Tiểu luận môn kế toán quốc tế quá trình phát triển và phân tích nội dung IAS 23 về chi phí đi vay - Pdf 38

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
KẾ TOÁN QUỐC TẾ

ĐỀ TÀI 29: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN TÍCH NỘI DUNG IAS
23 VỀ CHI PHÍ ĐI VAY

GVHD: Thầy Phạm Quang Huy
SVTH: Nguyễn Thi Thái Hà

TP.HCM, THÁNG 08-2016


LỜI CẢM ƠN

Chi phí đi vay là một khoản chi chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng chi phí sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Việc hiểu rõ, tính toán và ghi nhận đúng tỷ trọng vốn vay,
các chi phí đi vay và sử dụng một cách có hiệu quả đồng vốn nhất đang là vấn đề nhận
được rất nhiều sự quan tâm từ phía các doanh nghiệp. Riêng trong lĩnh vực kế toán để
cung cấp, phân tích các dữ liệu cung cấp cho các nhà quản trị để đưa ra các quyết định tối
ưu hóa chi phí trong đó có đi vay thì chúng ta cũng cần phải có một hệ thống kế toán đủ
mạnh và hội nhập. Đây vẫn luôn là vấn đề đầy thách thức đối với các nhà hoạch định.
Việc tìm hiều và quá trình phát triển và nội dung IAS 23 - chuẩn mực kế toán
quốc tế về chi phí đi vay giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc và toàn diện, hiểu rõ bản chất
của chuẩn mực. Từ đó chúng ta liên hệ áp dụng thực tiễn, so sánh tại Việt Nam, góp phần
nào đó trong việc áp dụng đúng chuẩn mực này cũng như đưa ra những kiến nghị giúp
chuẩn mực kế toán Việt Nam tiến gần hơn với chuẩn mực kế toán quốc tế.
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu không thể tránh khỏi sai sót, kính mong
nhận được sự quan tâm, góp ý từ thầy, cô, các bạn cùng những đọc giả quan tâm để bài
nghiên cứu ngày càng hoàn thiện hơn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Thầy Phạm Quang Huy đã giúp đỡ, định hướng



DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

IAS

: Chuẩn mực kế toán quốc tế

IASC

: Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế

BCTC

: Báo cáo tài chính

IAS 23

: Chuẩn mực kế toán quốc tế về chi phí đi vay

VAS 16

: Chuẩn mực kế toán Việt Nam về chi phí đi vay

TNHH

: Trách nhiệm hữu hạn

IASB


cao, phản ánh sai lệch kết quả tài chính của doanh nghiệp. Vì vậy việc tìm hiều chuẩn
mực thế giới về chi phí đi vay là cần thiết để nắm được cách thức mà quốc tế hiện đang
ghi nhận chi phí đi vay như thế nào giúp người thực hành công tác kế toán nắm rõ bản
chất, phương pháp ghi nhận theo quy định quốc tế, nhất là khi làm việc tại các công ty đa
quốc gia.

6


Mục tiêu của bài tiểu luận tìm hiểu quá trình phát triển cũng như phân tích làm rõ
nội dung của IAS 23 chuẩn mực kế toán quốc tế về chi phí đi vay.

II) TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
Nội dung bài tiểu luận chi hướng đến gói gọn trong việc giúp người đọc hiểu được
quá trình hình thành cũng như bản chất nội dung của IAS 23 nhắm ứng dụng được những
hiểu biết đó vào thực tiễn công tác sau này. Sau đây bài viết cũng tóm tắt sơ lược lại các
nghiên cứu trước đó có phân tích đề cập đến nội dung của IAS 23.
Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết: IAS là chuẩn mực kế toán quốc tế, áp dụng
chung nhất. Mỗi quốc gia sẽ tự xây dựng cho mình bộ chuẩn mực riêng bằng cách xây
dựng độc lập hoặc tham khảo nội dung của IAS. Hầu như bộ chuẩn mực của các nước là
tham khảo IAS, có nước vận dụng một phần, có nước áp dụng hầu như toàn bộ, cũng có
nước lấy trọn bộ 100%. Ở Việt Nam theo đánh giá vận dụng đến 95% chuẩn mực kế
toán quốc tế “Vấn đề áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế đối với các ngân hàng thương
mại Việt Nam” - ngày 18/06/2007..
Qua nghiên cứu quá trình hội nhập của các nước, chúng tôi nhận thấy có nhiều
nước xây dựng chuẩn mực kế toán quốc gia họ trên cơ sở tham khảo IAS. Và hầu như các
nước đều có những nghiên cứu so sánh chuẩn mực kế toán quốc gia họ với IAS/ IFRS để
hoàn thiện dần chuẩn mực kế toán quốc gia họ, và thúc đấy quá trình hội nhập sâu hơn.
Các công ty đa quốc gia, đặc biệt là các công ty trong lĩnh vực kiểm toán, họ thường
xuyên cập nhật thông tin, chuyển giao đào tạo nội bộ các nhân viên của mình về IAS/

