Nghiên cứu nhận dạng các yếu tố tác động đến động lực học tập của sinh viên và đề xuất các giải pháp vận dụng tại trường cao đẳng nghề kỹ thuật công nghiệp việt nam hàn quốc - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
--------------------------------------Lê Thị Thảo

NGHIÊN CỨU NHẬN DẠNG CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỘNG LỰC
HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP VẬN DỤNG
TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP VIỆT
NAM - HÀN QUỐC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
QUẢN TRỊ KINH DOANH

Hà Nội – Năm 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------

Lê Thị Thảo

NGHIÊN CỨU NHẬN DẠNG CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỘNG LỰC
HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP VẬN DỤNG
TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP VIỆT
NAM - HÀN QUỐC

Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
QUẢN TRỊ KINH DOANH


TT

Ý nghĩa của cụm từ viết tắt

Chữ viết tắt

1

ASEAN

Association of Southeast Asian Nations - Hiệp hội
các Quốc gia Đông Nam Á

2

GV

Giáo viên

3

PPDH

Phương pháp dạy học

4

KT-ĐG

Kiểm tra - đánh giá


10

XS

Xuất sắc

11

UBND

Ủy ban nhân dân


MỤC LỤC


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Công tác tuyển sinh giai đoạn 2013 - 2015 ............................................23
Bảng 2.2. Kết quả đào tạo của nhà trường giai đoạn 2013 – 2015 .........................26
Bảng 3.1 Mô tả mẫu ................................................................................................48
Bảng 3.2. Bảng thống kê mô tả các biến trong mô hình .........................................49
Bảng 3.3. Kết quả Cronbach’s alpha thang đo môi trường học tập ........................53
Bảng 3.4. Kết quả Cronbach’s alpha thang đo điều kiện học tập ...........................53
Bảng 3.5. Kết quả Cronbach’s alpha thang đo chất lượng giảng viên ....................54
Bảng 3.6. Kết quả Cronbach’s alpha thang đo chương trình đào tạo .....................55
Bảng 3.7. Kết quả Cronbach’s alpha thang đo quản lý đào tạo ..............................55
Bảng 3.8. Kết quả Cronbach’s alpha thang đo động lực học tập ............................56
Bảng 3.9: Kết quả kiểm tra thang đo bằng hệ số Cronbach Alpha . …………………45
Bảng 3.10: Kết quả phân tích EFA .........................................................................45

chính sách về giáo dục, nhằm mục đích đào tạo và phát triển con người toàn diện,
con người được thông qua đào tạo đang được xã hội quan tâm, kinh tế muốn phát
triển bền vững cần con người tri thức việc đào tạo nguồn nhân lực nó gắn liền với
sự phát triển của nền kinh tế của quốc gia, nhất là trong tình hình hội nhập kinh tế
của nước ta hiện nay.
Nâng cao chất lượng dịch vụ đào tạo hiện nay là đáp ứng nhu cầu người
học, tạo điều kiện để người học thuận lợi trong việc bồi dưỡng và nâng cao kiến
thức bản thân, đáp ứng công việc tương lai và nhu cầu xã hội.
Học tập là hoạt động cơ bản và quan trọng nhất đối với sinh viên ở các
trường Đại học, cao đẳng và hoạt động này chỉ có thể đạt được hiệu quả to lớn khi
có sự hỗ trợ, kích thích của các nguồn động lực. Vậy nên,động lực học tập là một
vấn đề quan trọng có tầm ảnh hưởng lớn đến thái độ và kết quả học tập của sinh
viên. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng cácnhóm yếu tố ảnh hưởng đến động lực
học tập của sinh viên bao gồm nhóm yếu tố thuộc về nhà trường, nhóm yếu tố
thuộc về gia đình và đặc tính cá nhân của sinh viên đó .
Phân tích các yếu tố tác động đến động lực học tập của sinh viên nhằm mục
đích tìm ra các giải pháp hữu hiệu đáp ứng tốt nhu cầu người học, giúp họ học tập
có hiệu quả hơn, trên cơ sở đó người học cũng sẽ cổ động, giới thiệu nhiều người
đến học hơn. Vì thế phân tích các yếu tố tác động đến động lực học tập là cơ sở


