LỜI CẢM ƠN
Sau hơn hai tháng thực tập tại Sở Nội vụ tỉnh Hòa Bình, với sự giúp đỡ của các cô
chú, anh chị trong Sở Nội vụ tỉnh Hòa Bình cùng với sự chỉ bảo tận tình của thầy cô giáo,
em đã hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp.
Trong quá trình thực tập em đã quan sát, học hỏi được nhiều điều về công việc và
kĩ năng, nghiệp vụ quản trị nhân lực cũng như trách nhiệm trong công việc, tác phong
nghề nghiệp, thái độ ứng xử làm việc nơi công sở để em vững vàng, tự tin với nghề
nghiệp mình đã chọn.
Để có thể hoàn thành bài báo cáo thực tập này, bên cạnh sự nỗ lực bản thân. Trước
hết, em xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô trường Đại học Nội vụ Hà Nội, đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình học tập. Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến
anh Bùi Việt Hà và anh Nguyễn Đình Tứ đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng
dẫn giúp em hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp.
Mặc dù em đã có nhiều cố gắng nỗ lực, tìm tòi, nghiên cứu để hoàn thiện báo cáo,
tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp tận
tình của quý thầy cô và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn!
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của cô
giáo hướng dẫn và các anh, chị trong cơ quan Sở Nội vụ tỉnh Hòa Bình. Các số liệu và
trích dẫn trong báo cáo thực tập là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và đáng tin cậy.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
STT
1
2
3
Xã hội phát triển, nguồn nhân lực đóng vai trò ngày càng quan trọng - yếu tố cơ
bản quyết định sự phát triển bền vững của mỗi tổ chức. Đặc biệt, trong thời đại ngày nay,
thời đại nền kinh tế tri thức thì nguồn nhân lực ngày càng đóng vai trò quyết định. Đảng
ta đã khẳng định “Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định”. Hơn nữa,
cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ trong xu thế hội nhập quốc tế
đòi hỏi nguồn nhân lực nước ta phải có đủ trình độ, năng lực, phẩm chất mới có thể đáp
ứng được yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Vì vậy, làm thế nào để nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức hành chính đang là
vấn đề được cấp ủy đảng, chính quyền các cấp đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo.
Đội ngũ cán bộ, công chức Sở Nộ vụ tỉnh Hòa Bình cũng không nằm ngoài dòng
chảy đó và trong những năm qua cán bộ công chức nơi đây đã không ngừng rèn luyện,
phấn đấu thực hiện tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh
tế- xã hội của đất nước trong thời kỳ mới. Để phát huy vai trò của đội ngũ công chức trong
thời kỳ mới, đòi hỏi chính quyền các cấp phải quan tâm đến công tác xây dựng đội ngũ cán
bộ,công chức. Vì lẽ đó, làm thế nào để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức “vừa hồng vừa
chuyên” vẫn còn đang là câu hỏi đặt ra cho các nhà lãnh đạo, quản lí nói chung và Sở Nội
vụ Hòa Bình nói riêng.
Và giải pháp nào để nâng cao và phát triển chất lượng cán bộ, công chức?
nhận thức được vấn đề trên, em lựa chọn đề tài “ Thực trạng và giải pháp nâng cao chất
lượng cán bộ, công chức tại Sở Nội vụ tỉnh Hòa Bình”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về CBCC và thực tiễn chất lượng
CBCC tại Sở Nội vụ tỉnh Hòa Bình, tiểu luận trong báo cáo đề xuất một số giải pháp
nhằm hoàn thiện công tác nâng cao chất lượng CBCC tại Sở Nội vụ tỉnh Hòa Bình.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lí luận liên quan đến đội ngũ CBCC và những
1.1.2.
