MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, tình hình tôn giáo trên thế giới có nhiều
diễn biến phức tạp. Nằm trong dòng chảy của lịch sử nhân loại, Việt Nam là
một quốc gia đa tôn giáo, bên cạnh các tôn giáo lớn có tổ chức với số lượng
tín đồ đông đảo còn có các sinh hoạt tín ngưỡng dân gian truyền thống. Tôn
giáo đã và đang trở thành nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, các
hoạt động của tôn giáo được khôi phục và phát triển mạnh mẽ, số người theo
tôn giáo ngày càng tăng. Hiện nay, ngoài xu hướng hành đạo đồng hành cùng
dân tộc, thuần tuý tôn giáo, tuân thủ Hiến pháp, pháp luật cũng đã xuất hiện
các hoạt động tôn giáo không bình thường, có phần lấn lướt chính quyền,
vi phạm một số qui định của Nhà nước về hoạt động tôn giáo: Một số
chức sắc tôn giáo ngấm ngầm hoạt động chống đối chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước, có tư tưởng vọng ngoại, tìm mọi cách cung
cấp thông tin sai lệch về tình hình tôn giáo ở trong nước; một số tôn
giáo lợi dụng việc đòi lại đất đai cơ sở thờ tự để có những hoạt động
chống đối chính quyền, gây khiếu kiện rất phức tạp, hoặc gây điểm
nóng tôn giáo; có giáo phái đòi tách khỏi Giáo hội và sự quản lý của
Nhà nước; nhiều tổ chức đội lốt tôn giáo nhằm tập hợp lực lượng chống
lại chính quyền, tạo cớ để các thế lực thù địch bên ngoài can thiệp vào
công việc nội bộ của nước ta… Trước tình hình đó, Đản g và Nhà nước
ta đã xác định phải tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động
tôn giáo để vừa đảm bảo nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của quần chúng,
vừa kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo đi ngược lại lợi ích
của nhân dân, của dân tộc.
Huyện Cẩm Khê là một huyện miền núi của Phú Thọ, với 2 tôn
giáo lớn là phật giáo và công giáo; trong đó số lượng tín đồ công giáo
chiếm tỉ lệ cao nhất tỉnh. Trong thời gian qua,ban công tác tôn giáo của
huyện đã quan tâm chú ý nhiều hơn đến hoạt động lãnh đạo công tác
trong thời kỳ mở rộng giao lưu quốc tế và phát triển kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, Đề tài khoa học cấp bộ; TS
Hoàng Minh Đô - Chủ nhiệm đề tài (2002), Đạo Tin lành ở Việt Nam- Thực
trạng, xu hướng phát triển và những vấn đề đặt ra hiện nay trong công tác
lãnh đạo, quản lý, Thuộc đề tài độc lập cấp Nhà nước; Ths.Đặng Thị LươngHiệu quả vận động công tác tôn giáo của tỉnh Nam Định trong thời kỳ đổi
mới......
Có rất nhiều đề tài đã đề cập đến công tác tôn giáo và cũng đã đưa ra
một số giải pháp nâng cao hiệu qủa công tác tôn giáo nhưng là ở địa
phương khác,có những đặc điểm khác với huyện Cẩm Khê. Đồng thời để đi
sâu nghiên cứu Tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo ở huyện Cẩm
Khê- tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay thì chưa có đề tài nào
thực hiện.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về tình hình tôn giáo ở
huyện Cẩm Khể - tỉnh Phú Thọ và công tác tôn giáo ở huyện Cẩm Khê
trong giai đoạn hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về tình hình tôn
giáo, công tác tôn giáo trên địa bàn huyện Cẩm Khê- tỉnh Phú Thọ
trong thời gian từ năm 2001-2010.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu thực trạng tình hình tôn
giáo và công tác tôn giáo ở huyện Cẩm Khê - tỉnh Phú Thọ để đưa ra một số
giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tôn giáo ở huyện Cẩm Khê.
- Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
+ Đề tài làm sáng tỏ đặc điểm và tình hình công tác tôn giáo ở
huyện Cẩm Khê- tỉnh Phú Thọ hiện nay.
