Người k ể chuyện
không hiện lên trên bề mặt của tác phẩm mà nằm ở bề sâu. Do đó ng ười ta ít
chú ý đến, chỉ những người thực sự am hiểu văn học mới biết được nh ững đặc
trưng và bản chất của nó. Luận văn của chúng tôi đi v ào v ấn đề ng ười k ể
chuyện vì đấy là vấn đề còn nhiều khoảng trống cần được khám phá. Th ứ
hai, nhân vật là phần chủ yếu của tác phẩm, vì vậy muốn hi ểu tác phẩm
không thể không nói đến nhân vật. Thứ ba, điểm nhìn là vấn đề đang nhận
được rất nhiều sự quan tâm. Tuy nó không phải là thuật ngữ mới, nhưng với
những người nghiên cứu không chuyên sâu thì nó còn khá xa l ạ. Cho nên,
nghiên cứu vấn đề này là thử thách đồng thời là cơ hội để chúng tôi có thể
khám phá ra những điều mới mẻ. Trên đây là những lý do khiến chúng tôi lựa
chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình là: “Người kể chuyện và thế
Dostoevsky. Một câu chuyện khủng khiếp mà tác giả của nó có lẽ đã không
ngờ rằng khi dùng bàn tay bị xiềng xích của mình để khắc họa hình tượng
các bạn tù – khổ sai, và dựa trên tài liệu về những lề thói của m ột nh à tù
Sibir, ông đã xây dựng nên một bức bích họa theo kiểu Buonarroti” [24].
L. Tolstoy đánh giá Bút kí từ nhà chết là tác phẩm ưu tú trong nền
văn học mới của nước Nga. Trong thư gửi N.N. Strakhov, ngày 26 tháng Chín
năm 1880, Tolstoy viết: “Hôm nọ bị mệt và tôi đã đọc Nhà chết. Tôi đã quên
nhiều, đã đọc lại và không am hiểu những tác phẩm ưu tú trong toàn bộ n ền
văn học mới, kể cả của Pushkin.
Không phải giọng điệu mà điểm nhìn mới kỳ diệu – nó chân thành, tự
nhiên và có tính Cơ đốc giáo. Một tác phẩm có ý nghĩa giáo dục tốt. Hôm qua
tôi thích thú suốt ngày, từ lâu chưa hề thích thú như th ế. Nếu anh g ặp
Dostoevsky, hãy nói với anh ấy rằng tôi mến anh ấy” [24].
“Trong thư ngày 2 tháng Mười một năm 1880, Strakhov cho Tolstoy
biết Dostoevsky rất cảm động về nhận xét về Bút kí từ nhà chết của L.
Tolstoy” [24].
Năm 1904, một người quen cho biết: “Chiều nay L. Tolstoy đã đọc to
hai đoạn trong Bút kí từ nhà chết – đó là các đoạn “chim phượng hoàng”
và “cái chết ở bệnh viện” của Dostoevsky mà ông định đưa vào “Phạm vi
đọc”. Rõ ràng các đoạn này làm ông cảm động sâu sắc” [24].
Nhà văn Áo, Stefan Zweig (1881 – 1942), có những ý kiến đặc sắc về
Bút kí từ nhà chết trong cuốn sách Ba bậc thầy (Three Masters – 1920).
Ông cho rằng việc Dostoevsky bị đi đày khổ sai là sự nghiệt ngã của số phận
nhưng đồng thời là cơ hội để ông hiểu được mọi ngõ ngách và chiều sâu của
cuộc đời: “Và thế là số mệnh đưa ngón tay ra đe dọa ông; thần h ộ m ệnh bám
sát ông không muốn ông có cuộc sống dễ dàng; để ông hiểu cuộc đời tới tận
các chiều sâu của nó, Thượng đế yêu ông gửi đến cho ông một thử thách” [60,
7
một niềm vinh quang lớn hơn, bền vững hơn bao giờ hết” [60, 25].
