VẬN DỤNG TRI THỨC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
VÀ THÀNH TỰU KHOA HỌC KỸ THUẬT
TRONG GIẢNG DẠY TRIẾT HỌC
Đỗ Hồng Tuấn*
Khoa học lý luận chính trị từ lâu đã là một trong những
ngành khoa học có u cầu đào tạo đầu tiên và ưu tiên, mang tính
chất nền tảng của tất cả hệ thống giáo dục đại học trên thế giới.
Trong đó, triết học, với tư cách “là hệ thống tri thức lý luận chung
nhất của con người về thế giới, về bản thân con người và vị trí của
con người trong thế giới đó”1, từ trước đến nay vẫn ln là tiêu chí
cơ bản để đánh giá chất lượng giáo dục đại học, đồng thời là cơng
cụ khơng thể thiếu để trang bị cho người học những tri thức tổng
qt cũng như các phương pháp luận chung nhất nhằm nhận thức về
thế giới, nhận thức về xã hội và tự nhận thức về bản thân.
Việc đào tạo triết học ở bậc đại học rất được chú trọng ở
những đại học hàng đầu trên thế giới. Chẳng hạn những đại học nổi
tiếng nhất của Singapore như Đại học Quốc gia Singapore (National
University of Singapore - NUS) và Đại học Kỹ thuật Nanyang
(Nanyang Technology University - NTU) tuy có chun ngành đào
tạo chủ yếu về kinh tế học, khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật,
nhưng vẫn có đến 4 tín chỉ triết học tự chọn/ 160 tín chỉ tồn khóa
*
Bộ mơn Mác - Lênin và Khoa học XHNV, Trường ĐH An ninh nhân dân, Bộ Cơng an.
Bộ Giáo dục và đào tạo (2011), Giáo trình Những ngun lý cơ bản của chủ nghĩa Mác
- Lênin dành cho sinh viên đại học, cao đẳng khối khơng chun ngành Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.35.
1
giảng dạy, học tập các mơn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh trong các trường đại học, cao đẳng; Nghị quyết ngày
24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án một số biện
pháp nâng cao chất lượng hiệu quả cơng tác giảng dạy các mơn
khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại
học, cao đẳng; mơn chính trị trong các trường trung cấp chun
nghiệp và dạy nghề; Đề án “Đổi mới phương pháp giảng dạy các
mơn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường
đại học và cao đẳng” (năm 2007); Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày
25/7/2008 của Ban Chấp hành Trung ương về tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng đối với cơng tác thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh
582
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về một số vấn đề cấp bách
về xây dựng Đảng hiện nay; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 (khóa
XI) về đổi mới căn bản và tồn diện giáo dục và đào tạo... Những
chủ trương của Đảng và Nhà nước đã chứng tỏ tính đúng đắn trong
thực tiễn giáo dục, đặc biệt là khẳng định tầm quan trọng tất yếu của
các mơn khoa học Mác - Lênin trong hệ thống đào tạo ở bậc đại
học, cao đẳng. Kết luận của Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành
Trung ương khóa XI khẳng định việc thực hiện các chủ trương của
Đảng, Nhà nước về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào
tạo trong thời kỳ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đã đạt được những
583
chú trọng trong học tập, nghiên cứu triết học vì cho rằng đây chỉ là
mơn “phụ”, khơng liên quan trực tiếp đến chun ngành của mình.
Đây là điều dễ hiểu vì tâm lý sinh viên thường chỉ thích tập trung
vào các mơn học có tính chất “tay nghề”, phục vụ trực tiếp cho nghề
nghiệp của bản thân sau này. Bên cạnh đó, một bộ phận giáo viên
chính trị khi giảng dạy sinh viên các hệ đào tạo khơng chun ngành
lý luận chính trị nhiều khi cũng có tư duy như vậy. Vơ hình trung về
lâu dài điều này sẽ tạo ra tiền lệ xem nhẹ các mơn chính trị trong
giảng dạy đại học nói chung và trong các hệ đào tạo khơng chun
ngành lý luận chính trị nói riêng.
Tuy nhiên, thật ra đây là một tư duy sai và sai đặc biệt
nghiêm trọng. Triết học chính là chìa khóa cơ bản, tất yếu và khơng
thể thay thế trong việc đào tạo ra nhà khoa học, những người học
biết tư duy, tìm hiểu và giải đáp vấn đề một cách độc lập, tự chủ,
sáng tạo… Thành quả đào tạo của triết học là những người biết tìm
ra vấn đề (những người biết đặt câu hỏi cho đời sống) chứ khơng
phải đào tạo ra những người làm tốn, triết học đào tạo ra nghệ sỹ
chứ khơng phải nhạc cơng, triết học đào tạo nhà khoa học thiết kế
chứ khơng phải thợ cơ khí vận hành máy móc… Nói cách khác,
triết học là một bộ phận cơ hữu làm nên người trí thức cũng giống
như kiến thức về cây trồng của người nơng dân, kỹ năng sử dụng
máy móc của người cơng nhân và khả năng thẩm âm, kiến thức
nhạc lý của người nhạc sỹ vậy.