Số điện thoại: 02183.852.108
Fax: 02183 857 904
Lịch sử hình thành
Sau 5 năm tái lập tỉnh và sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới, bước vào giai đoạn
cách mạng mới, ngành Tổ chức nhà nước tỉnh Hòa Bình đã phải gánh vác những trách
nhiệm to lớn. Ban Tổ chức chính quyền tỉnh là cơ quan chuyên môn tham mưu giúp
UBND tỉnh thực hiện chức năng Quản lý nhà nước về lĩnh vực tổ chức bộ máy, xây dựng
chính quyền, công chức, viên chức nhà nước, chính sách đối với cán bộ xã, lập hội quần
chúng và tổ chức phi chính phủ. Ban Tổ chức chính quyền tỉnh chỉ đạo về chuyên môn
nghiệp vụ, hệ thống tổ chức với phòng Tổ chức cấp huyện, thị xã và sở, ban, ngành cấp
tỉnh.
Trong 5 năm (1996-2000) thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lần
thứ XII, theo yêu cầu nhiệm vụ chính trị, lãnh đạo Ban Tổ chức chính quyền tỉnh đã có sự
thay đổi, bổ sung lớn về tổ chức bộ máy. Tháng 01 năm 2000, đồng chí Quách Thế Tản
nhận nhiệm vụ phó Chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình đồng chí Bùi Tuấn Hải được chủ tịch
UBND tỉnh bổ nhiệm làm quyền Trưởng ban, đồng chí Nguyễn Xuân Thành được bổ
nhiệm là Phó Trưởng ban. Sự thay đổi này đánh dấu sự trưởng thành năng lực uy tín của
Ban Tổ chức chính quyền tỉnh nói chung và các đồng chí ban lãnh đạo nói riêng.
Ngày 18/10/1996, UBND tỉnh Hòa Bình ra quyết định thành lập phòng chuyên môn
trực thuộc Ban Tổ chức chính quyền tỉnh. Tổng số cán bộ nhân viên của Ban thời điểm
này có 21 đồng chí được bố trí vào 3 phòng: Phòng Hành chính tổng hợp, phòng Tổ chức
công chức và phòng Xây dựng chính quyền.
Tháng 5 năm 2000, phòng Tổ chức công chức được tách ra làm hai phòng: Tổ chức
cán bộ và phòng Quản lý công chức. Việc thành lập các phòng chuyên môn của Ban Tổ
chức chính quyền khẳng định sự lớn mạnh không ngừng của đội ngũ cán bộ công chức,
sự chuyên môn hóa ngày càng rõ nét để đảm đương những nhiệm vụ chính trị ngày càng
được nâng lên, tính khả thi cao, phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội
trong tỉnh.
1.1.3. Chức năng, nhiệm vụ Sở Nội vụ
1.1.3.1. Vị trí, chức năng của Sở Nội vụ:
Sở Nội vụ là cơ quan tham mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về nội vụ, gồm: tổ chức bộ máy, biên chế các cơ quan hành chính, sự nghiệp nhà
nước; cải cách hành chính; chính quyền địa phương; địa giới hành chính; cán bộ, công
chức, viên chức nhà nước, cán bộ công chức xã, phường, thị trấn; tổ chức hội, tổ chức phi
chính phủ; văn thư lư trữ nhà nước; thi đua – khen thưởng; tôn giáo.
Sở Nội vụ có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản
lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra,
hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Nội vụ.
1.1.3.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Nội vụ:
Trình UBND tỉnh dự thảo các quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch dài hạn, hàng
năm và các đề án, dự án; chương trình thuộc phạm vi quản ký nhà nước của Sở trên địa
bàn tỉnh
Tổ chức thực hiên các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự
án, chương trình đã được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, phổ
biến, giáo dục pháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước được giao.
- Về tổ chức bộ máy:
Trình UBND tỉnh quyết định việc phân cấp quản lý tổ chức bộ máy đối với các cơ
quan chuyên môn, đơn vị sự nghiệp nhà nước thuộc UBND tỉnh, UBND các huyện, thành
phố;
Thẩm định và trình UBND tỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của
cơ quan chuyên môn, các chi cục thuộc cơ quan chuyên môn và đơn vị sự nghiệp nhà
nước thuộc UBND tỉnh; đề án thành lập, sáp nhập, giải thể các đơn vị sự nghiệp nhà nước
Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; thống kê số lượng, chất lượng đại biểu Hội đồng
nhân dân và thành viên Ủy ban nhân dân các cấp để tổng hợp, báo cáo theo quy định.
