TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
KẾ TOÁN QUỐC TẾ
ÁP DỤNG LẦN ĐẦU CHUẨN MỰC IFRS
TRONG DOANH NGHIỆP –
NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
HỌC VIÊN: Trương Á Bình
MSHV: 7701250350A
LỚP: 16C1ACC52201
KHÓA 25 (2015 – 2017)
GVHD: TS. Phạm Quang Huy
TP. HCM, tháng 08 năm 2016
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
..................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................
TP Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2016
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới. Việc áp dụng
IFRS không chỉ gói gọn vào các công ty con của các tập đoàn đa quốc gia ở Việt Nam mà
bắt đầu có ảnh hưởng đến công ty Việt Nam. Việc lập BCTC theo IFRS phản ánh giá trị
hợp lý của doanh nghiệp. Các công ty Việt Nam vẫn áp dụng VAS nhưng việc hiểu biết
IFRS giúp chủ doanh nghiệp có cái nhìn tốt hơn về giá trị doanh nghiệp của mình đặc biệt
trong các trường hợp mua bán, sát nhập, có thêm cổ đông mới,… Đối với các nghiệp vụ
phức tạp, VAS và các quy định có liên quan có thể chưa có hướng dẫn cụ thể. Việc hiểu
biết IFRS giúp doanh nghiệp có cách áp dụng hợp lý hơn.
Chuẩn bị cho việc thay đổi của chuẩn mực Việt Nam trong tương lai gần theo chiều
hướng hội nhập quốc tế. IFRS là ngôn ngữ tài chính chung được sử dụng toàn cầu. Việc
hiểu biết IFRS giúp doanh nghiệp có những thông tin hữu ích về các doanh nghiệp khác
trong ngành, có mức độ hoạt động tương đương ở các nước khác. Riêng đối với doanh
nghiệp FDI mà công ty mẹ sử dụng IFRS thì việc biết và áp dụng IFRS là một yêu cầu bắt
buộc để nhằm phục vụ cho việc hợp nhất báo cáo của công ty mẹ (Đặng Quốc Tuấn,
2012). Các nước trên thế giới đã lần lượt chuyển đổi sang áp dụng IFRS, Việt Nam cũng
đang trong tiến trình điều chỉnh sửa đổi văn bản, mong muốn hội tụ với IFRS trong tương
lai gần. Nhận thấy được tầm quan trọng của việc áp dụng IFRS trong thời đại ngày nay
cũng như thực trạng áp dụng IFRS tại các quốc gia trên thế giới và Việt Nam, tác giả
quyết định chọn đề tài “Áp dụng lần đầu IFRS trong doanh nghiệp – nghiên cứu trên
thế giới và Việt Nam” làm đề tài tiểu luận của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của tiểu luận là tìm hiểu quá trình áp dụng lần đầu IFRS trên thế giới và
phương pháp nghiên cứu định tính như: phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánh…
6. Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu là một phần quan trọng không thể thiếu để tạo nên độ tin cậy
cũng như tính thuyết phục của tiểu luận. Do thời gian có hạn, để đáp ứng được mục tiêu
nghiên cứu của tiểu luận, tác giả sử dụng chủ yếu sử dụng dữ liệu thứ cấp.
7. Những đóng góp của đề tài
− Nghiên cứu một vài nghiên cứu trong và ngoài nước để nhận biết các vấn đề cấp
thiết, đồng thời xem xét các vấn đề này tại Việt Nam.
− Nhận thấy được thực trạng đã và đang áp dụng IFRS trong doanh nghiệp ở các
nước trên thế giới. Từ đó nhìn lại Việt Nam, nước ta có định hướng gì trong tương
lai và đã làm gì để đạt được mục tiêu này.
−
Dựa trên thực trạng này, có cái nhìn tổng quát về những vấn đề bất cập trong các
quy định hiện tại, từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp thúc đẩy quá trình hội tụ
với Chuẩn mực kế toán quốc tế.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, tiểu luận gồm 4 chương:
− Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
− Chương 2: Cơ sở lý luận
− Chương 3: Thực trạng áp dụng lần đầu IFRS trong doanh nghiệp trên thế giới và
Việt Nam
− Chương 4: Kết luận – Kiến nghị
[8]
chuẩn được ban hành theo IASC (IASs) với những chuẩn mực được ban hành sau đó
(IFRS) trở thành khung pháp lý IFRS. Hội đồng cũng quy định các thủ tục rõ ràng để tất
cả các doanh nghiệp áp dụng theo một khuôn khổ hợp nhất. Vì vậy, nghiên cứu này đánh
giá mức độ mà ngành ngân hàng Nigeria tuân thủ các yêu cầu được quy định trong IFRS
1: Lần đầu tiên áp dụng IFRS. Sử dụng các nhân tố trước đây và khảo sát, nghiên cứu sử
dụng các nguồn dữ liệu từ bảng câu hỏi có cấu trúc và các báo cáo tài chính đã được kiểm
toán gần đây của các ngân hàng được lấy mẫu. Tính hệ thống chấm điểm (QGS) đã được
sử dụng trong việc xác định mức độ tuân thủ của các ngân hàng trong khi đa biến hồi quy
và kiểm tra Chi bình phương đã được sử dụng trong việc đo lường tác động của các yếu
tố đến việc tuân thủ và xác định những khó khăn có thể xảy ra trong quá trình tương ứng.