+ Đánh giá thực trạng công tác tôn giáo của huyện Cẩm Khê, từ đó
chỉ ra nguyên nhân và bài học kinh nghiệm.
tin tôn giáo”[ Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học - NXB Chính trị Quốc
gia]
Hainechelin đã rút ra một định nghĩa khá đầy đủ về tôn giáo, từ sự
nghiên cứu kỹ lưỡng, và công phu các tác phẩm của C. Mác và Ph. Ăngghen:
“Tôn giáo là một sự phản ánh đặc biệt, hoang đường và sai lệch trong ý thức
xã hội những mối liên hệ giữa con người với nhau và với tự nhiên, bởi con
người cả trong xã hội nguyên thuỷ cũng như trong các xã hội được phân chia
thành giai cấp (cổ đại, phong kiến, tư bản ) cũng đều bị đặt dưới sự thống trị
của những sức mạnh ở bên ngoài mà họ không nhận biết được, cũng như
không chi phối và kiểm soát được, vì thế mà đối với chúng họ cảm thấy có sự
sợ hãi bí ẩn, sự sợ hãi này theo sự giải trình của các nhà thờ, sẽ sản sinh ra các
vị thần” [ Tôn giáo và đời sống hiện đại” – Thông tin KHXH chuyên đề,
H.1997, tr.6.]
Như vậy có thể hiểu tôn giáo là niềm tin vào cái thiêng liêng. Niềm tin
đó phải ít nhiều có tính hệ thống, được thực hiện bằng những luật lệ, lễ nghi
tôn giáo, có phương tiện vật chất để thực hiện niềm tin, thậm chí có cả tổ
chức để truyền bá, bảo vệ và thực hiện niềm tin.
Chức sắc:
“Là tín đồ có chức vụ, phẩm sắc trong tôn giáo.”
Tín đồ:
“Là người tin theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo thừa nhận.”
1.1.2. Bản chất, chức năng của tôn giáo theo Học thuyết Mác – Lênin
a. Bản chất xã hội của tôn giáo:
– Tôn giáo là sản phẩm sáng tạo của con người
C. Mác cho rằng không phải tôn giáo sáng tạo ra con người mà chính con
người đã sáng tạo ra tôn giáo: “Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của
con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã lại để mất bản thân mình một
lần nữa.... Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của
trong quá trình phản ánh xã hội con người vào trong ý thức con người, không
phải là một sự phản ánh đơn giản, mà là một sự phản ánh chịu tác động rất
nhiều yếu tố trung gian; đó là cách thức suy nghĩ, lập luận và cảm nhận của
con người về thế giới mà con người đang sống và về chính bản thân mình
theo những hình thức trưng cho từng người trong từng hoàn cảnh địa lý và
lịch sử nhất định.
– Tôn giáo là hiện tượng xã hội có tính lịch sử
Về luận điểm này, Ăngghen đã khắng định rằng: “Tất cả các vị thần ấy chỉ có
thể tiếp tục tồn tại trong trí tưởng tượng chừng nào dân tộc tạo ra các vị thần ấy
còn tồn tại; khi dân tộc đó tiêu vong thì các vị thần ấy cũng tiêu vong theo”
[C.Mác – Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Sđd, tr.445 – 446.]
Lật lại lịch sử có thể thấy rằng: những tôn giáo cũ, nảy sinh một cách tự
nhiên trong các bộ lạc và các dân tộc không hề có tính chất tuyên truyền sẽ mất
sức đề kháng một khi nền độc lập của các bộ lạc và các dân tộc đó bị phá vỡ.
Với tính chất là một hình thái ý thức xã hội, tôn giáo phản ánh xã hội con
người và bản thân con người trong xã hội đó. Cũng chính vì vậy, tôn giáo
mang những đặc trưng riêng cho từng cộng đồng người trong những hoàn
cảnh địa lý và lịch sử nhất định. Điều đó giúp chúng ta hiểu được vì sao tôn
giáo luôn có sự biến đổi tương ứng với các thời kỳ lịch sử khác nhau, tôn giáo
là sản phẩm của lịch sử, luôn chịu sự chi phối của lịch sử. Tôn giáo có thể có
tính độc lập tương đối, song xét đến cùng không chấp nhận quan điểm tôn
giáo có thể thoát ly khỏi những điều kiện lịch sử trong đó nó tồn tại; tức là
luôn luôn đặt nó trong sự tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng, cái đã sản sinh
ra nó. Và từ đó để thấy rằng mọi “Tự do tín ngưỡng hay tự do tôn giáo” hoàn
toàn không có nghĩa là “thả nổi” tôn giáo hoặc tôn giáo không liên quan gì
đến đời sống kinh tế - chính trị - xã hội.