- Về công tác địa giới hành chính và phân loại đơn vị hành chính
Theo dõi, quản lý công tác địa giới hành chính trong tỉnh theo quy định của pháp luật
và hướng dẫn của Bộ Nội vụ; chuẩn bị các đề án, thủ tục liên quan tới việc thành lập, sáp
nhập, chia tách, điều chỉnh địa giới, đổi tên đơn vị hành chính, nâng cấp đô thị trong địa
bàn tỉnh để trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định; hướng dẫn và tổ chức thực hiện
sau khi có quyết định phê chuẩn của cơ quan có thẩm quyền. Giúp Chủ tịch UBND tỉnh
thực hiện, hướng dẫn và quản lý việc phân loại đơn vị hành chính các cấp theo quy định
của pháp luật;
Tổng hợp, quản lý hồ sơ, bản đồ địa giới, mốc, địa giới hành chính của cấp tỉnh theo
hướng dẫn và quy định của Bộ Nội vụ;
Hướng dẫn, kiểm tra tổng hợp báo cáo việc thực hiên quy chế dân chủ taị xã,
phường, thị trấn và các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh
theo quy định của pháp luật.
- Về cán bộ, công chức, viên chức
Giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà
nước, cán bộ, công chức cấp xã;
Tham mưu, trình UBND tỉnh ban hành các văn bản về tuyển dụng, quản lý, sử dụng,
đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức
nhà nước và cán bộ, công chức cấp xã theo quy định của pháp luật;
Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định về tiêu chuẩn chức danh và cơ cấu
cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; tuyển dụng, quản lý sử dụng công chức, viên
chức nhà nước; cán bộ, công chức cấp xã thuộc tỉnh theo quy định của pháp luật và Bộ
Nội vụ; việc phân cấp quản lý hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp
luật.
- Về cải cách hành chính
Trình UBND tỉnh quyết định phân công các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp
Trung tâm lưu trữ tỉnh và Trung tâm lưu trữ cấp huyện;
- Về công tác tôn giáo
Giúp UBND tỉnh chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các chủ trương
của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về tôn giáo và công tác tôn giáo trên địa
bàn tỉnh;
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà
nước về tôn giáo trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật;
Hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ công tác tôn giáo;
Làm đầu mối liên hệ giữa chính quyền địa phương với các tổ chức tôn giáo trên địa
bàn tỉnh.
- Về công tác thi đua – khen thưởng
Tham mưu giúp UBND tỉnh và Chủ tịch UBND chỉ đạo, thống nhất quản lý nhà
nước công tác thi đua,khen thưởng; cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp
luật nhà nước về thi đua, khen thưởng phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh; làm nhiệm
vụ thường trực của hội đồng thi đua – khen thưởng cấp tỉnh.
- Thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra về công tác nội vụ; giải quyết khiếu nại, tố
cáo, phòng chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và xử lý các
vi phạm pháp luật trên các lĩnh vực công tác được UBND tỉnh giao theo quy định của
pháp luật.
- Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về công tác nội vụ và các lĩnh vực khác được
giao đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc tỉnh, UBND cấp huyện, cấp
xã. Giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo các lĩnh vực công tác
được giao đối với các tổ chức của các Bộ, ngành Trung ương và địa phương khác đặt trụ
sở trên địa bàn tỉnh.
- Tổng hợp, thống kê theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ về tổ chức cơ quan hành chính,
đơn vị sự nghiệp; số lượng các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã; số lượng, chất lượng
đội ngũ cán bộ, công chức viên chức nhà nước, cán bộ, công chức cấp xã; công tác văn
thư lưu trữ nhà nước, công tác thi đua khen thưởng, tôn giáo và các lĩnh vực được giao
Nghị quyết Đại hội lần thứ XVI của Đảng bộ tỉnh và Nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp;
tình hình thế giới và khu vực vẫn còn có tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp, kinh tế cả
nước và tỉnh còn nhiều khó khăn, thách thức tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội.