thỏa thuận của 63 tổ chức kế toán chuyên nghiệp từ 49 nước. Với mục đích: phát triển và
nâng cao sự phối hợp nghiệp vụ kế toán trên phạm vi toàn thế giới với những chuẩn
mực thống nhất. Lúc này, IASC đã phải đấu tranh quyết liệt để kháng cự lại những nỗ lực
muốn biến IASC thành thành viên của IFAC và IASC đã thành công trong việc duy trì
vai trò của mình là tổ chức soạn thảo chuẩn mực kế toán quốc tế duy nhất trên thế giới.
Tuy nhiên, IASC lại gặp khó khăn trong việc thuyết phục mọi người sử dụng các chuẩn
mực do chính mình soạn thảo ra. Dù cho các thành viên của IASC đã cam kết thúc đẩy
việc sử dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế ở mỗi quốc gia nhưng trên thực tế thì một số
hiệp hội nghề nghiệp thành viên lại ít có ảnh hưởng trong việc soạn thảo các chuẩn mực
kế toán quốc gia, một số hiệp hội thành viên lại ưa chuộng chuẩn mực kế toán của quốc
gia mình hơn là những chuẩn mực kế toán do IASC soạn thảo và ban hành. Những nỗ lực
tìm kiếm sự tiếp nhận của cộng đồng thế giới đối với những chuẩn mực kế toán quốc tế
8


của IASC. Năm 1987 đánh dấu một bước chuyển mới trong nỗ lực thúc đẩy việc sử dụng
các chuẩn mực quốc tế của IASC. Được sự ủng hộ và khích lệ từ ủy ban chứng khoán Mỹ
(US SEC), tổng thư ký IASC, ông David Cairns, đã ký một thỏa thuận với tổ chức thế
giới các ủy ban chứng khoán (IOSCO). Theo đó, IASC sẽ xem xét sửa đổi các chuẩn mực
kế toán quốc tế hiện có của mình để có thể thỏa mãn nhu cầu của IOSCO là cần có một
tập hợp các chuẩn mực làm cơ sở chung cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính của
các công ty muốn được niêm yết trên thị trường chứng khoán nước ngoài. Đến năm 1995,
IASC với một ban lãnh đạo hoàn toàn mới đã tiến hành xem xét và sửa đổi một lần nữa
các chuẩn mực kế toán quốc tế đã được ban hành với mong muốn khắc phục những
khiếm khuyết trong các chuẩn mực kế toán đó. Lần này, với rất nhiều nỗ lực và nhượng
bộ, IASC đã sửa đổi bộ chuẩn mực kế toán quốc tế và được tổ chức thế giới các ủy ban
chứng khoán (IOSCO) chấp nhận nhưng đó chi mới là sự chấp nhận tạm thời. Mốc son
năm 2000 Tháng 5 năm 2000, các thành viên tổ chức thế giới các ủy ban chứng khoán
(IOSCO) đã bỏ phiếu chấp nhận chính thức tất cả các chuẩn mực kế toán quốc tế của
IASC. Đây là một bước tiến đáng kể sau rất nhiều nỗ lực kiên trì và bền bi của các thành