Nghiên cứu kết luận rằng, ngành ngân hàng Nigeria tuân thủ bán triệt để với các yêu cầu
của khung pháp lý IFRS nhưng việc thực hiện vẫn còn phải đối mặt với một số thách thức
bao gồm: Thiếu kiến thức sâu sắc IFRS từ các nhà lập báo cáo tài chính. Nghiên cứu cũng
tìm thấy tính tuân theo, toàn cầu hóa và đáp ứng nhu cầu của người sử dụng cũng là các
yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến mức độ tuân thủ của ngân hàng Nigeria với khung pháp lý
IFRS.
Nghiên cứu của Naif (2015) được xây dựng trên hệ thống gồm các nghiên cứu trong
lĩnh vực học thuật về kế toán, tài chính và kinh tế. Nghiên cứu khám phá các bối cảnh và
việc áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) ở các nước khác nhau; phân
tích chi phí và lợi ích liên quan đến việc ứng dụng thực tế của IFRS trong báo cáo của
công ty ở các nước đó đã quyết định áp dụng IFRS; một trường hợp đặc biệt của sự hội tụ
và có thể áp dụng của Hoa Kỳ được phân tích cụ thể. Nghiên cứu trình bày chi tiết các
mối đe dọa và thách thức đối với việc áp dụng thành công IFRS, đồng thời cũng kiểm tra
các vấn đề đang nổi lên trong việc áp dụng IFRS.
1.2. Các nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu của Phạm Hoài Hương (2014) đã tổng quan các nghiên cứu về ảnh
hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị, pháp luật, tài chính và nghề nghiệp kế toán đến
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1. Khái niệm Chuẩn mực kế toán quốc tế
Chuẩn mực kế toán quốc tế (viết tắt là IAS/IFRS): là một Hệ thống chuẩn mực kế
toán quốc tế bao gồm 08 Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và 30 chuẩn mực
kế toán quốc tế (IAS) do Hội đồng Chuẩn mực kế toán quốc tế (gọi tắt là IASB) - tiền
thân là Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (gọi tắt là IASC) ban hành.
2.2. Lịch sử hình thành
Năm 1973, Ủy ban xây dựng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) đã ra đời tại
London, nước Anh với tư cách là tổ chức soạn thảo chuẩn mực quốc tế đầu tiên trên thế.
Sự ra đời của IASC là kết quả của một thỏa thuận giữa các hiệp hội nghề nghiệp của các
nước Autralia, Canada,Pháp, Đức, Nhật, Mexico, Phần Lan, Anh, Ireland và Mỹ.
Năm 1987 đánh dấu một bước chuyển mới trong nỗ lực thúc đẩy việc sử dụng các
chuẩn mực quốc tế của IASC. Được sự ủng hộ và khích lệ từ ủy ban chứng khoán Mỹ
(US SEC), tổng thư ký IASC, ông David Cairns, đã ký một thỏa thuận với tổ chức thế
giới các ủy ban chứng khoán (IOSCO). Theo đó, IASC sẽ xem xét sửa đổi các chuẩn mực
kế toán quốc tế hiện có của mình để có thể thỏa mãn nhu cầu của IOSCO là cần có một
tập hợp các chuẩn mực làm cơ sở chung cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính của
các công ty muốn được niêm yết trên thị trường chứng khoán nước ngoài.
IASC đã hoàn thành việc sửa đổi các chuẩn mực kế toán quốc tế vào năm 1993. Thế
nhưng, IOSCO đã đưa ra một quyết định làm cho IASC vô cùng thất vọng. Thay vì sử
dụng toàn bộ bộ chuẩn mực kế toán quốc tế do IASC soạn thảo, IOSCO chỉ lựa chọn một
số chuẩn mực để áp dụng.