2
cho trường cải cách hoàn thiện dần những thiếu sót để từ đó phục vụ tốt hơn để
nhiều người sẽ đến học hơn. Vậy nên, ta có thể coi hoạt động dạy học của Trường
là một sản phẩm dịch vụ, việc cải thiện dịch vụ phục vụ, chất lượng đào tạo nhằm
đáp ứng những nhu cầu cần thiết sẽ mang lại động lực học tập đến sinh viên.
Khách hàng là sinh viên cảm nhận như thế nào về dịch vụ mà Trường đã cung
cấp, nhu cầu của sinh viên có được thỏa mãn không là điều Nhà trường cần quan
tâm để cải thiện chất lượng, tạo nguồn động lực học tập cho sinh viên.
Từ những câu hỏi được đặt ra như: sinh viên cảm nhận như thế nào về chất

- Nghiên cứu được thực hiện tại trường Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật
công nghiệp Việt Nam - Hàn Quốc, trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2015
đến tháng 3 năm 2016.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống: sử dụng chủ yếu trong nghiên
cứu các nhân tố ảnh hưởng đến động lực học tập của sinh viên tại Trường Cao
đẳng nghề Kỹ thuật công nghiệp Việt Nam - Hàn Quốc
- Phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, quy nạp: Các phương pháp này
sử dụng chủ yếu trong việc nghiên cứu bài học kinh nghiệm, phân tích đánh giá
thực trạng, đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị liên quan đến nâng cao động
lực học tập của sinh viên tại Trường Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật công nghiệp
Việt Nam - Hàn Quốc
5. Đóng góp của luận văn
+ Về mặt lý luận:
Bổ sung cơ sở lý luận về động lực học tập của sinh viên và những nhân tố
ảnh hưởng đến động lực học tập của sinh viên
+ Về mặt thực tiễn:
Việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến động lực học tập của sinh viên giúp
nhà quản lý hiểu rõ động lực học tập được hình thành từ những yếu tố nào?


4
Biết được sự cảm nhận của sinh viên, với chất lượng dịch vụ đào tạo, qua
mô hình phân tích nhân tố giúp cho trường nhìn lại chính mình qua đánh giá của
sinh viên, kết quả nghiên cứu đề tài sẽ đưa ra đề nghị và các giải pháp góp phần
cải thiện dịch vụ phục vụ, bằng mô hình kiểm tra những yếu tố nào tác động mạnh
đến động lực học tập của sinh viên tới trường.
Kết quả nghiên cứu giúp cải thiện mức độ phục vụ đào tạo và nâng dần chất
lượng đào tạo cho trường.
6. Tổng quan tình hình nghiên cứu

các học sinh sẽ dự định tiếp tục đi học hoặc vừa đi học vừa đi làm sau khi tốt
nghiệp phổ thông trung học. Rất ít người thích đi làm ngay.
- V.N.Stepkin nghiên cứu về động cơ cho thấy 84,5% nam và 74% nữ học
sinh nông thôn dự định đi học tiếp sau khi tốt nghiệp phổ thông.
- Nhận thức về động cơ nghề nghiệp đã có một số tác giả bàn đến, ví dụ
như: N.D Lê-vi-tôp; V.A.Kruchetki; A.V.petropxki trong cuốn Tâm lí học sư
phạm có bàn đến ý nghĩa của sự hiểu biết và nghề nghiệp định chọn đối với
học sinh.
- Ở Việt Nam tập thể tác giả viện khoa học giáo dục đã nghiên cứu về dự
định chọn nghề của học sinh phổ thông. Kết quả là đa số học sinh muốn đạt
đến trình độ đại học trước khi vào lao động (78,64% nữ và 63,38% nam).
- PGS.TS Lê Phước Lượng trong nghiên cứu của mình về giải pháp thúc đẩy
sinh viên trường Đại học Nha Trang học tập tốt đã xây dựng mô hình nghiên cứu
với 5 thành phần cấu thành nên chất lượng dịch vụ đào tạo và tác động ảnh hưởng
đến động lực học tập của SV (Tin cậy, Đáp ứng, Năng lực, Đồng cảm, Phương
tiện hữu hình). Qua phân tích nhân tố khám phá, 5 thành phần này đã có sự thay
đổi và dịch chuyển tạo thành 8 thành phần mới đặc trưng và có tác động, ảnh
hưởng đến động lực học tập của SV (Trình độ GV, Thái độ GV, PPDH của GV,
KT-ĐG của GV, Chương trình giáo dục, Thư viện, Phòng máy tính, Các phòng thí
nghiệm, thực hành).
- Đo lường chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục đại học. Theo
Nguyễn Khánh Duy và cộng sự (2008) đã nghiên cứu đề tài chất lượng khoá học
thạc sĩ và động lực học tập của học viên cao học. chất lượng đào tạo sau đại học ở