dẫn cần được sự tán thành của 8 trên 14 thành viên. IASB ra đời với mục đích nhằm phát
triển hệ thống chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế, hình thành kỷ nguyên mới hướng tới
hội tụ kế toán toàn cầu. Từ 2003 đến nay IASB đã sửa đổi, cập nhật và ban hành mới
nhiều IAS/IFRS, tính đến nay, IASC và IASB đã ban hành được 41 chuẩn mực kế toán
quốc tế (IAS) và 15 chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS).
2) Lịch sử hình thành và phát triển của chuẩn mực kế toán quốc tế về chi phí đi
vay – IAS 23.
Sự phát triển của kế toán ở các nước thường có sự khác nhau về các qui định cộng
thêm sự khác biệt về hệ thống kinh tế và điều kiện thương mại giữa các nước dẫn đến sự
khác nhau giữa các nước về mô hình và phương pháp kế toán.
Sự khác nhau này tạo nên nét đặc trưng của hệ thống kế toán mỗi quốc gia nhưng
lại có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả của thị trường thế giới và có thể làm giảm sút khả
năng hợp tác, tìm kiếm vốn để cạnh tranh một cách có hiệu quả. Do đó trong xu thế hội
10


nhập kinh tế quốc tế, sự tồn tại của hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế với vai trò là
ngôn ngữ chung để làm cầu nối cho các nền kinh tế là một nhu cầu tất yếu.
Và chi phí đi vay cũng là một yếu tố không thể không nói đến trong hệ thống
chuẩn mực kế toán, bởi vì nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp các nước không còn
nằm trong giới hạn của một quốc gia. Và sẽ giải quyết ra sao nếu vốn vay được đầu tư
vào những tài sản chưa được đưa vào sử dụng hoặc để bán, và chi mới ở giai đoạn xây
dựng. Trong trường hợp không ghi nhận chi phí đi vay vào chi phí sản xuất, kinh doanh
trong kỳ thì phải ghi nhận như thế nào cho đúng.
Từ nhu cầu cấp thiết trên mà Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) đã soạn
thảo, lấy ý kiến và ban hành Chuẩn mực kế toán 23 Vốn hóa chi phí đi vay vào tháng
3/1884.
Sau đó, nhận thấy cần phải bổ sung một số điều nên vào tháng 12/1993 Chuẩn
mực kế toán quốc tế số 23 về Chi phí đi vay (IAS 23) đã được ban hành bởi Ủy ban
chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB), nó thay thế cho IAS 23 Vốn hóa chi phí đi vay (ban

chi phí đi vay:
Một là, chi phí đi vay sẽ được ghi nhận vào giá gốc của tài sản nếu mục đích sử
dụng khoản vay là để hình thành nên tài sản đó, chi phí đi vay được xác định một cách
tin cậy và có thể thu được lợi ích tương lai từ tài sản.
Hai là, chi phí đi vay sẽ được ghi nhận thẳng vào chi phí phát sinh trong kì.
Về phạm vi áp dụng
 Một doanh nghiệp có thể áp dụng chuẩn mực này vào việc ghi nhận chi phí đi vay cho
đơn vị mình.
 Tiêu chuẩn này không áp dụng với chi phí thực tế hoặc vốn chủ sở hữu, bao gồm cả vốn
ưu đãi không được phân loại như là nợ phải trả.
 Doanh nghiệp không áp dụng chuẩn mực này vào việc ghi nhận chi phí đi vay trực tiếp
vào việc hình thành, mua sắm, xây dựng hoặc sản xuất tài sản trong các trường hợp sau:
(a) Một tài sản dở dang đo lường theo giá trị hợp lý, ví dụ như một tài sản sinh
học; hoặc
(b) Hàng tồn kho được sản xuất, hoặc nếu không được sản xuất thì được dự trữ với
số lượng trên cơ sở lặp đi lặp lại.
Áp dụng chuẩn mực để ghi nhận chi phí đi vay của các khoản vay phải được phân
loại như nợ phải trả (vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng, cá nhân, trái phiếu…), chi phí
vốn chủ sở hữu không được tính là chi phí đi vay.