Triết học - khoa học tổng kết mọi khoa học, sự trừu
tượng - tổng qt hóa trí tuệ lồi người qua các thời đại.
Trong bài viết “Cuộc đấu tranh của những người Mácxít trên
thành tựu vĩ đại của khoa học tự nhiên từ thời cổ đại cho đến thế kỷ
XIX. Và cho đến nay, những ngun lý cơ bản của triết học Mác
nhằm giải thích sự tồn tại, vận động của thế giới vẫn tiếp tục chứng
tỏ được tính tương thích hồn hảo với các phát hiện mới của khoa
học tự nhiên trong lý giải nguồn gốc hình thành, sự phát triển và tồn
tại của vũ trụ; qua đó chứng minh được một cách vững chắc tính
đúng đắn của mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Khoa
học tự nhiên chính là nền tảng khơng thể thiếu để chứng minh và
quyết định tính thuyết phục của triết học. Nhưng khoa học tự nhiên
sẽ khơng thể được hệ thống và phục vụ đắc lực cho trí tuệ nhân loại
nếu khơng được triết học kết tinh.
Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa triết học và khoa
học tự nhiên trong giảng dạy khoa học lý luận chính trị:
- Quan hệ giữa khoa học tự nhiên và triết học là một quan hệ
biện chứng:
Triết học duy vật biện chứng nói chung và triết học Mác nói
riêng ngay từ khi ra đời đã là một chỉnh thể lý luận có tính chất tổng
hợp thực tiễn, là kết tinh có chọn lọc những thành tựu khoa học của
lồi người từ thời cổ đại cho đến thời điểm lý luận được đúc kết.
Triết học đi sau những thành tựu của các khoa học cơ bản (vì triết
học là kết tinh của mọi khoa học), nhưng lại có tác động trở lại, định
hướng soi đường cho nghiên cứu của các khoa học cơ bản. Có được
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA 2015
585
điều đó là vì triết học có những dự báo quan trọng dựa trên kết quả
phân tích thực tiễn của mình. Trong tác phẩm “Giai điệu bí ẩn và
con người đã sáng tạo ra vũ trụ”, tác giả Trịnh Xn Thuận - nhà vật
chưa biết này được giải đáp, tất yếu các tri thức đó sẽ được tổng kết
bởi một hệ thống lý thuyết triết học phù hợp. Có thể thấy, triết học
Mác - Lênin chính xác là một khoa học theo nghĩa như vậy, học
4
Trịnh Xn Thuận (2000), Giai điệu bí ẩn và con người đã sáng tạo ra vũ trụ, Nxb. Khoa học và
Kỹ thuật, Hà Nội.
586
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
thuyết Mác - Lênin đã thành cơng trong việc chỉ ra các quy luật phát
triển của xã hội trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại; đồng thời,
trên cơ sở lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp, học thuyết Mác Lênin đã dự báo sự khủng hoảng khơng thể tránh khỏi của chủ
nghĩa tư bản, cũng như sự ra đời của xã hội cộng sản chủ nghĩa một hình thái xã hội tiến bộ tất yếu sẽ được xây dựng trong tương
lai. Theo nghĩa này, xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa
khơng chỉ là một sản phẩm được sáng tạo ra, mà còn là một hình
thái xã hội mới được dự báo, được khám phá, được tìm ra. Đó là kết
quả của việc dự báo hợp logic dựa trên hệ thống lý thuyết đã được
lịch sử kiểm chứng là đúng đắn và phù hợp với tiến trình phát triển
của nhân loại.