L. Grossman có những lý giải đầy đủ nhất về Bút kí từ nhà chết
trong cuốn sách Dostoevsky cuộc đời và sự nghiệp. Grossman cho biết:
“Ngày 23 tháng Giêng năm 1854, Dostoevsky tới pháo đài Omsk có hào rãnh
và thành lũy vây quanh. Pháo đài xây dựng đầu thế kỷ XVIII để ch ống đỡ
quân du mục đồng cỏ. Chẳng bao lâu sau, nó biến thành nhà tù quân đội” [19,
8
220]. Hình ảnh về nhà tù Omsk hiện lên thật đáng sợ: “Đó là m ột căn nh à g ỗ
mục đã sắp bị rỡ, sàn ván ọp ẹp, mái dột, bếp lò khói mù mịt, bọ chét, rận, gián
bò lổm ngổm. Những tấm phản trơ trụi. Một chiếc thùng gỗ công cộng t ừ x ẩm
tối đến rạng sáng cứ bốc ra một mùi hôi không sao chịu nổi. Bốn bề không lúc
nào ngớt tiếng kêu la, chửi rủa và xiềng xích loảng xoảng” [19, 221]. Việc
sáng tác của Dostoevsky diễn ra như sau: “Ởđây, hẳn là lúc đầu Dostoevsky
ghi vào các mảnh giấy trước hết là các câu nói, nh ững l ời bu ột mi ệng, các
câu chuyện trò, những vần thơ, những bài hát của tù khổ sai, rồi sau đó mới
có thể viết các đoạn dài, các khung cảnh, sự việc đã xảy ra, những lời cung
khai, để từ đấy vài năm sau thì chúng tr ở thành một tác ph ẩm b ất t ử c ủa ông
về những người tù cầm cố ở nước Nga nông nô” [19, 329, 330]. Bút kí từ
nhà chết không phải là những ghi chép đơn thuần mà là một tác phẩm văn
học nên có sự hư cấu, sáng tạo dựa trên những chất liệu có thật. Tuy nhiên
những chất liệu ấy không chỉ giới hạn trong phạm vi m ột nhà tù mà nó còn
kết hợp với nhiều tài liệu khác nữa. Sau khi ra tù, Dostoevsky đọc bút ký c ủa
mình cho những người bạn mới của ông nghe. “Dần d à cái v ườn của cu ốn
tiểu thuyết cứ rộng mãi ra, nhân vật hư cấu nhân lên, chủ đề trở nên phong
phú hơn, cần phải kết hợp giữa nghiêm trang và đau bu ồn, gợi cảm v à d ễ
hiểu…Té ra là những hồi ký nổi tiếng mà ông đã suy nghĩ chẳng những là các
bút ký về nhà tù Omsk, mà còn là sự kết hợp với các truyện đau khổ và khủng
khiếp khác nữa” [19, 330, 331]. Grossman cũng chỉ ra được bố cục rất rõ
cường nhất trong toàn thể các dân tộc của chúng ta. Đi ều này vang lên nh ư
một lời buộc tội cả một chế độ, cả một thời đại” [19, 333]. Cu ối cùng,
Grossman đánh giá: “Nhưng tác giả của cuốn sách nói về nhà tù Omsk thì
thực sự trở nên vĩ đại và trở thành một nghệ sĩ của các đề tài về các nỗi đau
khổ. Không có gì ngạc nhiên về việc cuốn sách lập t ức làm nh ững ng ười
đương thời sửng sốt. Những độc giả tinh tế và sâu sắc nhất đều nh ắc đến cu ốn
Bút kí từ nhà chết như là những kiệt tác vĩ đại của nghệ thuật” [19, 333].
Cuốn Lịch sử văn học Nga thế kỷ XIX (Nhà xuất bản Trường Cao
đẳng Moskva, 2008, Giáo sư N.M. Forturatov chủ biên) viết: “trong Bút kí từ
nhà chết ông mô tả cảnh khổ sai và những gì ông trải nghiệm trong những
năm khủng khiếp đó” [24].
V.S. Solovyov (1853 – 1900), nhận xét: “Cái s ự thật m à Dostoevsky
phát hiện ra trong Bút kí từ nhà chết có ý nghĩa tôn giáo và gắn với niềm
tin vào Kito, lý tưởng của Kito”.
“Bao giờ cũng vậy hoặc, như một quy tắc, đằng sau các nhân vật của
ông xuất hiện chính tác giả” [24].
