PHẦN THỨ NHẤT: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Môi trường (MT) bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh
con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con
người và thiên nhiên (Điều 1 – Luật BVMT của Việt Nam 1993).
Bảo vệ môi trường (BVMT) là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành,
sạch đẹp, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do
con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường; khai thác và sử dụng hợp lý các tài
nguyên thiên nhiên.
Giáo dục bảo vệ môi trường (GDBVMT) là quá trình giáo dục có mục đích
nhằm làm cho con người và cộng đồng quan tâm đến các vấn đề của môi trường; có
sự hiểu biết về môi trường; có thái độ, kỹ năng và hành vi tốt trong việc BVMT.
Chúng ta đều nhận thấy môi trường hiện nay đang bị ô nhiễm nặng nề làm cho
khí hậu toàn cầu bị biến đổi; tần suất thiên tai gia tăng, khó lường; tài nguyên suy
thoái và cạn kiệt dần…ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của mỗi chúng ta.
Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do sự thiếu hiểu biết, chưa có thức
BVMT của con người. Vấn đề cấp thiết đặt ra là cần phải kêu gọi các cấp, các
ngành, các tổ chức đoàn thể và mọi cá nhân cùng chung tay để BVMT, coi đó “là
vấn đề sống còn của đất nước, nhân loại và là một trong những yếu tố quyết định sự
phát triển bền vững, có liên quan chặt chẽ tới sự phát triển kinh tế xã hội…”.
Trong nghị quyết số 41/NQ/TW của Bộ Chính Trị ra ngày 15/11/2004 đã chỉ rõ
cần phải BVMT với hi vọng mọi người, mọi nhà sẽ được sống trong một moou
trường trong sạch, lành mạnh và hạnh phúc hơn.
Thực hiện QĐ số 1363/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 của BGD&ĐT phê duyệt đề
án “Đưa các nội dung BVMT vào hệ thống giáo dục quốc dân”, trong đó nhấn
mạnh “Nội dung GDBVMT phải đảm bảo được tính giáo dục toàn diện”; đối với
giáo dục mầm non: “Cung cấp cho trẻ những hiểu biết ban đầu về môi trường sống
của bản thân nói riêng và của con người nói chung, biết cách sống tích cực với môi
trường, nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh về cơ thể và trí tuệ”; bậc học mầm
1
2
Năm 1972 trong tuyên bố của Hội nghị Liên Hiệp Quốc về “Môi trường và con
người” đã nêu “việc giáo dục môi trường cho thế hệ trẻ cũng như người lớn, làm
sao để họ có được đạo đức, trách nhiệm trong việc bảo vệ và cải thiện môi trường”.
Trong chỉ thị số 36/CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính Trị về việc “Tăng
cường công tác BVMT trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước” đã đưa ra những giải
pháp cơ bản để thực hiện nhiệm vụ BVMT như: “thường xuyên giáo dục, tuyên
truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và phong trào quần chúng BVMT”.
Cùng với Luật giáo dục thì Bộ GD&ĐT đã có QĐ số 3288/QĐ-BGD&ĐT ngày
2/10/1998 phê duyệt và ban hành các văn bản về chính sách và chiến lược giáo dục
môi trường trong nhà trường, đó chính là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức
triển khai các hoạt động giáo dục môi trường trong các cơ sở giáo dục.
Thủ tướng chính phủ cũng đã ra quyết định số 1336/QĐ-TTg ngày 17/10/2001
phê duyệt đề án “Đưa nội dung GDBVMT vào hệ thống giáo dục quốc dân”; Quyết
định số 256/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 về chiến lược BVMT quốc gia đến năm
2010 và định hướng đến năm 2020.
Trong kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XI nước CHXHCN Việt Nam ngày
29/11/2005 đã ban hành Luật BVMT và luật có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2006.