Tóm lại, khi nghiên cứu về bất kì tôn giáo nào cũng phải gắn tôn giáo đó
với những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, xã hội cụ thể. Nắm được bản chất tôn
thực hiện những qui chuẩn, giá trị tôn giáo.
– Chức năng “đền bù hư ảo”
Đây không chỉ là chức năng chủ yếu, đặc thù mà còn là chức năng phổ
biến của tôn giáo. Ở đâu có tôn giáo ở đó có chức năng đền bù hư ảo.
Tôn giáo giống như liều thuốc an thần thường làm dịu, làm nhẹ nỗi đau
của con người. Niềm tin vào đấng tối cao mong được sự che chở, cứu vớt
thường làm cho con người có cảm giác được đền bù, xoa dịu, hạnh phúc cho
dù đó chỉ là “hạnh phúc hư ảo”.
Chức năng đền bù hư ảo được C. Mác phát biểu rất cô đọng: “Sự nghèo
nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản
kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng
sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là
tinh thần của những trật tự không có tinh thần. “Tôn giáo là thuốc phiện của
nhân dân” – nghĩa là chủ động nhân dân thấy tôn giáo có chức năng an ủi,
“giảm đau”, khác hoàn toàn việc cho rằng “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân
dân” là người dân thụ động tiếp nhận mà không chắc có muốn hay không.
Đây cũng là lý do tại sao tôn giáo vẫn còn tồn tại trường kỳ trong xã hội ngày
nay, khi thế giới còn hiện tượng con người chưa thể giải thích bằng khoa học
và hơn nữa, khi mà vẫn còn một bộ phận nhân dân trong xã hội chưa thể làm
chủ được bản thân; vẫn phải sử dụng tôn giáo như một thứ thuốc phiện để làm
vơi đi những nỗi đau, những khó khăn gặp phải trong cuộc sống nơi trần thế.
Lênin đã viết về tính ru ngủ của tôn giáo như sau: “Đối với ai suốt đời
vẫn là lao động và sống trong cảnh thiếu thốn, tôn giáo dạy họ phải sống theo
tinh thần cam chịu và nhẫn nhục trong cuộc sống dưới trần gian, bằng cách
làm cho họ hy vọng sẽ được đền đáp khi lên thiên đàng”. Tuy nhiên, tôn giáo
nhiều lắm chỉ bù đắp nỗi bất hạnh của con người một cách tạm thời, hư ảo,
thuần tuý tinh thần theo C. Mác nói nó chỉ là “hạnh phúc tưởng tượng”.
Những biểu hiện tiêu cực và hệ quả xã hội của nó, như là “thuốc phiện” của
Trong lịch sử xã hội có giai cấp, tôn giáo là một bộ phận quan trọng của
kiến trúc thượng tầng, do đó cũng là nhân tố liên kết xã hội, góp phần duy trì,
bảo vệ những trật tự xã hội hiện hành dựa vào những hệ thống giá trị và chuẩn
mực chung của xã hội.
Chức năng liên kết của tôn giáo thể hiện khả năng liên kết giữa những
người có chung một tín ngưỡng tôn giáo. Sự liên hệ này được thực hiện chủ
yếu trong hoạt động thờ cúng, sự giao tiếp với thánh thần được coi là sự giao
tiếp tối cao.
Tính liên kết của các tôn giáo được thực hiện do những quy định trong
giáo lý, giáo luật đòi hỏi những việc như truyền giảng, cầu nguyện đòi hỏi cả
một cộng đồng tham gia; việc trừng phạt những người đi ngược lại mục đích
của cộng đồng tôn giáo… Chính những đòi hỏi đó quy định tính liên kết của
mỗi tôn giáo, kéo theo liên kết về tình cảm, trong làm ăn kinh tế, văn hoá,
giáo dục… Do vậy, phạm vi liên kết có thể rộng hoặc hẹp. Với chức năng
này, tôn giáo đóng vai trò là một trong những nhân tố tạo nên sự liên kết trong
xã hội, bảo đảm sự thống nhất của xã hội.