Nhà nghiên cứu Yu. Aikhenvald nhận thấy: “gần như là tác phẩm bi
đát nhất của Dostoevsky, Bút kí từ nhà chết lại tràn đầy chất hài hước và
niềm vui của tác giả” [24].
10
2.3. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Kim Đính là người đã bỏ ra nhiều công
sức để giới thiệu Bút kí từ nhà chết trong cuốn Lịch sử văn học Nga. Theo
Giáo sư, Bút kí từ Nhà chết là tiếng kêu cứu khẩn thiết, hãy cứu lấy nhân
dân Nga đang lâm vào cảnh khốn cùng cả về thể xác, tinh th ần v à nhân cách:
“Và tiếng nói đầu tiên sau ngày tù đày trở về là tiếng nói tố cáo mãnh li ệt,
tiếng nói báo động, cầu cứu khẩn thiết, cấp bách. Hãy cứu l ấy nhân dân Nga
từ những dòng này là lời báo động khẩn thiết về cơn dịch của thói bạo tàn, của
cái ác đang lan tràn hủy hoại thê thảm nhân cách con người” [43, 363, 364].
PGS.TS. Đỗ Hải Phong, cũng nói đến Bút kí từ nhà chết trong Giáo
trình văn học Nga. Nếu ai đã từng đọc Bút kí từ nhà chết thì thấy rằng đó
là những ý kiến khá sâu sắc. Trong thời gian ở Sibir càng gần gũi v ới nh ững
người tù khổ sai Dostoevsky càng củng cố hơn niềm tin vào con người. Ông
nhận thấy niềm tin Chính giáo không hề tắt trong lòng những con người t ội
lỗi này. “ Ông đánh đồng niềm tin Chính giáo với ý niệm về đạo đức giúp cho
con người trong nh ững ho àn c ảnh kh ủng khi ếp nh ất v ẫn gi ữ được mình
l à m ột con ng ười. Trong nh ững n ăm tháng ở n ơi được g ọi l à ngôi nhà
chết ấy đã di ễn ra b ước ngo ặt t ư t ưởng l ớn c ủa Dostoevsky. Ông tìm đến
gi ải pháp tình th ương – ph ủ nh ận b ạo l ực d ưới b ất k ỳ hình th ức n ào –
như l à gi ải pháp duy nh ất h ợp v ới tinh th ần c ội ngu ồn … không t ắt trong
lòng nhân dân” [46, 57, 58].
Những ý kiến trên của các nhà văn, nhà nghiên cứu là rất có giá trị. Nó
giúp chúng tôi hiểu thêm được rất nhiều về tác giả v à tác ph ẩm m à chúng tôi
nghiên cứu. Tuy nhiên, đề tài của chúng tôi sẽ đi vào những vấn đề mà những
người đi trước chưa đề cập đến hoặc đã nói đến nhưng ch ưa đầy đủ, ch ưa
thành hệ thống. Vì vậy, luận văn của chúng tôi s ẽ là nh ững ý ki ến m ới v à
không trùng lặp với công trình nghiên cứu nào ở Việt Nam.
3. Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng mà luận văn của chúng tôi nghiên cứu là tiểu thuyết Bút kí
từ nhà chết. Trong đó chúng tôi sẽ nghiên cứu về các vấn đề, chân dung
người kể chuyện, thế giới nhân vật và điểm nhìn của người kể chuyện. Bản
dịch chúng tôi sử dụng là bản dịch của Lê Đức Mẫn, nhà xuất bản Lokid
Premium Moskva – 2013, bản tiếng Việt, nhà xu ất bản Th ế gi ới, 2013. Đây
là bản dịch có chất lượng rất tốt, ngôn từ giản dị, dễ hiểu v à s ống động, chúng
tôi thực sự yêu mến và khâm phục tài năng cũng như tầm hi ểu bi ết sâu r ộng
về nhiều vấn đề của dịch giả. Bản in có chất lượng tuyệt vời, tuy có m ột s ố l ỗi
riêng l ẻ, m à còn ch ủ y ếu nghiên c ứu các quy lu ật n ội t ại v à t ương quan
giữa các cấp độ c ủa ch ỉnh th ể ngh ệ thu ật, ngh ĩa l à nghiên c ứu các hình
thức bi ểu hi ện n ội dung, g ắn bó v ới n ội dung, l à hình th ức ch ỉnh th ể c ủa
tác phẩm v ăn h ọc” [31, 4, 5].