Trẻ lứa tuổi mầm non rất thích hoạt động, khám phá; thích tiếp xúc với thiên
nhiên; dễ hình thành nề nếp, thói quen, thái độ ứng xử đúng đắn, có văn hóa…đó là
những yếu tố thuận lợi cho việc GDBVMT.
Các chuyên gia giáo dục đã khẳng định GDBVMT là rất cần thiết và cấp bách,
phải bắt đầu ngay từ bậc học mầm non, nó có ý nghĩa to lớn góp phần đặt nền
móng ban đầu cho việc hình thành nhân cách con người. Tuy nhiên GDBVMT
trong trường mầm non không phải là một môn học riêng biệt mà chỉ có thể lồng
ghép, tích hợp vào các môn học trong chương trình giáo dục mầm non và trong các
hoạt động hàng ngày của trẻ.
2. Thực trạng:
dùng, TTB phục vụ công tác GDBVMT cho trẻ tương đối đầy đủ
- Trẻ ngoan ngoãn, có nề nếp tốt, đi học chuyên cần đạt 95%.
2.2. Khó khăn:
- CSVC đã xuống cấp nhiều (nền gạch bùng, giột…); khu nhà vệ sinh XD không
phù hợp với trẻ; khuôn viên xanh - sạch - đẹp chưa hoàn chỉnh, cây xanh đã có
nhưng còn hạn chế về chủng loại; có hố xử lý rác thải nhưng chưa hợp lý...
4
- Trẻ nhanh nhớ mau quên, trẻ chưa tự ý thức được việc cần phải BVMT và vệ
sinh môi trường xung quanh…
-
Nhận thức của một số phụ huynh về GDBVMT cho trẻ còn chưa đầy đủ nên
công tác phối kết hợp với gia đình còn nhiều hạn chế, chưa tạo được sự đồng nhất...
- Trẻ trong lớp quá đông (36 cháu) và có 1 trẻ khuyết tật học hòa nhập nên ảnh
hưởng đến việc tổ chức các hoạt động GDBVMT cho trẻ.
- Trẻ chưa biết cách giữ gìn cẩn thận và sử dụng có hiệu quả các ĐDĐC được làm
từ nguyên vật liệu thiên nhiên, nguyên vật liệu phế thải…
Vào đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát trẻ theo 5 nội dung. Kết quả thu được
theo bảng sau:
BẢNG KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ TRẺ
T
T
1
2
3
Số
TL%
Trẻ đạt
Khá
Số
TL%
Chưa đạt
Trung bình
Số
TL% Số trẻ TL%
trẻ
trẻ
trẻ
4
11%
7
19,4
%
10
%
8
22,2
%
10
27,8
%
11
30,6
%
4
11%
7
19,4
%
9
25%
trong các nhiệm vụ quan trọng, được tiến hành thường xuyên, liên tục có hệ thống,
linh hoạt thông qua hoạt động hằng ngày nhằm củng cố và hệ thống hóa các kinh
nghiệm mà trẻ đã tích lũy được trong quá trình trẻ quan sát, học tập, vui chơi, lao
động, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe.
3.1. Tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục BVMT trong các chủ đề:
Giáo dục bảo vệ môi trường không phải là một môn học mà nó là một nội dung
được tích hợp vào tất cả các hoạt động trong ngày của trẻ theo các chủ đề. Vì vậy
giáo viên cần phải lựa chọn nội dung GDBVMT cho trẻ sao cho phù hợp với nội
dung của từng chủ đề một cách linh hoạt, sáng tạo, có hiệu quả, tạo ra mối liên hệ
chặt chẽ giữa nội dung tích hợp với nội dung chính của từng hoạt động.