Trước bối cảnh đó, Sở Nội vụ đã đề ra một số mục tiêu hoạt động như sau:
-Tiếp tục quán triệt tổ chức thực hiện tốt các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương và
của tỉnh, đặc biệt là thực hiện Nghị quyết trung ương khóa XII “Một số vấn đề cấp bách
về xây dựng Đảng hiện nay”; nghiêm túc tự phê bình và phê bình, thực hiện nghiêm
những điều đảng viên, cán bộ công chức, viên chức không được làm. Tham mưu giúp
UBND tỉnh thể chế hóa kịp thời các quy định của nhà nước về các lĩnh vực công tác của
ngành, nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
- Tham mưu giúp UBND tỉnh, thủ trưởng các cơ quan đơn vị đẩy mạnh thực hiện
công tác CCHC, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng thực hiện
cơ chế một cửa, một của liên thông. Hướng dẫn triển khai áp dụng chỉ số đánh giá cải
cách hành chính.
- Triển khai đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức; xác định vị trí việc làm và
cơ cấu công chức theo ngạch và cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp; nâng cao
chất lượng, hiệu quả công vụ; nâng cao chất lượng đánh giá phân loại công chức, viên
chức hàng tháng.
- Tham mưu tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở xã, phường,
thị trấn; giải quyết dứt điểm các tranh chấp địa giới hành chính nội tỉnh, ngoại tỉnh. Chủ
động phối hợp, hướng dẫn các huyện, thành phố kiên toàn thành viên HĐND, UBND các
cấp do biến động trong nhiệm kỳ.
- Tiếp tục triển khai thực hiện Luật và các văn bản hướng dẫn Luật CBCC, Luật viên
chức. Thực hiện đầy đủ các quy định về quy hoạch điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, bổ
nhiệm lại, từ chức, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, nghỉ hưu đối với cán bộ công chức
lãnh đạo quản lý. Chuyển ngạch, nâng ngạch và các chế độ chính sách đối với công chức,
viên chức. Đề xuất cơ chế phân công công tác đối với sinh viên cử tuyển tốt nghiệp về
công tác tại xã, huyện,, cơ chế thu hút nhân tài về công tác tại các cơ quan trong tỉnh.
nhau tùy theo cấp độ, yêu cầu để bố trí vào các vị trí của Sở. Thông thường nguồn nhân
lực được xác định tuyển từ hai nguồn chính:
- Tuyển người trong nội bộ Sở: Đây là nguồn lực có tay nghề, nắm rõ cách thức
làm việc, văn hóa, chính sách cũng như tính chất công việc của Sở, thông qua việc thuyên
chuyển, bổ nhiệm, thăng chức.
- Tuyển từ bên ngoài: Có thể tìm kiếm nguồn lực từ bên ngoài khi nguồn nhân lực
trong Sở không thích hợp hoặc không đáp ứng được yêu cầu công việc. Hình thức tuyển
dụng chủ yếu là thi tuyển.
1.2.4. Công tác sắp xếp, bố trí nhân lực
Công tác sắp xếp, bố trí nhân lực trong Sở nhằm sắp xếp, bố trí nhân sự sao cho
đúng người, đúng việc. Cải tiến phương thức làm việc, đảm bảo tính chuyên nghiệp, cạnh
tranh cao trong môi trường làm việc. Mỗi nhân viên sau khi được tuyển dụng sẽ có thời
gian tập sự trong vòng 1 năm ở tất cả các vị trí trong đơn vị mình sẽ làm việc. Sau khi
hoàn tất quá trình tập sự, thủ trưởng đơn vị sẽ giao cho nhân viên đảm nhiệm một lĩnh
vực công việc cụ thể.
1.2.5. Công tác đào tạo và phát triển nhân lực
Công tác đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực được tăng cường, nhất là bồi
dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, kiến thức về lý luận chính trị, quản lý nhà nước cho
cán bộ, công chức của Sở để chuẩn hóa đội ngũ cán bộ theo các ngạch công chức. Sở có
thể đạt lợi thế như lực lượng nguồn nhân lực có trình độ, năng lực sẵn sàng phục vụ cho
mục tiêu của Sở.