Bên cạnh đó chúng tôi còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng
hợp, so sánh, chứng minh. Phân tích giúp cụ thể hóa vấn đề, chứng minh l à
làm sáng tỏ vấn đề, so sánh giúp vấn đề tr ở nên sinh động, sâu s ắc, t ổng h ợp
là khái quát, mở rộng vấn đề.
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn giúp người đọc có cái nhìn tổng thể và toàn diện về tác phẩm
Bút kí từ nhà chết từ đó mà hiểu sân sắc hơn về cuộc đời, con người và tài
năng của tác giả Dostoevsky, đồng thời chúng tôi cũng đưa ra những cách hiểu
13
mới về các vấn đề người kể chuyện và điểm nhìn của người kể chuyện, cũng
như cách phân tích nhân vật và những đặc điểm về nghệ thuật của tác phẩm.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn cấu trúc
thành ba chương:
Chương 1: Chân dung người kể chuyện – nhân vật tự thuật
Chương 2: Thế giới nhân vật
Chương 3: Điểm nhìn của người kể chuyện
CHƯƠNG 1: CHÂN DUNG NG ƯỜI K ỂCHUY ỆN – NH ÂN V ẬT
TỰ THUẬT
Người kể chuyện là một vấn đề rất thú vị, nhưng khá phức tạp và khó
nắm bắt, vì vậy, cho đến nay, vẫn có rất nhi ều ý ki ến khác nhau v à ch ưa
thống nhất. Dựa vào thành tựu lý luận của Nga và ph ương Tây, Giáo s ư
Trong truyện, người kể chuyện vô hình là người kể về việc Tnú về thăm làng,
sáng mai anh lại lên đường trở về đơn vị; nhân sự kiện này, trong đêm hôm
ấy, bên ánh lửa nhà rông, trước sự có mặt đông đủ của dân làng, cụ Mết đã kể
về cuộc đời của Tnú và cuộc chiến đấu anh hùng của dân làng Xô Man, c ụ
Mết chính là người kể chuyện hữu hình, kết hợp với ng ười k ể chuyện vô
hình như đã nói ở trên để tạo thành người kể chuyện đa hình của tác ph ẩm.
Người kể chuyện đa hình còn có một loại nữa là, trong tác phẩm không có
người kể chuyện vô hình, nhưng lại có nhiều người kể chuyện hữu hình. Như
vậy, người kể chuyện đa hình là có từ hai người kể chuyện trở lên trong m ột
tác phẩm.
Từđiển thuật ngữ văn học, có sự phân biệt giữa người kể chuyện với
người trần thuật, chỉ gọi là người kể chuyện khi truyện được k ể theo ngôi th ứ
nhất: người kể chuyện là “hình tượng ước lệ về người trần thuật trong tác
15
phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được k ể bởi một nhân v ật c ụ
thể trong tác phẩm” [28, 191].
N.D. Tamarchenko cũng có sự phân biệt giữa người kể chuyện và ng ười
trần thuật. Người kể chuyện cũng như người trần thuật “là chủ thể lời nói và là
người đại diện cho điểm nhìn trong tác phẩm văn học… Khác hẳn với người
trần thuật, người kể chuyện không đứng ở đường biên giữa thế giới hư cấu với
hiện thực của tác giả và độc giả mà hoàn toàn đứng bên trong hiện thực được
mô tả: câu chuyện của nó được nhắm một cách ước lệ tới người nghe hiện diện
trong hiện thực ấy, bên cạnh người kể chuyện: cái vị thế n ằm phía bên trong
các ranh giới của tác phẩm này người đọc đứng ngoài tác tẩm phải chiếm lĩnh.
Chẳng hạn trong tiểu thuyết Người đi ra từ tiệm ăn của I. Smelyev, người
kể chuyện là nhân vật chính, ta hoàn toàn không bi ết anh ta đang k ể chuy ện
cho ai nghe, mặc dù không thể hoài nghi sự hiện diện của ng ười nghe ước l ệ
này trong hiện thực được mô tả. Còn trong truyện Kholstomer của L. Tolstoi,
Sokolov, trong khi đợi đò, Sokolov đã kể cho ông nghe về cu ộc đời đầy đau
thương và bất hạnh của mình.