Đến năm 1995, IASC với một ban lãnh đạo hoàn toàn mới đã tiến hành xem xét và
sửa đổi một lần nữa các chuẩn mực kế toán quốc tế đã được ban hành với mong muốn
khắc phục những khiếm khuyết trong các chuẩn mực kế toán đó. Lần này, với rất nhiều nỗ
lực và nhượng bộ, bộ chuẩn mực kế toán quốc tế đã được sửa đổi của IASC đã được
IOSCO chấp nhận vào phụ lục nhưng đó chỉ mới là sự chấp nhận tạm thời.
Năm 2000 có thể nói là một năm có nhiều biến động với IASC. Tháng 5 năm 2000,
các thành viên IOSCO đã bỏ phiếu chấp nhận chính thức tất cả các chuẩn mực kế toán
quốc tế của IASC.
Bộ phận hoạt động
IAS 29
IAS 1
Trình bày báo cáo tài chính
IAS 30
IAS 2
IAS 7
Hàng tồn kho
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán và
các sai sót
Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế
toán năm
Hợp đồng xây dựng
Thuế thu nhập doanh nghiệp
Báo cáo bộ phận
Máy móc, thiết bị, nhà xưởng
Thuê tài sản
Doanh thu
Quyền lợi của nhân viên
IAS 31
IAS 32
IAS 41
Giảm giá trị tài sản
Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng
Tài sản vô hình
Các công cụ tài chính: Ghi nhận và xác định
Bất động sản đầu tư
Nông nghiệp
IFRS 1
IFRS 2
IFRS 3
IFRS 4
IFRS 5
IAS 8
IAS 10
IAS 11
IAS 12
IAS 14
IAS 16
IAS 17
IAS 18
IAS 19
IAS 20
IAS 21
IAS 23
IAS 24
IAS 26
Như vậy có thể thấy, về nguyên tắc chung EU áp dụng hoàn toàn với IAS/IFRS tuy
nhiên việc EU thông qua từng IAS/IFRS tạo nên hệ thống chưa thật sự đồng bộ so với
IAS/IFRS bởi còn một số IAS/IFRS và các hướng dẫn chưa được thông qua. Vì vậy tính
thống nhất trong hệ thống chuẩn mực chưa hoàn chỉnh. Do đó, CMKT của các quốc gia
EU cũng khó được nhất quán và điều này dẫn đến việc áp dụng các nguyên tắc, qui định
kế toán vào thực tế của các công ty sẽ tạo ra những khác biệt nhất định.
3.1.2. Mỹ
Hoạt động hướng tới hội tụ của Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính của Mỹ
(FASB) từ những năm 2002 - 2004 phải kể đến là thỏa hiệp Norwalk giữa IASB và FASB
để phát triển chuẩn mực chất lượng cao. Thỏa hiệp đã nhất trí các nội dung cơ bản là tiếp
tục hợp tác trong tương lai; thực hiện những dự án chung; hạn chế những khác biệt giữa
[13]
nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung của Mỹ (US GAAP) và IAS/IFRS. Tuy nhiên,
quá trình hợp tác là một thử thách lớn bởi tính pháp lý, sự can thiệp của các tổ chức thể
chế chính trị, kinh tế, văn hóa… ảnh hưởng nhất định đến lộ trình hội tụ. Một trong những
vấn đề gây cản trở đó là hệ thống kế toán của Mỹ trên cơ sở qui định (rules-based) trong
khi IAS/IFRS theo những nguyên tắc (priciples-based). Bên cạnh đó, hệ thống kế toán của
Mỹ thực thi theo các qui định nên được hướng dẫn một cách chi tiết trong khi IAS/IFRS
hạn chế những hướng dẫn. Ngoài ra hệ thống kế toán Mỹ bị chi phối bởi luật chứng
khoán… Quá trình hội tụ cho thấy nhiều vấn đề khó khăn nhất định.