1.2.6. Đánh giá kết quả và thực hiện công việc
Việc đánh giá này dựa vào việc hoàn thành nhiệm vụ thuộc lĩnh vực chuyên môn
cán bộ, công chức đảm nhận và nhiệm vụ khác mà thủ trưởng cơ quan và trưởng phòng
giao. Cần phải xác định được đánh giá cái gì? Điều này sẽ giúp xác định được các tiêu
chuẩn để đánh giá, tiêu chuẩn nào đáp ứng được yêu cầu và tiêu chuẩn nào chưa đáp ứng
được. Cuối cùng Sở sẽ hướng đến việc tăng tiêu chuẩn hoạt động cho mỗi cá nhân, kết
hiểm
y
tế,
bảo
hiểm
thất nghiệp…
Ngoài các khoản thù lao vật chất thì còn có các khoản thù lao phi vật chất như cơ
quan tổ chức cho cán bộ, công chức đi thăm quan, du lịch; tổ chức các hoạt động thể dục,
thể thao, văn nghệ, tổ chức ngày 8/3, 20/10 cho cán bộ nữ, tổ chức 1/6 cho con em cán bộ
công chức trong cơ quan,…
1.2.9. Giải quyết các quan hệ lao động
Vấn đề tranh chấp lao động được giải quyết theo quy định của Bộ Luật lao động
Việt Nam, Luật cán bộ công chức, Luật viên chức và Nội quy của Sở đã được thông qua
khi cán bộ công chức kí hợp đồng với Sở.
Chương 2. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CÔNG CHỨC TẠI SỞ NỘI VỤ
TỈNH HÒA BÌNH
2.1. Cơ sở lí luận về cán bộ,công chức
2.1.1. Khái niệm cán bộ, công chức
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ,
chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức
chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi
chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng
lương từ ngân sách nhà nước (Điều 4, Luật cán bộ, công chức).
trong thực thi công vụ. CBCC cần có những kỹ năng quản lý tương ứng với nhiệm vụ
được giao để thể hiện vai trò, nhiệm vụ của công chức.
2.1.2.4. Tiêu chí về các kỹ năng quan hệ, liên quan đến khả năng giao tiếp, phối
hợp, chia sẻ và động viên, thu hút người khác với tư cách cá nhân hoặc nhóm.
2.1.2.5. Tiêu chí về kỹ năng tổng hợp, tư duy chiến lược. Công chức có khả năng
tổng hợp và tư duy trong công việc một cách linh hoạt để vận dụng vào thực tiễn. Điều
này liên quan đến khả năng nhìn nhận tổ chức như một thể thống nhất và sự phát triển
của các lĩnh vực, hiểu được mối liên hệ phụ thuộc giữa các bộ phận bên trong của tổ
chức, lĩnh vực, dự đoán được những thay đổi trong bộ phận này sẽ ảnh hưởng tới bộ
phận, lĩnh vực khác ra sao.
2.1.2.6. Tiêu chí về kinh nghiệm công tác: Kinh nghiệm công tác là tiêu chí quan
trọng để đánh giá chất lượng công chức. Kinh nghiệm là những vốn kiến thức thực tế mà
công chức tích luỹ được trong thực tiễn công tác. Kinh nghiệm là kết quả được hình
thành trong hoạt động thực tiễn. Chính kinh nghiệm đã góp phần vào việc hình thành
năng lực thực tiễn của công chức và làm tăng hiệu quả công vụ mà công chức đảm nhận.
Kinh nghiệm phụ thuộc vào thời gian công tác của công chức nói chung và thời gian
công tác ở một công việc cụ thể nào đó nói riêng của công chức. Tuy nhiên, giữa kinh
nghiệm công tác và thâm niên công tác không phải hoàn toàn tuân theo quan hệ tỷ lệ
thuận. Thời gian công tác chỉ là điều kiện cần cho tích luỹ kinh nghiệm nhưng chưa phải
là điều kiện đủ. Điều kiện đủ để hình thành kinh nghiệm công tác của công chức phụ
thuộc vào chính khả năng, nhận thức, phân tích, tích luỹ và tổng hợp của từng công chức.