Nếu phân chia theo Tamarchenko thì người trần thuật có th ể đứng
ngoài tác phẩm, kể theo ngôi thứ ba như trong truyện Rừng xà nu ; người trần
thuật cũng có thể là một nhân vật trong truyện, kể theo ngôi thứ nhất như trong
truyện Số phận con người; Còn một trường hợp nữa là, tác phẩm bỏ qua hoặc
gần như không cần tới người trần thuật như Tamarchenko đã dẫn ở trên.
R. Barthes cho rằng, người kể chuyện đơn giản chỉ l à s ự hư cấu c ủa tác
giả, nên không thể đồng nhất với tác giả được: “Người kể chuyện và những
nhân vật của anh ta bản chất là những thực thể trên mặt gi ấy, tác gi ả th ực t ế
của văn bản không có điểm gì chung với ng ười k ể chuyện” [25]. M. Bakhtin
thì nói lên một điều rất rõ ràng là,“Tác giả không th ể có mặt tr ực ti ếp trong
tác phẩm văn học được còn nếu như tác gi ả xông th ẳng v ào tác ph ẩm v ăn h ọc
thì tác phẩm đó không còn là tác phẩm văn học n ữa m à l à m ột tác ph ẩm
chính luận”[25]. Trong bài viết Người kể chuyện và mối quan hệ giữa
người kể chuyện và tác giả, Cao Kim Lan đã chỉ ra được vai trò t ổ ch ức tác
phẩm của người kể chuyện: “Người kể chuyện là nhân vật do tác giả sáng tạo
ra có nhiệm vụ tổ chức kết cấu tác phẩm và môi giới, dẫn dắt người đọc tiếp
cận văn bản. Trong khi đó, tác giả là chủ thể sáng tạo. Anh ta ở bên ngoài tác
phẩm” [36, 113].
Sách Lí luận văn học không phân biệt giữa người kể chuyện và người
trần thuật: “Người kể chuyện (người trần thuật) là y ếu tố thuộc th ế gi ới miêu
tả. Đó là một người do nhà văn sáng tạo ra để thay mình thực hiện h ành vi
trần thuật. Khác với người kể chuyện trực tiếp lộ diện như trong diễn x ướng
dân gian, có thể sử dụng các yếu tố phi ngôn từ như điệu bộ, ánh m ắt …, người
kể chuyện trong văn bản viết ẩn mình trong dòng chữ. Người k ể chuyện ấy
có thể được kể bằng ngôi thứ ba, ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai.V à chỉ có thể
kể được khi nào họ cảm thấy như người trong cu ộc, người ch ứng ki ến hay
người biết trước sự việc xảy ra bằng tất cả giác quan, sự hi ểu bi ết c ủa mình.
17
tự kể, mặc dù về bản ch ất, nó v ẫn l à t ự k ể, ch ỉ khác l à nó ở nh ững t ầng b ậc
khác nhau m à thôi.
Những ý kiến trên đây tuy khác nhau nhưng đều đúng. Mỗi ý kiến lại
bổ sung một nội dung, làm sáng tỏ một khía cạnh của vấn đề người k ể
chuyện. Có tác giả xem người kể chuyện và người trần thuật là hai khái ni ệm
có nội hàm khác nhau; có tác giả lại cho rằng, đấy ch ỉ l à nh ững tên g ọi khác
nhau của cùng một khái niệm. Theo ý của chúng tôi, thì chỉ nên dùng thuật
18
ngữ người kể chuyện mà không cần phải dùng thuật ngữ ng ười tr ần thu ật.
Luận văn của chúng tôi sẽ thực hiện như vậy.