- Chức năng giao tiếp
Các tín đồ của một tôn giáo giao tiếp với nhau thông qua các sinh hoạt
tôn giáo. Sự giao tiếp (liên hệ) với nhau đó tạo nên sự gắn kết trong cộng
đồng, trong tín hữu.
Chức năng giao tiếp của tôn giáo còn được biểu hiện ở chỗ, các tín đồ
không những chỉ liên hệ với nhau với tư cách là những người đồng tín
ngưỡng mà còn liên hệ với những người khác không cùng tín ngưỡng . Đó
chính là sự giao tiếp xã hội rộng lớn, ngoài phạm vi tôn giáo, mang tính kinh
tế, chính trị, văn hoá…
Đặc biệt các tín đồ tôn giáo còn có mối liên hệ, mối giao tiếp với một
thực thể siêu nhiên đó là thần thánh. Tín đồ giao tiếp với thần thánh thông qua
tôn giáo, với những quan điểm sau:
Thứ nhất, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận
nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở nước ta.
Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân. Thực
hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo
hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo
đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng
trước pháp luật.
Thứ hai, Đảng và Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết
toàn dân tộc.
Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo
tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Giữ gìn và phát huy những giá trị
tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với
Tổ quốc và nhân dân. Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do
tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để
hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà
nước, kích động chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia.
Thứ ba, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động
quần chúng.
Điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo vào sự nghiệp chung
của đất nước là mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền
và nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Công tác vận động quần chúng các tôn giáo phải động viên đồng bào nêu
cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc;
thông qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội, an ninh, quốc
phòng, bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó
chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Ba là, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống “Tốt
đời, đẹp đạo” trong quần chúng, chức sắc, nhà tu hành, tín đồ ở cơ sở, xây
dựng khối đại đoàn kết dân tộc.
Bốn là, phát huy tinh thần yêu nước của đồng bào có đạo, tự giác và phối
hợp đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng về tôn
giáo, dân tộc để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, chống đối chế độ ta.
Năm là, hướng dẫn các tôn giáo thực hiện quan hệ đối ngoại phù hợp với
đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền
về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước; kiên quyết đấu tranh làm thất
bại những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, vu khống của các thế lực thù
địch bên ngoài đối với tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo ở nước ta.
Sáu là, tổng kết việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công
tác tôn giáo. Tăng cường nghiên cứu cơ bản, tổng kết thực tiễn, góp phần
cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng và thực hiện các chủ trương,
chính sách trước mắt và lâu dài đối với tôn giáo
Chương 2
ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH TÔN GIÁO VÀ NỘI DUNG CÔNG TÁC
TÔN GIÁO Ở HUYỆN CẨM KHÊ - TỈNH PHÚ THỌ
2.1. Đặc điểm tình hình tôn giáo ở huyện Cẩm Khê - tỉnh Phú Thọ
Về Phật giáo:
Đạo Phật có một ban đại diện Phật giáo huyện, gồm 9 thành viên, dưới
sự hướng dẫn của Ban trị sự Phật giáo tỉnh Phú Thọ và sự quản lý của Uỷ ban
nhân dân huyện, sự hướng dẫn hoạt động của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
huyện.
Toàn huyện hiện nay có khoảng 5.500 phật tử, phần lớn là những người
cao tuổi, sinh hoạt ở 34 chùa. Tương ứng có 34 ban hộ tự với 180 thành viên;
tỉnh. Việc sửa chữa, xây dựng, tôn tạo nơi thờ tự được quan tâm. Trong năm
2008 số tiền đầu tư là 730.000.000 đồng [Báo cáo tình hình và công tác tôn
giáo năm 2009 – Ban chỉ đạo công tác tôn giáo huyện Cẩm Khê- tỉnh Phú
Thọ.]