12


Việc đo lường tài sản dở dang theo giá trị hợp lý sẽ không bị ảnh hưởng bởi chi
phí đi vay phát sinh trong suốt quá trình hình thành tài sản, vậy nên yêu cầu ghi nhận chi
phí đi vay vào giá trị tài sản là không cần thiết (khi nào tài sản được ghi nhận theo giá
gốc thì mới tính chi phí đi vay vào giá trị tài sản). Cũng có một ngoại lệ nếu như tài sản
được ghi nhận theo giá trị hợp lý theo yêu cầu IAS 23 không cấm việc thực tế trình bày
các mục như là lợi nhuận hoặc chi phí nếu như chi phí đi vay được vốn hóa vào tài sản
trước khi được đo lường theo giá trị hợp lý. Tuy nhiên cũng có một số quan điểm phản

o Phần phân bổ các khoản chi phí phụ phát sinh liên quan tới quá trình làm
thủ tục vay;( IAS 23 ban hành 1993 nhưng IAS ban hành 2007 đã bỏ nội
dung này)
o Chi phí tài chính đối với các hợp đồng cho thuê tài chính được ghi nhận
phù hợp với IAS 17 Thuê tài chính; và
o Chênh lệch ti giá hối đoái phát sinh từ các khoản vay ngoại tệ ở một mức
độ nào đó thì chúng được coi là một sự điều chinh chi phí lãi vay.
 Tùy thuộc vào từng tình huống, nếu đáp ứng một trong những tiêu chí sau đây có thể là
tài sản dở dang:
(a) Hàng tồn kho
(b) Các nhà máy sản xuất
(c) Các tiện ích sản xuất điện
(d) Các tài sản vô hình
(e) Các tài sản đầu tư.
Tài sản tài chính, và hàng tồn kho được sản xuất, hoặc sản xuất trong một khoảng
thời gian ngắn không phải là tài sản dở dang. Tài sản mà đã sẵn sàng cho mục đích sử
dụng hoặc bán khi mua lại không phải là tài sản dở dang.
IAS 23 không chỉ ra rõ thời gian ngắn là cụ thể là bao lâu mà để cho người sử
dụng linh động áp dụng.
Sự ghi nhận

14


 Một công ty sẽ vốn hóa chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến việc mua sắm, xây dựng
hoặc sản xuất một tài sản dở dang như là một phần của tài sản đó. Một công ty sẽ ghi
nhận các chi phí đi vay khác là chi phí trong kỳ mà nó phát sinh. (thể hiện hai cách ghi
nhận chi phí đi vay của IAS 23 như đã trình bày trong phần nguyên tắc cốt lõi)
 Chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến việc mua sắm, xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở
dang được tính vào chi phí của tài sản đó. Chẳng hạn chi phí đi vay được vốn hóa như

 Việc sắp xếp tài chính cho một tài sản dở dang có thể dẫn đến một công ty có được vốn
vay và phải chịu chi phí đi vay liên quan trước khi một số hoặc tất cả các nguồn vốn được
sử dụng cho việc chi tiêu cho tài sản dở dang. Trong những trường hợp như vậy, các
nguồn vốn vay thường được đầu tư tạm thời cho đến lúc chi tiêu cho tài sản dở dang.
Trong việc xác định mức chi phí đi vay đủ điều kiện để vốn hóa trong kỳ, bất kỳ khoản
thu nhập từ đầu tư nào kiếm được trên các nguồn vốn này đều được loại khỏi chi phí
đi vay phát sinh.
 Trong phạm vi mà một công ty vay vốn chung và sử dụng chúng cho các mục đích có
được một tài sản dở dang, công ty sẽ phải xác định lượng chi phí đi vay đủ điều kiện để
vốn hóa bằng cách áp dụng một tỷ lệ vốn hóa cho chi tiêu trên tài sản đó. Tỷ lệ vốn
hóa sẽ là bình quân gia quyền các chi phí đi vay áp dụng đối với các khoản vay chưa trả
trong kỳ của công ty, ngoại trừ các khoản vay riêng biệt phục vụ cho mục đích có được
một tài sản dở dang. Các Chi phí đi vay mà một công ty vốn hóa trong kỳ không vượt quá
số tiền chi phí đi vay phát sinh trong kỳ đó.
 Trong một số trường hợp, sẽ thích hợp khi gộp chung tất cả các khoản vay của công ty
mẹ và các công ty con của nó khi tính bình quân gia quyền của các chi phí đi vay; trong
một số trường hợp khác, sẽ thích hợp cho từng công ty con sử dụng bình quân gia quyền
cho các khoản vay riêng của mình.
Có thể khái quát hóa quy định về việc tính toán chi phí đi vay được vốn hóa như
sau: có hai trường hợp: (1) Khoản vay vốn riêng biệt sử dụng cho mục đích đầu tư xây
dựng hoặc sản xuất một tài sản dở dang và (2) Các khoản vốn vay chung trong đó có sử
dụng cho mục đích đầu tư xây dựng hoặc sản xuất một tài sản dở dang.
Các khoản thu nhập phát sinh do đầu tư tạm thời các khoản vay riêng biệt trong
khi chờ sử dụng vào mục đích có được tài sản dở dang thì phải ghi giảm trừ (-) vào chi
phí đi vay phát sinh khi vốn hoá.
16