Bút kí từ nhà chết kể về những năm tháng Dostoevsky bị lưu đày ở
Sibir, điều này là rõ ràng và không có gì phải bàn cãi. Nh ưng n ếu l à nh ư v ậy
thì người kể chuyện chắc chắn phải là Dostoevsky chứ không thể l à một
người nào khác. Tuy nhiên, trong Bút kí từ nhà chết, người kể chuyện lại
không phải là Dostoevsky mà là một người có tên là Aleksandr Petrovich
Goryanchikov. Tại sao lại có sự đặc biệt như vậy? Đấy chẳng qua ch ỉ l à m ột
thủ pháp nghệ thuật. Nhân vật Aleksandr Petrovich Goryanchikov chỉ là h ư
cấu, còn về thực chất, người kể chuyện chính là Dostoevsky. Đi ều n ày đã
được Dostoevsky nói rõ mười lăm năm sau đó, trong truy ện Lão nông
Marei, in năm 1877: “Có thể mọi người sẽ nhận ra m ột đi ều l à cho đến ng ày
hôm nay trên sách báo tôi chưa một lần nào đả động đến cu ộc đời tôi trong
cảnh tù đầy khổ sai. Tôi cũng có viết Ghi chép trong căn nhà Chết, tôi viết
nó mười lăm năm trước, nhưng núp dưới một nhân vật hư cấu, một tên t ội
phạm, dường như đó là một tên giết chết vợ mình. Tiện đây tôi c ũng xin nói
thêm một chi tiết là từ hồi ấy cho đến tận bây gi ờ có rất nhiều ng ười v ẫn nghĩ
và vẫn khẳng định rằng tôi bị đi đầy vì tội giết vợ” [14, 91]. Vậy, vì sao
Dostoevsky không trực tiếp đứng ra kể chuyện mà lại phải mượn danh nghĩa
của người khác? Lý do đơn giản chỉ là về mặt thẩm mỹ. Nói nh ững đi ều tốt
nên, nếu trong tác phẩm có sai sót gì đó về mặt kiểm duyệt, khi nói đến chính
quyền hay nhà tù khổ sai thì đấy là lời nói hoặc suy nghĩ của Aleksandr
Petrovich Goryanchikov chứ đâu phải của Dostoevsky. Cũng giống như trong
Truyện Kiều, qua nhân vật Từ Hải, Nguyễn Du đã nói lên được ý chí thực sự
của mình và chỉ ra nguyên nhân vì sao Thúy Kiều lại siêu lòng trước quan tổng
đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến:
Bó thân về với triều đình,
Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu?
Áo xiêm ràng buộc lấy nhau,
Vào luồn ra cúi công hầu mà chi? (...)
Nàng thời thật dạ tin người,
Lễ nhiều nói ngọt nghe lời dễ xiêu [16].
Và chẳng biết Nguyễn Du thực bụng nghĩ thế n ào, nhưng qua nhân v ật
Thúy Kiều, ông đã nói:
Làm chi để tiếng về sau,
Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào! [16].
Nói thì nói vậy thôi, chứ một khi đã đụng đến vấn đề kiểm duyệt thì
sẽ rất nguy hiểm đối với một người như Dostoevsky, nên dù có là lời nói v à
suy nghĩ của người khác thì ông cũng vẫn phải rất thận trọng.
Vì chỉ là cái vỏ bọc bên ngoài nên giữa nhân vật Aleksandr Petrovich
Goryanchikov và người kể chuyện được phản ánh trong tác phẩm đối lập
hoàn toàn với nhau. Goryanchikov bị đày khổ sai mười năm vì tội giết vợ. Sau
khi ra tù ông gần như là người điên dại, đa nghi đến m ức mất trí, kiên trì l ẩn
20
tránh mọi người và chỉ ra khỏi nhà khi đi d ạy h ọc. Cu ối cùng ông đã ch ết ch ỉ
ba năm sau khi ra tù. Trái lại, người kể chuyện được phản ánh trong tác ph ẩm
là người sống gần gũi, chan hòa với mọi người, thích tìm hiểu mọi thứ diễn ra
xung quanh, đặc biệt là về tâm lý, tính cách của tù nhân: “Khi g ặp g ỡ h ọ
21
1.1. Hình ảnh nhàtù, sinh hoạt trong tù vàngoại hình của người kểchuyện
Người kể chuyện bị giam trong một nhà tù dân s ự ở Sibir. Đó l à nh à tù
Omsk, “nằm bên mép pháo đài, ngay sát chân tường thành” [15, 211]. M ặc
dù là nhà tù dân sự nhưng nhà tù Omsk giam giữ cả ba loại tù nhân là: tù dân
sự, tù chính trị và tù quân nhân, tức những người lính phạm t ội. Thời gian
người kể chuyện ở đây thì nhà tù này vẫn là nhà tù dân sự, nhưng sau đó nó
trở thành nhà tù quân đội. Tức là nhà tù này sau đó không tiếp nh ận nh ững tù
dân sự và chính trị nữa mà chỉ tiếp nhận tù quân nhân. Qua th ời gian thì
những tù dân sự và chính trị mãn hạn được ra tù, m ột số thì ch ết, cho nên
đến một lúc nào đó nhà tù chỉ còn lại một loại tù là tù quân nhân. Đi ều này
đã được người kể chuyện nói rõ ở phần gần cuối của tác phẩm.