6
Việt Nam cũng chỉ ra rằng các thành phần của nó ảnh hưởng thuận chiều đến tác
động đến động lực học tập chung, chín thành phần của chất lượng khoá học như
(1) giảng dạy tốt, (2) Kỹ năng chung, (3) Chất lượng tốt nghiệp, (4) Mục tiêu và
tiêu chuẩn rõ ràng, (5) Khối lượng công việc hợp lý, (6) Nguồn lực học tập, (7)

Các lí thuyết về nội dung nhấn mạnh nguyên lí cơ bản rằng một cá nhân sẽ
muốn thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ, và tin rằng nhu cầu của một người là một
nhân tố cơ bản không thể thiếu nhất của động lực. Nhận thức của một người về
nhu cầu là quan trọng, nó xác định việc họ cần sử dụng bao nhiêu năng lượng để
đạt được nhu cầu cần thiết. Murray (1938) cung cấp một định nghĩa về thuật ngữ
này, đó là “một tập hợp trí tuệ, tri giác, nhận thức và hành động trong một cách
thức nào đó để chuyển trực tiếp sang một hướng khác biệt với tình huống hiện
tại”. Định nghĩa này đã hé mở ánh sáng về bối cảnh của động lực và chỉ ra rằng
một nhu cầu có thể được đánh giá một cách trực tiếp, không tập trung, và do đó có
thể tìm ra sự tồn tại của động lực bằng cách trực tiếp, như là quan sát hành vi của
một cá nhân. Murray cũng bổ sung thêm rằng, một nhu cầu có thể “yếu hoặc
mạnh, tức thời hoặc kéo dài” và kết quả thể hiện qua hành vi “có thể thay đổi hoàn
cảnh theo cách thức mà kết thức. Có 3 lí thuyết về nội dung của động lực, đó là
các lí thuyết của Abraham Maslow về hệ thống cấp độ nhu cầu (Maslow’s need
Hierarchy) (1943), thuyết E.R.G của Alderfer và cuối cùng là thuyết của
McClelland.


8
Lý thuyết về hệ thống cấp độ nhu cầu của Maslow [17] cho rằng, con
người có một hệ thống phân cấp nhu cầu theo cấp độ kim tự tháp từ dưới lên trên.
Bắt đầu chỉ từ sinh lí, dần dần, theo sự phát triển vòng tròn của xã hội, tài năng
của con người sẽ tự được thực hiện. Điểm quan trọng của lí thuyết này là Maslow
cảm thấy rằng nếu các nhu cầu ở cấp thấp hơn chưa được đáp ứng, sẽ ngăn chặn
con người bước lên bước tiếp theo.

Hình 1. Tháp nhu cầu của Maslow
Theo đó, nhu cầu được chia làm hai loại: nhu cầu thiếu hụt (sinh lí và an
toàn), nhu cầu tăng trưởng (thuộc về, lòng tự trọng và tự thực hiện). Nếu nhu cầu
thiếu hụt không được đáp ứng, con người sẽ cảm thấy không hài lòng và hạn chế

phát triển lên mức độ cao hơn có liên quan (ví dụ, một người có thể đáp ứng nhu
cầu ở bàn tay, có hoặc không có một nhu cầu trước đó đã được thỏa mãn);
(2) nếu nhu cầu tương đối quan trọng không được làm hài lòng, mong
muốn thỏa mãn một nhu cầu ít quan trọng hơn sẽ tăng lên (tức là, sự thất vọng
trong việc đáp ứng nhu cầu cao để có thể dẫn tới đòi hỏi về nhu cầu thấp);
(3) lý thuyết ERG cung cấp một số hệ thống phân cấp cụ thể nhưng nó cũng
cho phép có những thứ tự của các nhu cầu khác nhau cho những người khác nhau.
Lý thuyết của McClelland[19] cho rằng động lực của một con người xây
dựng dựa trên ba nhu cầu:


Động lực thành công (n – ach): động lực thúc đẩy con người tìm kiếm
thành công, tìm kiếm thành tích, đạt được những mục tiêu thực tế nhưng


10
đầy thử thách. Những người có động lực thành công cao sẽ có mong
muốn tìm kiếm các cơ hội, họ thích làm việc một mình hoặc với những
người thành đạt ở mức độ cao.


Cơ quan/công suất động cơ (n-pow) : Người được gọi là n-pow có nhu
cầu ‘thúc đẩy quyền lực’. Có một nhu cầu mạnh mẽ để dẫn dắt họ áp
dụng những ý tưởng. Ngoài ra còn có động lực và nhu cầu ngày càng
tăng đối với tình trạng cá nhân và uy tín của cá nhân đó. Nhu cầu của
một người quyền lực (n-pow) có thể là một trong hai loại – cá nhân và
tổ chức. Những người cần quyền lực cá nhân muốn chỉ đạo người khác,
người cần sức mạnh thể chế (còn gọi là quyền lực xã hội) muốn tổ chức,
sắp xếp những nỗ lực của người khác để tiếp tục thực hiện các mục tiêu
của tổ chức.

định thứ ba là con người muốn làm những điều khác nhau từ các tổ chức; giả thiết
thứ tư là con người sẽ tối ưu hóa kết quả cho cá nhân họ. Lí thuyết kì vọng cho
rằng một người sẽ thúc đẩy được đến mức độ mà người đó tin rằng (a) những nỗ
lực sẽ dẫn đến hiệu suất có thể chấp nhận được (kì vọng) (b) hiệu suất sẽ được
tặng thưởng (công cụ hữu ích) và (c) giá trị của phần thưởng là rất tích cực.

Hình 2. Minh họa lý thuyết kì vọng của Vroom
Trong đó:
Kì vọng (Expectancy) là ước tính xác suất của một người mà nỗ lực trong công
việc liên quan sẽ dẫn đến mức độ nhất định về hiệu suất. Kì vọng được xác định
dựa trên xác suất và có phạm vi từ 0 đến 1. Nếu một người không có cơ hội nhìn


12
thấy nỗ lực sẽ dẫn đến mức độ hiệu suất mong muốn thì kì vọng bằng 0. Mặt khác,
nếu người đó hoàn toàn chắc chắn về mức độ hoàn thành vông việc, kì vọng có
giá trị bằng 1.
Phương tiện (Instrumentality): là ước tính của một cá nhân về mức độ thực
hiện nhiệm vụ dẫn đến kết quả làm việc khác nhau. Cũng giống như kì vọng,
phương tiện nằm trong khoảng từ 0 đến 1.
Giá trị (Valence) là sự ưu tiên của một người cho một phần thưởng đặc
biệt. Không giống như phương tiện và kì vọng, giá trị có thể tích cực hoặc tiêu
cực. Vroom cho thấy động lực, kì vọng và phương tiện có liên quan đến nhau theo
phương trình:
Động

lực

(Motivation)