Như đã phân tích, sự tiến bộ và thành tựu của khoa học tự
nhiên, cũng như trình độ phát triển của cơng nghệ đã và đang là
nhân tố có tính chất quyết định đối với sự tồn tại và hướng nghiên
cứu triết học. Ngay cả 2 vấn đề lớn trong triết học (2 câu hỏi lớn
phân chia các trường phái triết học) cũng phụ thuộc vào sự phát
nhìn xa hơn về q khứ. Bức tường Planck - với tư cách là một khái
niệm vật lý, cũng đang là bức tường chặn đứng mọi nỗ lực giải đáp
cho vấn đề vĩ đại của triết học: Vật chất và ý thức, cái nào có trước
và cái nào quyết định cái nào? Rõ ràng, với một phát biểu khách
quan nhất, vật lý học hiện đại chỉ có thể trả lời rằng: Từ thời điểm
10-44 giây đến nay là năm thứ 15 tỉ có dư trong lịch sử vũ trụ, thì vật
chất có trước (khái niệm vật chất ở đây được hiểu mở rộng theo nội
hàm của thuyết tương đối - bao hàm từ các hạt cơ bản cho đến
khơng gian và thời gian). Ngồi ra, với sự tiến bộ của y sinh học cho
thấy vật chất quyết định ý thức, ít ra là đối với dạng sự sống tồn tại
trên Trái đất. Tuy nhiên, đáp án đó tất nhiên chưa phải là một câu
trả lời thỏa đáng cho “câu hỏi lớn” của triết học. Đây là ngun
nhân cơ bản, sâu xa để triết học duy vật và duy tâm vẫn tiếp tục
song hành trên con đường lý giải ý nghĩa của tồn tại. Nghiên cứu và
giảng dạy triết học do vậy phải có một cái nhìn khách quan, cơng
bằng, có thái độ tơn trọng, cầu thị đối với những nghiên cứu dựa
trên niềm tin và thế giới quan khác mình. Đặc biệt, nhà nghiên cứu
phải có thái độ khoan dung đối với triết học tơn giáo, thần học và
các lý luận duy linh khác. Đơn giản là vì, nếu ngay cả những gì xảy
ra trong “kỷ ngun Planck” mà khoa học còn chưa lý giải được, thì
chưa thể nói đến việc giải mã những gì đã xảy ra vào thời điểm zero
và trước đó (thời điểm giây số 0 trở về trước trong lịch sử vũ trụ).
Thượng đế, thật may mắn, vẫn còn nơi cư ngụ đằng sau màn sương
mờ bí ẩn này. Tuy nhiên, khác với tư tưởng của thần học5, khoa học
hiện đại vẫn đang nỗ lực khơng ngừng nghỉ để hồn thiện một hệ
thống lý thuyết đủ mạnh nhằm tiến xa hơn nữa vào q khứ, để làm
sáng tỏ những bí mật từ thuở hồng hoang vốn đã thơi thúc lồi
Trong một phát biểu tại Vatican năm 2004, Giáo hồng John Paul II từng kêu gọi những nhà vật
lý học đang cố gắng giải mã bức tường Planck rằng: “Hãy dành khoảnh khắc sáng tạo ra vũ trụ cho
những tư tưởng mà Giáo hội Thiên Chúa giáo cho là phản bội lại
Kinh thánh. Trong bản án kết tội Galile có đoạn viết: “…Tên
Galile… bị tòa án nghi ngờ là tà giáo tức là nghi ngờ rằng ngươi đã
tin và theo cái tà thuyết đối lập với kinh thánh, một tà thuyết cho
rằng mặt trời là trung tâm của vòng quỹ đạo trái đất và mặt trời
khơng chuyển động từ đơng sang tây và rằng trái đất chuyển động
chứ khơng phải là trung tâm của thế giới… do đó ngươi phải chịu
tất cả mọi sự cải đổi và hình phạt mà luật thánh và các bộ luật cơng
và tư khác đã quy định và cơng bố…”6. Rõ ràng, dù thành tựu khoa
học tự nhiên quyết định kết quả của sứ mệnh đi tìm chân lý về vạn
vật, nhưng trong chừng mực nào đó sự tác động trở lại của triết học
đối với khoa học tự nhiên cũng vơ cùng sâu sắc. Triết học duy vật
ủng hộ tư duy cho rằng vật chất có trước và quyết định ý thức, cho
nên tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội. Tư duy này đã khai
phóng tầm nhìn của khoa học tự nhiên, mang lại hướng nghiên cứu
đúng đắn và mở rộng tầm nhìn của lồi người đến những bờ bến xa
6
Vũ Dương Ninh (2013), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb.Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, tr.303.
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA 2015
589
xơi của vũ trụ. Vật lý học hiện đại, dựa trên tư duy biện chứng duy
vật, cũng đã đủ tự tin để lý giải thuyết phục q trình hình thành,
quy luật phát triển và tồn tại của vũ trụ từ thời gian Planck đến nay.
Thậm chí các định luật vật lý hiện đại cũng chỉ ra được quy luật
phát triển trong tương lai của vũ trụ với độ chính xác có thể nói là
590
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
Hai là, khuyến khích các cơng trình nghiên cứu thuộc lĩnh
vực lý luận chính trị vận dụng, đúc kết thành tựu của khoa học tự
nhiên:
Chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ cơng nghệ, khoa
học tự nhiên đang phát triển mạnh mẽ, đạt được nhiều tiến bộ thần
kỳ với tốc độ nhanh chóng chưa từng thấy nhờ các thành tựu về
cơng nghệ thơng tin hỗ trợ. Triết học muốn tồn tại được bắt buộc
phải theo kịp các thành tựu ấy. Thực tế hiện nay cho thấy, hướng
nghiên cứu triết học ở Việt Nam hầu như chỉ mang tính xã hội, lịch
sử, tơn giáo, tư tưởng về nhà nước và chính trị là chủ yếu… Chúng
ta đang thiếu và yếu trong lý luận tổng kết thành tựu khoa học tự
nhiên để bổ trợ cho chủ nghĩa duy vật biện chứng của học thuyết
Mác - Lênin. Theo chúng tơi, đây là một thiếu sót rất cần được bù
đắp.