Mặc dù tiến trình hội nhập gặp những khó khăn nhất định nhưng Ủy ban chứng
khoán Mỹ (SEC) đã có những động thái tích cực đối với IAS/IFRS. FASB và SEC đã thảo
luận các vấn đề liên quan đến hội tụ kế toán quốc tế và cũng đã có các buổi họp định kỳ
giữa FASB, SEC và IASB để thảo luận hướng phát triển trong thỏa hiệp Norwalk. Ngoài
ra, sự hội tụ của Mỹ thông qua SEC đã thấy sự chủ động của Mỹ khi hướng tới hệ thống
chuẩn mực quốc tế. Trước đây, các công ty niêm yết sử dụng BCTC khác với Mỹ, khi
niêm yết BCTC phải trình bày sự khác biệt lợi nhuận và vốn chủ sở hữu giữa GAAP của
quốc gia báo cáo với US GAAP thông qua mẫu 20F (Form 20F). Thời gian gần đây, tiến
khuôn mẫu lý thuyết ban hành năm 1992 được thay thế bởi 16 CMKT và những qui định
khác như hệ thống kế toán cho hoạt động doanh nghiệp (ASBE) ban hành 2001. Mục đích
của ASBE là so sánh thông tin tài chính, hạch toán tách biệt giữa thuế và kế toán, đảm
bảo hội nhập với thực hành kế toán được chấp nhận bởi quốc tế. Tuy nhiên, trước sức ép
hội nhập kinh tế thế giới, Trung Quốc đã chấp nhận xây dựng hệ thống CMKT mới theo
hướng hội tụ kế toán quốc tế trên cơ sở IAS/IFRS gồm 38 CMKT có hiệu lực từ ngày
1.1.2007. Việc chuyển đổi chuẩn mực Trung Quốc gần với IAS/IFRS nhưng chuẩn mực
mới không phải dịch lại theo IAS/IFRS mặc dù vẫn dựa trên nền tảng, nguyên tắc cơ bản.
Nhìn chung, xét về hệ thống chuẩn mực, CMKT Trung Quốc đã hình thành trên nền tảng
của IAS/IFRS. Gần đây, BTC của Trung Quốc tuyên bố quốc gia này áp dụng đầy đủ theo
IFRS nhưng có một số loại trừ. Đồng thời BTC cho biết tất cả các công ty có qui mô lớn
và vừa sẽ phải áp dụng theo CMKT từ năm 2012.
3.2. Những việc Việt Nam đã làm để có thể hội tụ IFRS
Tại hội thảo “Cập nhật thông tin chế độ kế toán doanh nghiệp” diễn ra ngày
21/4/2015, tại Hà Nội do Sở GDCK Hà Nội và Sở GDCK TP Hồ Chí Minh phối hợp với
Vụ Chế độ kế toán, Bộ Tài chính tổ chức, thông tin được công bố là Chính thức áp dụng
[15]
IFRS tại Việt Nam từ năm 2016 (taichinhdientu.vn, 2015). Từ trước đến nay, trong thực tế
Việt Nam đã làm được một số công việc để có thể hội tụ với IFRS như sau:
- Trong những năm qua, Việt Nam đã nghiên cứu và học tập nội dung các chuẩn
mực kế toán quốc tế để áp dụng vào thực tiễn nền kinh tế Việt Nam và đã xây dựng
được 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam trên nền tảng của chuẩn mực kế toán quốc tế đáp
ứng kịp thời cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam và quốc tế.
- Bên cạnh việc ban hành hệ thống 26 chuẩn mực kế toán thì hệ thống các văn bản
pháp luật có liên quan cũng khá hoàn chỉnh, từ văn bản cao nhất điều chỉnh lĩnh vực
hoạt động này là Luật Kế toán đến các Thông tư hướng dẫn chuẩn mực, các chế độ kế
toán doanh nghiệp.
- Đội ngũ những người hành nghề kế toán, kiểm toán Việt Nam ngày càng phát
tách biệt kỹ thuật kế toán trên tài khoản và báo cáo tài chính và đặc biệt đề cao trách
nhiệm của người hành nghề.
Lộ trình thực hiện chính thức áp dụng IFRS tại Việt Nam sẽ bắt đầu từ năm 2016.
Việc hội nhập toàn bộ một lần với IFRS được xem là không thể thực hiện được trong
điều kiện của Việt Nam. Trên cở sở học tập kinh nghiệm của các nước, chiến lược hội
nhập từng phần với IFRS được xem phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Mục tiêu trước
mắt là chỉ hội tụ trong khu vực công ty niêm yết, các tổ chức hoạt động trong các ngành
nhạy cảm như ngân hàng, bảo hiểm … và báo cáo tài chính hợp nhất. Đối với các
doanh nghiệp còn lại thì không bắt buộc và cho phép giảm bớt một số yêu cầu phức tạp
của chuẩn mực. Vẫn duy trì hệ thống tài khoản kế toán thống nhất nhưng tăng tính linh
hoạt để các doanh nghiệp thuận lợi hơn khi áp dụng IFRS. Việc triển khai áp dụng IFRS
cần có sự quyết tâm và tổ chức thực hiện của lãnh đạo doanh nghiệp bởi IFRS không chỉ
quy định về việc lập báo cáo tài chính, quy trình kế toán mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ
hoạt động của doanh nghiệp.