Trong thời gian qua, các chùa đã tích cực vận động hội viên và gia đình
gương mẫu tham gia vào các cuộc vận động do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và
các ban ngành ở địa phương phát động như “Quỹ vì người nghèo”, ủng hộ
nạn nhân nhiễm chất độc màu da cam, ủng hộ quỹ đền ơn đáp nghĩa, quỹ
khuyến học, ủng hộ đồng bào bị thiên tai. Trong năm 2009, ủng hộ được được
số tiền là hơn 70.000.000 đồng. Thông qua những hoạt độn trên đã khẳng
định những người con Phật đã và đang từng bước thực hiện có hiệu qủa tinh
thần đạo đức Phật giáo là từ bi, cứu khổ, cùng vui chia sẻ với chúng sinh,
đồng hành cùng dân tộc.
Tuy nhiên,có một số vấn để cần phải lưu ý như sau:
- Ngày 20/08/2008, Văn phòng UBND huyện nhận thùng hàng nói về
Phật giáo, lãnh đạo UBND huyện chỉ đạo Công an huyện phối hợp cùng các
cơ quan chức năng khác mở thùng hàng thấy có 98 đĩa VCD, 15 đĩa DVD và
95 cuốn sách các loại. Tất cả các văn hóa phẩm trên đều không có nhà xuất
bản, vi phạm Luật xuất bản của Pháp luật Nước CHXHCN Việt Nam, không
có chứng minh được nhập khẩu.
Nội dung các tài liệu mệnh danh Sư phụ Trần Tâm là người Việt Nam di
tản sang Mỹ từ năm 12 tuổi có hướng tu hành đã tự tu và khẳng định trong thế
kỉ XXI, mình là vị Minh sư duy nhất cầu nối giữa con người với Thượng đế.
- Ngoài ra, HĐND – UBND huyện còn nhận được bưu kiện của Sư cô
Như Hoa: Trần Thị Vinh – Chùa Mật Tông Phúc Hoa gửi tới. Trong bưu kiện
cũng có những cuốn sách không có giấy phép xuất bản.
- Trong Hội Phật giáo huyện hầu hết là các cụ bà cao tuổi, xuất thân và
gắn bó với nông nghiệp, nông thôn nên trình độ nhận thức phần lớn còn hạn
đói, giảm được hộ nghèo, bình quân mỗi năm giảm 0.54% hộ nghèo.
Trong quá trình hoạt động, các Linh mục, tu sĩ và tín đồ công giáo cũng
đã tham gia các hoạt động từ thiện, ủng hộ nạn nhân bị lũ lụt. Như Linh mục
Đặng Văn Mạnh, Linh mục Nguyễn Quang Dĩnh ở nhà thờ xã Ngô Xá đã
thăm và tặng quà cho 26 hộ gia đình giáo dân bị ngập nhà do lũ, mỗi xuất trị
giá 500.000 đồng. Tòa giám mục Hưng Hóa đã hỗ trợ cho các gia đình bị
ngập lụt do cơn bão số 4 năm 2009, với số tiền là 50.000.000 đồng.
Tuy nhiên, ngoài những mặt tích cực trên, tình hình đạo Công giáo trên
địa bàn huyện cũng có một số vấn đề phải lưu ý:
– Từ ngày 04/9 đến 14/9/2008, trên địa bàn huyện có 69 lượt giáo dân
đến nhà thờ Thái Hà để xem “Đức mẹ hiện hình” theo tin tuyên truyền, khi về
có đem theo tài liệu tuyên truyền. Qua theo dõi, nắm tình hình không có vấn
đề gì đáng ngại. Tuy nhiên, cấp ủy cơ sở và các cơ quan chức năng, lực
lượng công an đã tăng cường bám sát tình hình thực tiễn và tập trung tuyên
truyền nên giáo dân không đi nữa, đến nay tình hình đã ổn định.