Nhà tù gồm hai trăm năm mươi tù nhân. Con số này gần như không đổi.
Số này đến thì số khác mãn hạn, số khác nữa qua đời. Nhóm c ư dân ch ủ y ếu
trong trại là loại đi đày khổ sai dân sự. Đó là nh ững tù nhân b ị m ất ho àn to àn
quyền hưởng tài sản, họ hoàn toàn bị cắt rời ra khỏi xã hội, mặt bị đóng dấu
làm bằng chứng vĩnh viễn cho sự ruồng bỏ. Họ bị đưa đến đây làm vi ệc th ời
hạn từ tám đến mười hai năm, sau đó lại chuyển đi đâu không rõ trong các
tổng huyện vùng Sibir này thành dân nhập cư. Lại có t ội ph ạm l à quân nhân,
chưa mất quyền tài sản, như hầu hết trong các đội quân nhân Nga bị giam. Họ
đến đây với thời hạn ngắn hơn, hết hạn được quay về nơi cũ, được làm lính
trong các tiểu đoàn Sibir. Nhiều người trong số này lại l ập t ức quay v ề tr ại vì
lại một lần nữa gây ra trọng tội, nhưng lần này không phải ngắn hạn, mà là hai
mươi năm. Loại này được mệnh danh là vĩnh cửu. Nhưng lo ại vĩnh cửu v ẫn
chưa mất hẳn quyền tài sản. Cuối cùng vẫn còn một loại đặc biệt nữa, ph ạm
vào những tội ác khủng khiếp, chủ yếu là quân nhân. S ố này khá đông. H ọ
được gọi là biệt nhóm. Họ tự coi mình là vĩnh viễn và không biết thời h ạn lao
động của mình là bao nhiêu. Họ bị giam gi ữ trong tr ại cho đến khi n ào Sibir
tội ở đây” [43, 362].
Nhà tù đúng là đã làm méo mó con người ngay từ cái nhìn đầu tiên.
Quần áo và đầu tóc của tù nhân rất đặc biệt. Áo của một số người thì m ột n ửa
màu nâu sẫm, một nửa xám, quần của họ cũng vậy, một ống màu xám thì ống
kia nâu sẫm. Lại có những tù nhân áo toàn màu xám, nhưng hai tay áo thì lại
nâu sẫm. Tóc của họ cũng được cắt khác nhau, m ột s ố thì n ửa đầu nh ẵn thín
theo chiều dọc, số khác lại nhẵn thín theo chiều ngang. Trang phục và đầu
tóc của người kể chuyện cũng không khác gì những tù nhân khác.
Nước nôi ở trong tù rất thiếu thốn. Thiếu đến m ức phải chia, nh ư H ồ
Chí Minh đã từng phản ánh:
Mỗi người nửa chậu nước nhà pha,
Rửa mặt pha trà tự ý ta.
Muốn để pha trà đừng rửa mặt,
Muốn đem rửa mặt chớ pha trà [40].
Ởnhà tù Omsk, nước nôi có lẽ còn thiếu thốn hơn th ế. Buổi sáng tù nhân
phải xếp hàng trước một xô nước. Họ dùng gáo ngậm nước vào miệng, sau đó
23
dùng nước trong miệng để rửa mặt mũi chân tay. ỞTrung Quốc hay nước Nga
có những con sông rất lớn, nhưng nước ở trong tù thì thi ếu th ốn đến m ức nh ư
vậy đấy.