Ví dụ 1: Chủ đề “ Trường mầm non” nội dung GDBVMT đưa vào dạy trẻ là:
Nhận biết môi trường sạch- bẩn và sự ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người;
Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường ở trong trường học; Cách phòng tránh khi
môi trường bị ô nhiễm; Cách giữ gìn vệ sinh trường lớp sạch sẽ; Tiết kiệm trong
tiêu dùng, sinh hoạt; Sắp xếp ĐDĐC gọn gàng, giữ gìn đồ dùng, đồ chơi…
Trẻ cùng cô lau dọn giá, góc, đồ chơi
Trẻ nhặt rác bỏ vào thùng
6
Ví dụ 2: Chủ đề “Thế giới thực vật” những nội dung GDBVMT tích hợp cho trẻ:
Trẻ biết được cây cần đất, ánh sáng, nước, không khí, …biết được cây cần có sự
chăm sóc của con người; biết cây để làm cảnh, cho bóng mát, cây có tác dụng điều
hoà và làm sạch không khí, cây còn giữ cho đất khỏi xói mòn khi mùa mưa bảo,
làm giảm ô nhiễm môi trường (giảm bụi, tiếng ồn, giảm nhiệt độ ngày hè…); biết
được những nguy hiểm xảy ra khi rừng cây bị tàn phá: Con vật không có nơi ở,
không có thức ăn, xảy ra lũ lụt, không còn những cây thuốc quý…Giáo dục trẻ cần
đến hạn hán. Con người, con vật thiếu nước sinh hoạt, thiếu nước để sản xuất và
cây cối thiếu nước sẽ bị khô héo cằn cỗi…
* GDBVMT thông qua các hoạt động học: Trẻ được tham gia nhiều vào các
hoạt động khác nhau và qua mỗi đó trẻ được quan sát, đàm thoại, thực hành trải
nghiệm, thí nghiệm, chơi các trò chơi.....với trẻ để trẻ nhận ra được những việc làm
tốt, không tốt, những hành động đúng – hành động không đúng kích thích trẻ suy
nghĩ, bộc lộ tình cảm, có thái độ phù hợp với môi trường trong và ngoài lớp học.
Chủ điểm: “Trường mầm non”: Tôi tổ chức cho trẻ chơi trò chơi “Hành vi
đúng – hành vi sai”. Cô làm tranh vẽ về việc giữ gìn bảo vệ môi trường của một
bạn nhỏ như: bé vứt rác vào thùng, vứt rác bừa bãi, bé quét nhà, giẫm lên cỏ, bé đu
cành cây, bé ngồi lên bàn, bé tranh giành đồ chơi...Sau đó chia trẻ làm hai đội, mỗi
đội có một bức tranh yêu cầu trẻ phải bật qua các vòng và yêu cầu đội khoanh tròn
8
các hành vi đúng và một đội khoanh vào những hành vi sai. Thời gian sau một bản
nhạc đội nào khoanh được đúng theo yêu cầu là chiến thắng
Ở chủ điểm: “Bản thân” Mục đích là giáo dục trẻ biết ích lợi của việc giữ gìn
vệ sinh thân thể, vệ sinh môi trường đối với sức khoẻ con người. Trẻ có hành vi và
thói quen tốt trong ăn uống: mời cô, mời bạn, không ăn quà vặt ngoài đường...
Nhận biết ký hiệu thông thường: nhà vệ sinh nam, nữ, thùng đựng rác… và biết
tránh một số vật dụng, nơi nguy hiểm đối với bản thân: dao, kéo, ổ cắm điện, ao,
hồ... Ví dụ: Trong giờ KPKH “Năm giác quan của bé” tôi cho trẻ tự mình khám
phá thực hành trải nghiệm về các giác quan và qua đó giáo dục trẻ biết chăm sóc
giữ gìn đôi mắt (không dụi tay bẩn lên mắt, rửa mặt hàng ngày bằng nước và khăn
sạch). Giáo dục trẻ biết giúp đỡ những bạn bị khiếm thị, bị cận... không cho tay bẩn
vào tai, không dùng que ngoáy tai của mình và của bạn, khi tắm gội chú ý không để
nước chui vào tai... biết đội mũ, ô và đeo khẩu trang khi ra nắng, thường xuyên
đánh răng và không ăn những thức ăn quá nóng, quá lạnh phải giữ vệ sinh răng
miệng hàng ngày, tiết kiệm nước khi rửa tay và đánh răng...
biết sử dụng và giữ gìn đồ dùng luôn sạch sẽ gọn gàng, ngăn nắp.... biết sống vì
môi trường, bảo vệ và giữ gìn môi trường, có thái độ đúng với môi trường một cách
tích cực và hiệu quả.