Trong ngày lễ Noel năm 2009, Công an huyện đã phối hợp với Công an xã
Yên Tập phát hiện và thu giữ 07 đĩa DVD có nội dung các bài hát Tôn giáo
nhưng không dán tem, không có nhãn theo quy định và 04 cuốn sách Kinh
khổ 12x13cm dày 125 trang, không có tên nhà xuất bản và không có giấy
phép xuất bản. [ Huyện ủy Cẩm Khê: Báo cáo của BCH Đảng bộ huyện Cẩm
Khê khóa VIII trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thư XXVII nhiệm kỳ
2007-2012.]
Với đặc điểm của đạo Phật và đạo Công giáo như trên đã tác động mạnh
mẽ đến việc thực hiện công tác tôn giáo của địa phương, giúp cho công tác
tôn giáo của huyện đạt được nhiều thành tựu nhưng cũng có không ít hạn chế,
những bài học cần rút ra trong hoạt động lãnh đạo và thực hiện công tác tôn
giáo của các cấp chính quyền tại địa bàn huyện Cẩm Khê.
Như vậy, cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn trên đây đã đặt ra yêu cầu đối
của Đảng, Nhà nước đối với công tác tôn giáo trong tình hình mới.
+ Nghị quyết số 04-NQ/HU ngày 10/4/2001 của BTV Huyện ủy về việc
tăng cường lãnh đạo của các cấp ủy đối với công tác vận động quần chúng ở
các xã có đồng bào công giáo. Nghị quyết nêu lên tinh thần và kết quả của
quá trình xây dựng các tổ chức quần chúng và công tác vận động quần chúng
nhân dân ở các xã có đồng bào theo đạo công giáo; phương hướng, mục tiêu,
nhiệm vụ, giải pháp về tăng cường lãnh đạo của các cấp ủy đối với công tác
vận động quần chúng nhân dân ở các xã có đồng bào theo đạo công giáo đến
năm 2005. Nghị quyết này là cơ sở để Ủy ban MTTQ huyện xây dựng
chương trình hành động số 05/CT-MT.
+ Chương trình số 05/CT-MT của Ủy ban MTTQ huyện Sông Thao ngày
10/7/2001 về việc tổ chức thực hiện Nghị quyết 04 của Ban thường vụ Huyện
ủy về tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng đối với công tác vận động quần
chúng ở các xã có đồng bào Công giáo. Chương trình đã khái quát tình hình
công tác Mặt trận tổ quốc tham gia lãnh đạo thực hiện công tác vận động quần
chúng ở các xã có đồng bào Công giáo trong các năm trước đó. Từ đó, đưa ra
phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu và giải pháp của chương trình tổ chức
thực hiện Nghị quyết 04-NQ/HU của Ban Thường vụ Huyện ủy: Tăng cường
vận động quần chúng nhân dân ở các xã có đồng bào theo đạo công giáo của
Mặt trận tổ quốc đến năm 2005.
+ Chương trình hành động số 106-CTr/HU ngày 14/5/2003 về việc thực
hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa IX về
công tác tôn giáo. Nội dung của chương trình hành động này là nhằm tổ chức
học tập quán triệt Nghị quyết 25 tới cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành và đội
ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo. Đồng thời tổ chức học tập, quán triệt sâu
rộng tới đảng viên, hội viên, đoàn viên các đoàn thể nhân dân. Chương trình
cũng đề ra một số chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện
thành công Nghị quyết.
chi, đảng bộ trực thuộc, các cơ quan, các ngành, Mặt trận tổ quốc, các đoàn
thể huyện xây dựng được chương trình thực hiện Nghị quyết.
Cùng với việc triển khai học tập Nghị quyết TW 7 và các chương trình
hành động của Tỉnh ủy, Huyện ủy, Ban thường vụ Huyện ủy đã thường xuyên
lãnh, chỉ đạo các ngành, Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân tiếp tục thực
hiện tốt các Chỉ thị, Nghị quyết chuyên đề của Trung ương, của Tỉnh ủy,
Huyện ủy về công tác vận động quần chúng, công tác phát triển hội viên là
phụ nữ ở các xã đông đồng bào công giáo trong huyện.