Để đạt được điều đó, các trường đại học và cao đẳng, kể cả
các trường khơng chun ngành về khoa học chính trị, nên khuyến
khích những hướng nghiên cứu mới của giảng viên và sinh viên.
Đặc biệt là nên có những đề tài cấp cơ sở tổng kết xu hướng áp
dụng và kết quả vận dụng phép biện chứng duy vật trong nghiên
cứu khoa học tự nhiên, đặc biệt là trong lĩnh vực vật lý lý thuyết.
Ba là, vận dụng các tri thức khoa học tự nhiên và thành tựu
cơng nghệ vào giảng dạy triết học trong các trường đại học, cao
đẳng:
thức của khoa học lý luận chính trị nói chung và triết học nói riêng
cho sinh viên - phải được đào tạo để có tri thức tồn diện, ít ra là có
kiến thức cơ bản về thành tựu của mọi khoa học, chứ khơng chỉ
thiên về kiến thức lịch sử, chính trị, xã hội như hiện nay. Nếu thiếu
lý luận khoa học, người giảng viên lý luận chính trị sẽ khơng khác
gì người truyền đạo. Nhiệm vụ của người giảng viên lý luận chính
trị khơng phải là đi rao giảng đức tin. Sứ mệnh của người giảng viên
lý luận chính trị phải là chỉ ra được thế giới quan đúng đắn để người
học lựa chọn và xây dựng cuộc đời, sự nghiệp của mình trên thế
giới quan đúng đắn đó. Do vậy, mỗi giảng viên lý luận chính trị phải
tự ý thức bồi dưỡng cho mình kiến thức khoa học tồn diện; bên
cạnh đó các trường đại học, cao đẳng cũng cần khuyến khích chính
sách học tập suốt đời, tạo điều kiện để giảng viên học hỏi, hồn
thiện bản thân, có chính sách kiểm tra chất lượng giảng dạy của
giảng viên, cũng như kịp thời động viên, khen thưởng những giáo
án sáng tạo, những phát hiện mới, hướng nghiên cứu mới mẻ trong
khoa học lý luận chính trị.
Triết học là một khoa học khó. Đó là một ngành khoa học có
tầm nhìn vĩ mơ, đòi hỏi người học, người nghiên cứu, người giảng
dạy phải tích lũy được một lượng tri thức nhất định về nhiều ngành
khoa học, đủ để tạo ra được sự chuyển biến về chất trong nhận thức
về thế giới và nhận thức về xã hội. Vì vậy, triết học là mơn học đặc
592
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
thể, quần chúng và cơng tác phát triển đảng viên trong các trường đại
học, Hà Nội.
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA 2015
593
[8] Bộ Giáo dục và đào tạo (2011), Giáo trình Những ngun lý cơ bản
của chủ nghĩa Mác - Lênin dành cho sinh viên đại học, cao đẳng khối
khơng chun ngành Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, tr.35.
[9] Bộ Khoa học và Cơng nghệ (2011), Thơng tư số 12/2012/TT-BKHCN
về tổ chức quản lý hoạt động chương trình khoa học trọng điểm cấp Nhà
nước “Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2011 - 2015”, mã
số KX.04/11-15.
[10] Stephen Hawking (2008), Lược sử thời gian, Nxb. Trẻ, Hà Nội.
[11] Vũ Dương Ninh (2013), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb.Giáo dục
Việt Nam, Hà Nội.
[12] GS.TS Trần Phúc Thắng (2014), “Cuộc đấu tranh của những người
Mácxít trên lĩnh vực tư tưởng ở nước ta hiện nay” - Tạp chí Lý luận chính
trị, số 1/2014, Hà Nội.
[13] Thủ tướng Chính phủ (2002), Nghị quyết ngày 24/6/2002 phê duyệt
đề án một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả cơng tác giảng dạy
các mơn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường
đại học, cao đẳng; mơn chính trị trong các trường trung cấp chun
nghiệp và dạy nghề, Hà Nội.
[14] Trịnh Xn Thuận (2000), Giai điệu bí ẩn và con người đã sáng tạo
ra vũ trụ, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
[15] Thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII (1999), Thơng báo số 214-TB/TW