[17]
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
4.1. Định hướng phát triển chuẩn mực kế toán Việt Nam hòa hợp với chuẩn mực kế
toán quốc tế
Có thể nói rằng, việc áp dụng IAS/IFRS đã mở ra một thời kỳ mới làm thay đổi
cách thức ghi nhận, đo lường và trình bày các yếu tố của BCTC, loại trừ sự khác biệt
trong chuẩn mực kế toán, là điều kiện để đảm bảo các doanh nghiệp và tổ chức trên toàn
thế giới áp dụng các nguyên tắc kế toán một cách thống nhất trong lập và trình bày
BCTC. IAS/IFRS được chấp nhận như chuẩn mực lập BCTC cho các công ty tìm kiếm
sự thừa nhận trên thị trường chứng khoán thế giới. Việc sử dụng IAS/IFRS mang lại
những lợi ích khá rõ, như: tiết kiệm chi phí soạn thảo chuẩn mực và nhanh chóng hòa
nhập vào chuẩn mực kế toán quốc tế được chấp nhận; sự hội nhập về kế toán giúp cho
các công ty huy động vốn trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, việc áp dụng IAS/IFRS
ban hành cho phù hợp với những thay đổi của IAS/IFRS và thực tiễn hoạt động kinh
doanh tại Việt Nam.
Thứ ba, nhằm đáp ứng kịp thời sự đổi mới và phát triển của nền kinh tế, cần sớm
ban hành 5 chuẩn mực kế toán liên quan đến các đối tượng và giao dịch đã phát sinh
trong đời sống kinh tế, bao gồm: Thanh toán bằng cổ phiếu (IFRS 02); Tìm kiếm, thăm
dò và xác định giá trị các nguồn tài nguyên khoáng sản (IFRS 06); Công cụ tài chính
(IFRS 7; IFRS 9); Các khỏan tài trợ của Chính phủ (IAS 20): Tổn thất tài sản (IAS 36).
Một số chuẩn mực cũng cần có bước chuẩn bị để ban hành trong thời gian tiếp theo như:
Tài sản nắm giữ để bán và hoạt động kinh doanh không liên tục; Phúc lợi của nhân viên;
Nông nghiệp.
Thứ tư, Việt Nam cần từng bước tiếp tục hoàn thiện môi trường kinh tế và luật pháp
phù hợp với yêu cầu của IAS/IFRS. Chẳng hạn như thị trường giao dịch tài sản cần phải
“minh bạch” và “hoạt động” để có thể sử dụng giá trị hợp lý làm cơ sở đo lường giá trị tài
sản…
[19]
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu Tiếng Việt
1. Đặng Quốc Tuấn (2012). Trình bày báo cáo tài chính theo chuẩn mực báo cáo tài
chính quốc tế (IFRS). Cập nhật kiến thức hành nghề kế toán. Hội Kế toán TP. Hồ
Chí Minh ngày 30/10/2012.
2. Phạm Hoài Hương (2014). Việt Nam có các điều kiện thuận lợi để áp dụng chuẩn
mực kế toán quốc tế IAS/IFRS?. Tạp chí Kinh tế - Phát triển, số 199, tháng 01 năm
2014.
3. Nguyễn Xuân Hưng và Hồ Xuân Thủy (2015). Định hướng xây dựng chuẩn mực
báo cáo tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam hòa hợp với chuẩn mực
báo cáo tài chính quốc tế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tạp chí phát triển KH –
2. Irina Doina Pascan and Mioara Turcas (2012). Measuring the impact of first-time
adoption of International Financial Reporting Standards on the performance of
Romanian listed entities. Procedia Economics and Finance 3 ( 2012 ) 211 – 216.
Selection and peer review under responsibility of Emerging Markets Queries in
Finance and Business local organization.
3. Naif Mansour M. Mathkur (2015). Worldwide Adoption of International Financial
Reporting Standards (IFRSs). Research Journal of Finance and Accounting
www.iiste.org. ISSN 2222-1697 (Paper) ISSN 2222-2847 (Online). Vol.6, No.7,
2015
4. Sani Saidu and Umar Dauda (2014). An Assessement of Compliance with IFRS
Framework at First-Time Adoption by the Quoted Banks in Nigeria. Journal of
Finance and Accounting, 2014, Vol. 2, No. 3, 64-73.
Available online at http://pubs.sciepub.com/jfa/2/3/3 © Science and Education
Publishing.
[21]