2.1.2.7. Tiêu chí về sức khoẻ
Sức khoẻ của công chức được xem là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng
công chức. Vì sức khoẻ được hiểu là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội,
chứ không đơn thuần chỉ là không có bệnh tật. Sức khỏe là tổng hoà nhiều yếu tố được
tạo bởi bên trong và bên ngoài, thể chất và tinh thần. Bộ Y tế Việt Nam quy định 3 trạng
thái là: Loại A: Thể lực tốt không có bệnh tật; Loại B: trung bình; Loại C: Yếu, không có
khả năng lao động. Tiêu chí sức khoẻ đối với công chức không những là một tiêu chí
việc. Trong trường hợp này, có thể kết luận chất lượng công chức thấp, không đáp ứng
được yêu cầu nhiệm vụ được giao ngay cả khi công chức có trình độ chuyên môn đào tạo
cao hơn yêu cầu của công việc.
2.1.3. Vai trò và ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng CBCC
CBCC đóng vai trò quyết định đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong
những năm qua với việc thực hiện CCHC, vấn đề đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ
CBCC nhà nước được đặc biệt chú trọng, vì thế chất lượng đội ngũ CBCC đã không
ngừng tăng lên đáp ứng nhu cầu phát triển của đời sống xã hội.
Vậy nên, việc nâng cao chất lượng CBCC có vai trò hết sức quan trọng:
Thứ nhất, trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp cho việc thực hiện nhiệm vụ,
công vụ của CBCC.
Thứ hai, góp phần xây dựng đội ngũ CBCC chuyên nghiệp có đủ năng lực để xây
dựng nền hành chính tiên tiến, hiện đại.
Thứ ba, hoạt động nâng cao chất lượng CBCC trong các cơ quan quản lý hành
chính nhà nước là một công cụ của phát triển chức nghiệp.Với những vai trò chủ yếu sau:
- Hoàn thiện chất lượng dịch vụ cung cấp cho công dân;
- Tăng số lượng dịch vụ được cung cấp;
- Giảm chi phí hoạt động;
- Giảm nhưng sai phạm không đáng có;
- Tăng sự hài lòng của công dân với tổ chức nhà nước;
- Tạo cho cán bộ, công chức cấp sơ sở tại địa phương cập nhật kiến thức của bản
thân; bồi dưỡng để công chức thực thi tốt các văn bản pháp luật mới; cung cấp những
kiến thức về công nghệ mới; học tiếng nước ngoài; tạo ra đội ngũ công chức có chuyên
môn, kĩ năng để thực thi công vụ tốt hơn, nhằm thực hiện cải cách nền hành chính nhà
nước; phát triển năng lực để hoạch định và thực thi chính sách công; trung thành với
chính phủ trong việc thực thi chính sách; thực hiện dịch vụ định hướng khách hàng theo
hệ thống tiêu chuẩn; áp dụng kỹ năng quản lý mới; hoàn thiện đạo đức công chức nhằm
chống tham nhũng;
Chế độ chính sách bao gồm chế độ tiền lương và các chế độ chính sách đãi ngộ
với CBCC. Trong cơ chế thị trường hiện nay thì chế độ, chính sách ảnh hưởng trực tiếp
đến chất lượng đội ngũ CBCC. Thực tế cho thấy khi thu nhập con người không tương
xứng công sức của họ bỏ ra hoặc không có chế độ chính sách đãi ngộ thỏa đáng ngoài
tiền lương đối với CBCC hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao thì họ dễ sinh ra chán
nản, thiếu trách nhiệm đối với công việc, thậm chí còn là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn
như tham nhũng, hối lộ. Vì vậy, nếu chế độ tiền lương là hình thức đầu tư trực tiếp cho
con người, đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội thì chắc chắn sẽ góp phần nâng cao chất
lượng CBCC.