3.2. Giáo dục bảo vệ môi trường thông qua các hoạt động khác.
Nội dung GDBVMT trong trường mầm non được tích hợp trong các hoạt động
giáo dục dưới nhiều hình thức: Theo định hướng của giáo viên, theo ý thích của trẻ
hoặc trong thời gian dạo chơi ngoài trời, tham quan...
3.2.1. Giáo dục bảo vệ môi trường thông qua hoạt động vui chơi:
10
Hoạt động chơi mang tính tích hợp cao trong giáo dục trẻ, được tổ chức đáp ứng
nhu cầu của trẻ, đồng thời tích hợp nội dung giáo dục, trong đó có GDBVMT.
- Thông qua các trò chơi phân vai: trẻ được đóng vai và thể hiện các công việc của
người làm công tác bảo vệ môi trường như: Trồng cây, chăm sóc cây, thu gom rác,
xử lý các chất thải...Trò chơi bác sĩ, y tá (Khám chữa bệnh cho mọi người, chú ý
giữ gìn vệ sinh phòng khám, xử lý rác thải y tế...); đóng vai cảnh sát giao thông đi
bắt những người vi phạm lấn chiếm vỉa hè, gây mất trật tự công cộng, đi sai đường,
bán hàng rong... giáo dục trẻ luật lệ an toàn giao thông và bảo vệ môi trường. Trò
chơi gia đình: dọn dẹp nhà cửa, lau chùi nền nhà sạch sẽ, ngăn nắp; quần áo gấp
gọn gàng, đi mua đồ dùng gia đình, giữ gìn không rơi vỡ, ... trước khi ăn phải rửa
tay, rửa mặt sạch sẽ nhắc nhở mọi người phải tiết kiệm trong sinh hoạt...Trò chơi
nấu ăn: tập làm món ăn đơn giản, chú ý vệ sinh dụng cụ nhà bếp, tiết kiệm nước.
..
- Thông qua các trò chơi học tập: Trẻ tìm hiểu các hiện tượng trong môi trường,
học cách phân loại, so sánh, phân loại các hành vi tốt - xấu đối với môi trường,
phân biệt môi trường sạch – bẩn và tìm ra nguyên nhân của chúng; cho trẻ giải các
câu đố, kể lại các câu chuyện về BVMT...
- Thông qua các trò chơi vận động: Trẻ mô tả các hành vi BVMT hoặc làm hại môi
12
động thực sự của người lớn và các bạn cùng tuổi nhằm BVMT ở gia đình, trường
lớp sạch đẹp...
- Lao động chăm sóc vật nuôi, cây trồng.
- Lao động vệ sinh môi trường (lau chùi đồ chơi, xếp dọn đồ dùng ngăn nắp, nhặt
rác, thu gom lá ở sân trường...
Tôi hướng dẫn trẻ làm một số đồ dùng, đồ chơi từ nguyên vật liệu thiên nhiên và
vật liệu đã qua sử dụng: Lấy lá chuối làm kèn, nhặt hoa cỏ dại tập gói hoa tặng cô,
tặng mẹ.... Thông qua đó tôi giáo dục trẻ ý thức tiết kiệm và lao động sáng tạo.
Thường vào các buổi thứ 6 cuối tuần tôi cho trẻ lao động vệ sinh MTXQ trường lớp
như: Tổ Hoa Hồng: Thu gom rác xung quanh trường (nhặt giấy vụn, vỏ bimbim, vỏ
hộp sữa, thu gom lá bỏ vào thùng rác...); Tổ Hoa Cúc: Lau đồ dùng, đồ chơi, các
giá để đồ chơi của lớp; Tổ Hoa Mai: Sắp xếp đồ chơi đúng nơi quy định...