Chỉ đạo chặt chẽ việc sơ, tổng kết các Nghị quyết chuyên đề như: Nghị
quyết số 18-NQ/TU về tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW 7 của Bộ Chính trị
khóa VIII về đại đoàn kết dân tộc, tăng cường mặt trận thống nhát; Tổng kết
kết quả thực hiện Nghị quyết 04-NQ/HU của Ban thường vụ huyện Cẩm Khê
về tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng đối với công tác vận động quần
chúng ở các xã có đồng bào công giáo. Chỉ đạo việc khảo sát, điều tra tình
hình quần chúng, tình hình đảng viên có đạo và đảng viên tham gia các chức
sắc, chức việc tôn giáo.
Ngoài ra, Ủy ban kiểm tra Huyện ủy có kế hoạch kiểm tra việc tổ chức
thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị, các chương trình hành động. Ban dân vận
Huyện ủy phối hợp với Ban Tuyên giáo Huyện ủy, Mặt trận tổ quốc huyện có
nhiệm vụ tham mưu, giúp Ban thường vụ Huyện ủy đôn đốc việc triển khai
thực hiện, tổng hợp kết quả, báo cáo BTV Huyện ủy giải quyết theo định kỳ.
Trong quá trình thực hiện, kịp thời phát hiện, đề xuất, kiến nghị để điều chỉnh,
bổ sung nhằm thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết, Chỉ thị, Chương trình
hành động do Huyện ủy đề ra.
2.3. Thực tác trạng công tác tôn giáo ở huyện Cẩm Khê- tỉnh Phú Thọ
2.3.1 Một số yếu tố tác động đến hiệu quả công tác tôn giáo ở huyện
Cẩm Khê – Tỉnh Phú Thọ hiện nay
Vị trí địa lý:
tình hình và công tác tôn giáo năm 2001, 2006, 2008.2009, 2010.]
Tôn giáo: Cẩm Khê là huyện có đông đồng bào theo đạo của tỉnh Phú Thọ,
với 2 tôn giáo chính là Phật giáo và Công giáo. Chiếm 22.8% số đồng bào
theo đạo của tỉnh Phú Thọ. Trong đó: số lượng tín đồ, chức sắc của Công giáo
chiếm 29.47% số lượng tín đồ, chức sắc Công giáo của tỉnh. Ngoài ra trên địa
bàn huyện còn tồn tại loại hìn tín ngưỡng dân gian với 28 đình, 5 đền, 6 miếu
[Hội Phật giáo huyện Cẩm Khê: Báo cáo của ban đại diện Phật giáo huyện
khóa II trình Đại hội Đại biểu Phật giáo huyện Cẩm Khê- khóa III, nhiệm kỳ
2007- 2012.]
Văn hóa – xã hội: Qua quá trình giao lưu, đan xen văn hóa giữa các miền
tạo nên một vùng văn hóa phong phú, đa dạng trong đó nền tảng văn hóa
truyền thống Hùng Vương vẫn được bảo tồn và không ngừng phát triển. Cẩm
Khê tự hào với những giá trị văn hóa xa xưa còn được bảo tồn đến ngày hôm
nay. Ông Đặng Văn Đăng – với bút danh “Bút tre” người sáng tác thơ ca
mang đâm phong cách nghệ dân gian ở những năm 60 – 70 của thế kỷ XX.
Tuy đã đi xa nhưng những tác phẩm thơ ca do ông sáng tác vẫn sống mãi và
là niềm tự hào của nhân dân Cẩm Khê.
Huyện đã hoàn thành phổ cập giáo dục năm 2003; có 67% hộ gia đình
đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa; 64% khu dân cư đạt tiêu chuẩn văn hóa; 31
xã, thị trấn có bác sỹ, có đài truyền thanh từ năm 2002.
Với những yếu tố trên đã tạo ra những thuận lợi cũng như những khó
khăn đối với tình hình tôn giáo của huyện Cẩm Khê:
Những thuận lợi cơ bản:
+ Trong quá trình hội nhập, mở cửa của đất nước cùng với những kinh
nghiệm và thành quả đạt được trong thời gian qua đã tạo ra điều kiện thuận lợi
trong phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương, cơ sở hạ tầng được đầu tư; cơ sở
vật chất cho tôn giáo được quan tâm, ngày càng khang trang và hoàn thiện hơn.
+ Chính quyền và nhân dân trong huyện đoàn kết, cần cù, sáng tạo trong