13
Về động lực học tập của người học, Bomia et al.(1997) cho rằng đó là sự
khao khát, mong muốn, hào hứng, cảm thấy có trách nhiệm và đầy nhiệt huyết
trong quá trình học tập. Động lực học tập là nguyên nhân dẫn đến hành động của
sinh viên (Mer-riam-Webster, 1997), là sự nỗ lực cố gắng để hoàn thành có kết
quả một công việc nào đó (DuBrin,2008).
1.3.2 Vai trò của động lực học tập
Động lực học tập có vai trò vô cùng quan trọng đối với người học nói chung
và sinh viên nói riêng. Không có động lực học tập, sinh viên không có lòng khát
khao, hào hứng, mong muốn và cảm thấy có trách nhiệm trong việc học. Họ sẽ
lảng tránh việc học hoặc học một cách đối phó, hình thức và như vậy kiến thức và
kỹ năng thu được sẽ hạn chế. Ngược lại, nếu có động lực học tập, sinh viên sẽ
khát khao và hứng thú trong học tập, do đó kết quả thu được thường sẽ rất tích
cực.
Động lực là một vấn đề rất quan trọng trong giáo dục bậc cao bởi kết quả
học tập có tầm quan trọng trong suốt cuộc đời sự nghiệp sau này của người học.
Biết được những nhân tố ảnh hưởng đến thái độ học tập của sinh viên và cái gì sẽ
tạo thuận lợi trong việc học, cái gì đứng đằng sau quá trình học tập của họ sẽ giúp
những người làm giáo dục dự báo được kết quả học tập, có thể đưa ra những sự
giúp đỡ đối với sinh viên (SV) trước khi điểm số của họ giảm (Kamauru, 2000).
1.3.3 Phân loại động lực học tập
Động lực học tập của sinh viên thường được chia ra làm hai loại là động lực
bên trong (intrinsic moti-vation) và động lực bên ngoài (extrinsic motiva-tion).
Động lực bên trong là sự thích thú, sự yêu thích hoặc vì một thành tích của họ
trong học tập hay vì một mục tiêu cá nhân. Dev (1997) đã chỉ ra rằng những sinh
viên được tạo động lực từ bên trong thì sẽ không cần bất kỳ một loại phần thưởng
nào hoặc một sự khuyến khích nào thúc đẩy họ hoàn thành nhiệm vụ. Những sinh
viên này thường chọn và hoàn thành những nhiệm vụ và những hoạt động nhiều
thách thức. Lepper (1988) chỉ ra rằng động lực bên trong cho thấy lợi ích của việc

15

Môi trường học tập
H1
Điều kiện học tập
Chất lượng giảng viên

H2

H3

Chương trình đào tạo
H4
Công tác quản lý đào

Ngành đào tạo
Số năm đào
tạo
Giới tính
( Biến kiểm
soát)

Động lực
học tập của
sinh viên

H5

Sơ đồ 1. Sơ đồ nghiên cứu đề xuất
+ Các giả thuyết:

ngày 04 tháng 12 năm 1998 theo Quyết định số: 1272/1998 QĐ.UB-TCCQ của
UBND Tỉnh Nghệ An.
Ngày 15 tháng 2 năm 2007 trường được nâng cấp thành trường Cao đẳng
nghề Kỹ thuật công nghiệp Việt Nam - Hàn Quốc theo quyết định số 258/QĐBLĐTBXH của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.
Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật công nghiệp Việt Nam - Hàn Quốc là quà
tặng của Chính phủ và nhân dân Hàn Quốc cho Việt Nam. Trường vinh dự đặt tại
thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An - quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.
Trường là biểu tượng của sự hợp tác hữu nghị giữa hai nước Việt Nam - Hàn
Quốc. Được khởi công xây dựng từ tháng 10 năm 1999, khánh thành và đưa vào
hoạt động tháng 12 năm 2000.
Trường có quan hệ hợp tác với Cơ quan hợp tác Quốc tế Hàn Quốc KOICA,
Phòng thương mại và công nghiệp Hàn Quốc KCCI, các trường Đại học, Cao
đẳng trong nước như: Đại học Bách khoa Hà Nội; Đại học Sư phạm KT Vinh; Đại
học Vinh; Đại học Thái Nguyên..., các đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn Nghệ
An và cả nước. Quan hệ hợp tác với trường Đại học Youngsan; Học viện công
nghệ Dong-Eui; Cao đẳng Bách khoa Seoungnam Hàn Quốc.
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ
Trường Cao đẳng nghề KTCN Việt Nam – Hàn Quốc là đơn vị sự nghiệp,
trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, có tư cách pháp nhân, có tài khoản, có
con dấu và biểu tượng riêng.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status