3.2.5. Thông qua hoạt động nêu gương.
Hoạt động nêu gương cũng là một trong những hoạt động để tôi tích hợp
GDBVMT, giúp cho trẻ có ý thức bảo vệ môi trường một cách hiệu quả nhất. Vào
những buổi nêu gương cô cho trẻ nêu kể những việc làm tốt giúp cô giáo và các
bạn như: biết kê bàn ăn, biết gấp khăn, biết nhặt rác bỏ vào thùng, biết chào hỏi,
khi mắc lỗi với cô hoặc bạn thì biết xin lỗi, khi có người khác giúp đỡ hay cho quà
thì biết cảm ơn...
Tôi tuyên dương, khích lệ trẻ kịp thời và cho trẻ được cắm cờ, trong đó chú
trọng khen ngợi những trẻ đã có hành vi bảo vệ môi trường như: nhặt lá rụng, quét
lớp, kê sạp ngủ, xếp gối, tiết kiệm nước khi rửa tay, rửa chân....Đồng thời chú ý
phát hiện và nhăc nhở nhẹ nhàng những trẻ có hành vi chưa tốt với môi trường như:
để đồ dùng, đồ chơi chưa gọn gàng, vứt rác bừa bãi...
3.2.6. Thông qua hoạt động lễ hội.
Hoạt động lễ hội có một vị trí rất quan trọng trong việc giáo dục trẻ bảo vệ môi
trường. Thông qua việc tổ chức lễ hội, hình thành ở trẻ các kỹ năng, thái độ, hành
- Khi đi qua những nơi có nhiều khói, bụi các con phải làm gì? Vì sao?
- Nếu con thấy bạn ăn bánh xong không bỏ vỏ vào thùng rác mà vứt xuống sân
trường con sẽ làm gì?....
Ngoài ra tôi luôn tận dụng những tình huống xảy ra trong lớp học để GDBVMT
cho trẻ chẳng hạn như: Trong giờ học Tạo hình khi có giấy thủ công vụn rơi ra lớp;
Khi đồ dùng, đồ chơi có bụi bẩn; Trong khi ăn có cơm rơi vãi….
Bên cạnh đó tôi còn sử dụng tranh ảnh, câu chuyện có tình huống để trẻ tự suy
nghĩ và giải quyết…
3.5. Công tác phối kết hợp cùng phụ huynh.
Tôi trao đổi trực tiếp với phụ huynh qua buổi đón trả về những hành vi tốt và
chưa tốt của trẻ về BVMT,...nhắc nhở để phụ huynh cùng phối hợp rèn nề nếp cho
trẻ, tuyên truyền cho các bậc phụ huynh khác cùng ý thức để bảo vệ môi trường...
Qua các buổi họp phụ huynh trao đổi về tầm quan trọng của việc giáo dục bảo vệ
môi trường, tuyên truyền phụ huynh rèn nề nếp cho trẻ ở nhà như nhắc trẻ biết chào
hỏi người lớn, mời bố mẹ ăn cơm, ăn cơm xong biết lấy tăm, lấy nước, biết tự gấp
quần áo để vào tủ của mình, cùng bố mẹ tham gia chăm sóc bảo vệ cây cối trong
gia đình, giữ gìn vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, tích cực diệt ruồi, muỗi...
Vận động phụ huynh tham gia lao động vệ sinh trường lớp, trồng cây xanh..., hỗ
trợ nguyên vật liệu phế thải làm đồ dùng đồ chơi cho trẻ...