Theo người kể chuyện thì việc ăn uống ở trong tù không đến mức thiếu
thốn lắm, chỉ có món canh bắp cải là hơi đặc biệt. Nó th ật vô duyên v à loãng
thếch loãng thoác. Ông thất kinh khi nhìn thấy trong chảo có m ấy con gián,
nhưng tù nhân thì không mảy may quan tâm. Th ời gian đầu vì ch ưa quen
nên ông hầu như chỉ toàn uống nước trà.
Người kể chuyện có ngoại hình thấp bé, xanh xao, g ầy gò, ốm y ếu,
nhưng lại hiền lành, dễ mến, luôn gây được sự chú ý và thiện cảm đối với mọi
người. Chẳng thế mà có lần đi làm, nhìn thấy bộ quần áo kỳ qu ặc của ông,
nhân cắp đồ đạc và vay tiền của ông. Trong ngày đầu tiên có người đến vay
tới ba lần. Họ nghĩ ông là người ngố không biết gì nên ph ải ch ịu thua nh ững
trò ranh mãnh khôn ngoan của họ. “Mặc dù khi nhập tr ại tôi không có nhi ều
tiền, nhưng khi đó tôi cũng không thể bực mình v ới anh em trong tr ại, nh ững
người mà ngay những giờ phút đầu tiên của tôi ở đây đã lừa tôi một lần rồi lại
thản nhiên đến với tôi lần th ứ hai, l ần th ứ ba th ậm chí đến l ần th ứ n ăm để
vay tiền tôi. Nh ưng tôi th ành tâm thú nh ận m ột đi ều l à tôi r ất b ực mình vì
con người r ất m ực khôn ngoan đến m ức ngây th ơ ấy, nh ư tôi ngh ĩ, đã coi tôi
là thằng mặt thộn, là thằng ng ốc v à đã c ười kh ẩy v ới tôi chính l à b ởi l ẽ đến
lần thứ năm ấy tôi v ẫn đưa ti ền cho m ượn. Nh ững ng ười ấy h ẳn đã ngh ĩ r ằng
tôi đã chịu thua nh ững trò l ừa b ịp v à khôn v ặt kia, v à n ếu ng ược l ại, ngh ĩa l à
tôi cứ từ chối v à xua đuổi họ thì tôi tin r ằng h ọ s ẽ kính tr ọng tôi h ơn h ẳn.
Nhưng dù tôi có bực mình đến đâu đi n ữa, tôi c ũng không th ể n ào t ừ ch ối
được” [15, 277, 278].
Các tù nhân không bao giờ thừa nhận những người quý t ộc l à b ạn bè.
Điều này không phải là do những định kiến có ý thức mà ho àn to àn t ự nhiên
chân thành thế thôi. Tù nhân say sưa nhìn vào nỗi đau của những nhà quý tộc
và thích đem chuyện sa cơ lỡ vận của họ ra mà đùa giỡn: “X ưa kia ông Piotr
giàu sang lẫy lừng, bây giờ ông Piotr tay không bện thừng” [15, 230].
Tù nhân không ưa những người quý tộc vì nh ững ng ười quý t ộc thu ộc
loại người khác, không giống với họ, trong khi họ vốn là những nông nô. Có
lần, một tù nhân trong khi say rượu toan giết ng ười k ể chuyện. Các tù nhân
căm thù ông đến mức không ai lên tiếng ngăn cản k ẻ say r ượu v à ông ch ỉ
thoát nạn nhờ một việc hết sức bất ngờ. Tuy không sợ những trò hung bạo của
tù nhân nhưng sự việc này đã làm cho ông hết s ức bu ồn bã: “Bu ổi chi ều, khi
trời đã tối, trước lúc đóng cổng trại tôi cứ đi đi lại l ại gần chỗ hàng r ào, m ột
nỗi buồn nặng nề phủ bóng xuống tâm hồn tôi, sau này trong suốt cuộc đời lao
lý tôi cũng không bao giờ cảm thấy nỗi buồn nào lớn lao hơn thế” [15, 248].
Trong Tội ác và trừng phạt Dostoevsky cũng nói đến s ự thù hận n ày c ủa tù
nhân đối với những nhà quý tộc. Một tù nhân nổi khùng đã lao v ào