- Vốn hoá chi phí đi vay đối với khoản vốn vay riêng biệt
Chi phí

vay được vốn hoá

= quyền phát sinh cho đầu tư xây

cho mỗi kỳ kế toán

dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang

(1)

cho đến cuối kỳ kế toán (2)

Tỷ
x

lệ vốn hoá
(%) (3)

Trong đó:

Thời điểm bắt đầu vốn hóa
 Một công ty sẽ bắt đầu vốn hóa chi phí đi vay như là một phần của chi phí của một tài sản
dở dang vào ngày khởi công. Ngày bắt đầu cho vốn hóa là ngày mà công ty trước tiên
phải đáp ứng tất cả những điều kiện sau đây:
17


(a) Chi phí cho các tài sản phát sinh;
(c) Các hoạt động cần thiết để chuẩn bị đưa tài sản vào mục đích sử dụng hoặc bán
được tiến hành

trong suốt giai đoạn nước dâng cao làm ngưng trệ việc xây dựng cây cầu, nếu như mực
nước cao rất thường xuyên trong thời gian xây dựng ở khu vực địa lý đó. (Chuẩn mực kế
toán quốc tế số 23 quy định rất rõ: “Không được dừng việc vốn hóa trong những kỳ đang
thực hiện công việc hành chính và kỹ thuật quan trọng”) tạo điều kiện thuận lợi cho
người làm công tác kế toán.
Chấm dứt việc vốn hóa
 Một công ty sẽ chấm dứt vốn hóa chi phí đi vay khi tất cả các hoạt động cần thiết để
chuẩn bị đưa tài sản dở dang vào mục đích sử dụng hoặc để bán được hoàn thành.
 Một tài sản là sẵn sàng cho mục đích sử dụng hoặc bán khi việc xây dựng các tài sản là
hoàn thành cho dù công việc hành chính vẫn có thể tiếp tục. Nếu có thay đổi nhỏ (chẳng
hạn như việc trang trí của một tài sản theo yêu cầu về đặc điểm kỹ thuật của người mua
hoặc người dùng), mà vẫn còn tồn động thì các hoạt động chủ yếu vẫn coi như được hoàn
thành.
 Khi một công ty hoàn thành việc xây dựng một tài sản dở dang trong các bộ phận và mỗi
bộ phận có thể được sử dụng trong khi việc xây dựng vẫn tiếp tục ở các bộ phận khác thì
công ty sẽ chấm dứt vốn hóa chi phí đi vay khi nó hoàn thành tất cả các hoạt động cần
thiết để chuẩn bị cho việc đưa bộ phận đó vào sử dụng hoặc bán.
 Một khu thương mại bao gồm nhiều công trình xây dựng, mỗi trong số đó có thể được sử
dụng, là một ví dụ về một tài sản dở dang, mà mỗi phần có thể sử dụng trong khi việc xây
dựng vẫn tiếp tục trên các bộ phận khác. Một ví dụ về một tài sản dở dang mà cần phải
được hoàn tất trước khi bất kỳ phần nào có thể được sử dụng là một nhà máy công nghiệp
liên quan đến một số hạng mục đang được tiến hành ở các bộ phận khác nhau của nhà
máy trong cùng một khu vực, chẳng hạn như một nhà máy thép.
Công bố
Một công ty sẽ phải công bố:
(a) Chi phí đi vay vốn hóa trong kỳ; và
19


(b) Tỷ lệ vốn hóa được sử dụng để xác định chi phí đi vay đủ điều kiện để vốn hóa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status