3.6. Xây dựng cảnh quan, tạo môi trường cho trẻ hoạt động BVMT.
Việc tạo cảnh quan trong lớp học là việc làm vô cùng quan trọng. Cuối tuần tôi
thường tổ chức cho trẻ thi đua lau dọn, sắp xếp đồ chơi gọn gàng. Nhờ vậy, qua
mỗi lần tổ chức hoạt động vui chơi trẻ chơi xong thường thu dọn đồ chơi gọn gàng
15
và ngăn nắp đúng các góc qui định… trẻ cũng hiểu được vệ sinh lớp học giúp cho
không khí lớp học được trong lành, đồ dùng đồ chơi sạch sẽ không có bụi bẩn sẽ
nước, rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh…
- Trẻ có thái độ gần gũi với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, yêu quý chăm
sóc bảo vệ cỏ cây hoa lá trong gia đình, nhà trường và ở khắp mọi nơi, yêu quý
chăm sóc bảo vệ vật nuôi gần gũi, quý trọng bảo vệ đồ dùng đồ chơi, biết lau chùi
đồ dùng đồ chơi bị bụi bẩn....
- Trẻ tích cực, hào hứng tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường một cách,
tự nguyện. Trẻ mong muốn được làm những công việc phù hợp liên quan đến bảo
vệ môi trường.
17
- Trẻ biết yêu quý và bảo vệ thiên nhiên không bẻ cành ngắt lá, biết chăm sóc cây
cối, biết làm một số đồ chơi đơn giản từ vật liệu thiên nhiên.
- Trẻ đã biết động viên bố mẹ cùng tham gia BVMT như: nhắc bố mẹ không đi xe
máy, xe đạp vào sân trường làm bụi bẩn sân trường, nhắc bố mẹ thu gom phế liệu,
đóng góp tranh ảnh để làm đồ dùng, đồ chơi trang trí lớp, góc tuyên truyền.
BẢNG KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ TRẺ
(Sau khi áp dụng các biện pháp)
T
Nội dung khảo sát
T
(Tổng số trẻ được khảo
sát: 36 cháu)
1
Tốt
Số
TL%
Trẻ đạt
Khá
Số
TL%
Chưa đạt
Trung bình
Số
TL% Số trẻ TL%
trẻ
trẻ
trẻ
12
33,3
%
18
50%
6
50%
3
8,4%
0
0
15
41,6
%
16
44,4
%
5
14%
0
0
15
- Trang trí lớp đẹp, khoa học, có nhiều góc mở cho trẻ hoạt động.
-
Công tác vệ sinh môi trường, vệ sinh lớp học, vệ sinh trẻ luôn đảm bảo tốt đã
được nhà trường cũng như PGD đánh giá cao.
2. Bài học kinh nghiệm.
- Giáo viên phải nhận thức đầy đủ đúng đắn về nội dung GDBVMT đối với sự
phát triển của trẻ. Nghiên cứu và tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, tích cực tìm
tòi, sáng tạo áp dụng linh hoạt các phương pháp giảng dạy để GDBVMT cho trẻ
đạt hiệu quả...
- Các nội dung GDBVMT phải được thực hiện thường xuyên và lặp đi lặp lại để
trẻ khắc sâu kiến thức, tạo cho trẻ thói quen, hành vi, thái độ bảo vệ môi trường.
- Giáo viên phải luôn gương mẫu cho trẻ làm theo, luôn kiên trì hướng dẫn trẻ. Bố
trí, sắp xếp lớp học khoa học, gọn gàng phù hợp với chủ đề.
- Giáo viên cần dành thời gian nhiều hơn đến những cháu cá biệt để có biện pháp
giáo dục phù hợp. Luôn khích lệ giúp trẻ hiểu được ý nghĩa của mỗi việc trẻ làm
đối với bảo vệ môi trưòng.
- Tích cực sưu tầm tranh ảnh đẹp, hấp dẫn đảm bảo tính thẩm mỹ có nội dung
GDBVMT. Luôn có ý thức tận dụng các nguyên vật liệu sẵn có, phế thải trong sinh
hoạt hàng ngày để làm đồ dùng, đồ chơi phục vụ công tác giảng dạy trẻ.