2.1.4.4. Công tác quản lí, kiểm tra, giám sát
Quản lí, kiểm tra, giám sát CBCC về các mặt nhận thức tư tưởng, năng lực, công
tác, các mối quan hệ xã hội, đạo đức, lối sống...là những nội dung vô cùng khó khăn và
phức tạp. Vì mỗi CBCC có hoàn cảnh công tác, mối quan hệ xã hội khác nhau. Tuy nhiên
nếu làm tốt công tác này thông qua các hình thức kiểm tra, giám sát như của cơ quan, của
nhân dân, của chi bộ nơi cán bộ, công chức đang cư trú thì sẽ góp phần rất lớn trong việc
nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC.
2.2. Thực trạng chất lượng đội ngũ CBCC tại Sở Nội vụ tỉnh Hòa Bình
2.2.1. Số lượng CBCC Sở Nội vụ tỉnh Hòa Bình
Tổng số công chức Sở Nội vụ có mặt tại thời điểm tháng 02/2016 là 68 người, chia ra:
-
Lãnh đạo (Giám đốc và các Phó Giám đốc): 04 công chức;
Văn phòng Sở: 09 công chức;
Thanh tra: 05 công chức;
Phòng công chức, viên chức: 07 công chức;
Phòng xây dựng chính quyền và công tác thanh niên: 08 công chức;
Phòng tổ chức, biên chế và tổ chức phi chính phủ: 06 công chức;
Phòng cải cách hành chính: 04 công chức;
26
38%
Nguồn: Báo cáo số lượng, chất lượng CBCC năm 2016
Qua bảng ta thấy cơ cấu theo độ tuổi tại sở Nội vụ có sự chênh lệch giữa nam và
nữ, nam nhiều hơn chiếm 62% . Cơ cấu như vậy cũng đem lại một vài hạn chế như: Số
công chức nữ chiếm tỉ lệ cao, lại đang trong độ tuổi sinh con nên ảnh hưởng đến thời gian
lao động; Trình độ chuyên môn của một số bộ phận công chức tuy cao về tỉ lệ nhưng
chuyên ngành đào tạo của một số công chức chưa đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm.
2.2.1.2. Thực trạng CBCC theo độ tuổi
Bảng 2.3: Bảng tổng hợp số lượng CBCC phân theo độ tuổi tại Sở Nội vụ tỉnh
Hòa Bình (đơn vị tính: người)
Phân theo độ tuổi
Tổng số
CBCC
68
Dưới 30 tuổi
Số
lượng
6
Tỷ lệ
%
9%
30%
14
20
%
Nguồn: Báo cáo số lượng, chất lượng CBCC năm 2016
Qua biểu đồ thực trạng về độ tuổi của cán bộ, công chức Sở Nội vụ tỉnh Hòa Bình,
chúng ta thấy rằng tỷ lệ cán bộ, công chức trẻ chiếm tỷ lệ nhỏ (chỉ 9%), nếu không cải tiến
phương thức tuyển dụng thì trong thời gian tới sẽ có sự mất cân đối về chất lượng và tuổi
đời, vì vậy cần thiết phải có kế hoạch tuyển chọn, đổi mới phương thức tuyển dụng để bổ
sung vào đội ngũ CBCC tại Sở những người trẻ, giỏi, đủ phẩm chất, phải thực hiện tốt
công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ cho công chức trẻ thì mới có thể đáp ứng
được yêu cầu nhiệm vụ. Bộ phận cán bộ, công chức độ tuổi từ 30 đến 50 chiếm 71%, đây
là tỷ lệ lao động thể hiện sức trẻ trong đội ngũ cán bộ, công chức tại Sở. Tuy nhiên, bên
cạnh đó lực lượng cán bộ, công chức ở độ tuổi 50-60 chiếm 20% là cao. Một bộ phận cán
bộ, công chức ở tuổi này có sức ỳ trong công tác, mức độ thích ứng nhanh với những thay
đổi của thời đại công nghệ thông tin, thời kỳ mở cửa là không cao.
2.2.1.3. Thực trạng CBCC theo cơ cấu ngạch công chức
Bảng số 2.4: Bảng tổng hợp số lượng cán bộ, công chức tại Sở Nội vụ tỉnh Hòa
Bình theo ngạch công chức (đơn vị tính: người)