- Giáo viên cần tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, bài giảng điện tử, sưu tầm
hình ảnh, băng đĩa chất lượng cao có nội dung về môi trường và GDBVMT để lưu
giữ và sử dụng trên tiết học và các hoạt động.
19
- Luôn phối kết hợp chặt chẽ với phụ huynh, đồng nhất trong công tác GDBVMT
cho trẻ ở gia đình và nhà trường.
3. Đề xuất, kiến nghị:
Trịnh Thị Lan
Ví dụ : Thứ 6 ngày 10 tháng 2 năm 2013. Với chủ đề “ Thế giới thực vật”
* Mục tiêu:
+ Trẻ biết được ích lợi của cây.
+ Trẻ biết được cây cối còn làm giảm ô nhiễm môi trường: giảm bụi, tiếng ồn, chất
độc hại, giảm nhiệt độ ngày hè…
+ Trẻ hiểu được một số việc làm của cô và trẻ nhằm bảo vệ môi trường: Cất đồ
dùng, đồ chơi gọn gàng, ngăn nắp. Không vứt rác tuỳ tiện, làm đồ dùng đồ chơi từ
các nguyên liệu phế thải, không nói quá to, tiết kiệm trong sinh hoạt và học tập(ăn
cơm phải ăn hết xuất,không đánh đổ cơm, không bỏ cơm thừa,cơm rơi nhặt cho
gọn vào đĩa. Không xả nước bừa bãi, vặn vòi nước lại khi không dùng nữa.Khi học
bài biết giữ gìn đồ dùng, tiết kiệm hồ khi làm đồ dùng…)
* Tiến hành các hoạt động trong ngày:
a. Đón trẻ:
- Giáo viên đến sớm, mở cửa thông thoáng lớp học.
- Quan sát nhắc nhở trẻ cất đồ dùng cá nhân đúng nơi quy định, ăn quà sáng vứt rác
vào thùng rác.
- Thể dục sáng nhắc trẻ không nói quá to , không nô đùa, xô đẩy nhau .
b. Trò chuyện sáng:
- Cô và trẻ trò chuyện: Hôm nay ai đưa con đi học? Bố mẹ đưa các con đi học bằng
phương tiện giao thông gì?
Khi được bố mẹ đưa đi học các con nhìn thấy hai bên đường có gì?( Cây xanh)
? Các con có biết cây xanh còn làm giảm ô nhiễm môi trường: giảm bụi, tiếng ồn
của xe cộ đi trên đường không?
c. Hoạt động chung: Trong giờ hoạt động có chủ đích dạy trẻ học bài thơ “Cây
dây leo” khi trao đổi với trẻ về nội dung bài thơ, tôi đặt câu hỏi trẻ:
? Vì sao cây dây leo phải bò ra cửa sổ ?
+ Góc học tập:
- Cho trẻ xem sách tranh và phân biệt những hành vi làm ô nhiễm môi trường như
( ném rác xuống ao hồ, bẻ hoa bẻ cành, không vặn vòi nước to… ) và những hành
vi tốt như ( lau bàn ghế, vứt rác đúng nơi quy định,đồ dùng đồ chơi cất gọn gàng
ngăn nắp…).Tô màu hành vi đúng, gạch chéo hành vi sai…
- Cô dạy trẻ cách cầm sách xem không làm hỏng sách, không cuộn sách khi sem,
không gạch, tẩy xóa trong sách, dở sách nhẹ nhàng từng trang một.
+ Góc nghệ thuật, tạo hình :
- Hát đọc thơ về cây xanh, con vật, trường lớp… có nội dung giáo dục bảo vệ môi
trường.
- Làm đồ dùng, đồ chơi từ nguyên vật liệu, phế liệu như: Vỏ hộp , vỏ bìa, lá cây
khô…
+ Góc thiên nhiên: Cô cho trẻ quan sát góc thiên nhiên xem sự phát triển của cây.
Thực hành kỹ năng chăm sóc cây: lau lá, tưới cây ,xới đất, nhổ cỏ, nhặt lá rụng…
h. Giờ ăn:
22
- Nhắc nhở trẻ ăn hết xuất, không bỏ dở xuất ăn,cơm rơi nhặt cho gọn vào đĩa,
không ngậm lâu trong miệng,không nói chuyện trong khi ăn, ăn phải nhai từ tốn,
không nhai nhồm nhoằm và nuốt vội .Trẻ ăn xong cất bát thìa đúng nơi quy định.
Lau miệng sạch sẽ, cô nhắc trẻ biết tiết kiệm nước, không vặn vòi nước lớn, dùng
xong vặn vòi lại, không được khoát nước vào người nhau.
i. Giờ ngủ:
Trẻ đi ngủ đúng giờ, ngủ đủ giấc, khi ngủ không được đùa nghịch, không nói
chuyện to. Ngủ dậy trẻ cùng cô cất gối chăn gọn gàng đúng nơi quy định.
k. Hoạt động chiều:
- Trẻ cùng cô vệ sinh trong và ngoài lớp học, lau bàn ghế, lau đồ chơi: Tôi chia
thành 4 nhóm mỗi nhóm làm một việc theo hình thức thi đua.
Giáo viên cần nhắc trẻ rửa sạch tay trước khi vào lớp, khi rửa tay giáo viên cần hỏi
trẻ làm thế nào để tiết kiệm nước? Vì sao phải tiết kiệm nước? ( Tiết kiệm nước là
đã tham gia bảo vệ môi trường ).
e. Hoạt động chung: Trong giờ hoạt động có chủ đích. Ví dụ khi dạy trẻ học
bài thơ: “ Cây dây leo”. Khi trao đổi với trẻ về nội dung bài thơ giáo viên đặt câu
hỏi:
+ Vì sao cây dây leo phải bò ra cửa sổ?
+ Vậy muốn cây lớn nhanh ta phải làm gì?
g. Hoạt động góc:
- Đây là hoạt động mà trẻ thể hiện được sự hiển biết và thể hiện kỹ năng của
mình vì thế giáo viên cần chú ý tổ chức tốt hoạt động này, đặc biệt chú ý lồng ghép
giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ, tạo cho trẻ nhiều góc mở để trẻ được thể hiện
hết khả năng của mình, đây cũng là thời cơ để giáo viên quan sát những hành vi mà
trẻ thể hiện trong khi chơi, từ đó kịp thời uốn nắn cũng như khích lệ trẻ chơi tốt
hơn. Vào những buổi hoạt động chiều, giáo viên hướng dẫn trẻ cách chơi ở các góc,
đồng thời luôn nhắc nhở trẻ trong khi chơi không được nói to, không quăng ném đồ
24
chơi, không tranh giành đồ chơi với bạn, ném đồ chơi sẽ làm cho đồ chơi chóng bị
hỏng, đó cũng là những hành vi không tốt đối với môi trường.
- Góc học tập:
Cho trẻ xem tranh và phân biệt những hành vi làm ô nhiễm môi trường như: Ném
rác xuống ao hồ, bẻ hoa, bẻ cành, vặn vòi nước to. Và những hành vi tốt như: Lau
bàn ghế, vứt rác đúng nơi quy định, sắp xếp đồ dùng đồ chơi ngăn nắp, tưới cây,
lau lá cây. Tô màu hành vi đúng, gạch chéo hành vi sai...
Cô cần dạy trẻ cách cầm sách nhẹ nhàng không làm hỏng sách, không cuộn sách
khi xem, không gạch, tẩy xoá trong sách, giở sách nhẹ nhàng từng trang một.
- Góc nghệ thuật tạo hình:
Hát, đọc thơ về cây xanh, con vật, trường lớp có nội dung giáo dục bảo vệ môi