Sáng kiến kinh nghiệm vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý trường phổ thông nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên - Pdf 38

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI: “Vận dụng nguyên tắc tập trung
dân chủ trong quản lý trường phổ thông
nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên”

1


Vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý trường phổ thông
nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên.
MỤC LỤC

Phần mở đầu

3

1. Lý do chọn đề tài; 2. Mục tiêu nghiên cứu; 3. Nhiệm vụ nghiên cứu

5

4. Phương pháp nghiên cứu
Phần nội dung
Chương I: Một số vấn đề lí luận của việc vận dụng nguyên tắc TTDC
nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
1. Cơ sở khoa học của việc vận dụng nguyên tắc TTDC nhằm
nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
2. Cơ sở pháp lý của việc vận dụng nguyên tắc TTDC nhằm nâng
cao chất lượng đội ngũ giáo viên
3. Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng nguyên tắc TTDC nhằm
nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
Chương II: Thực trạng của việc vận dụng nguyên tắc TTDC nhằm nâng

người đi vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của trí tuệ, kỷ nguyên của KHKT hiện đại; và
sẽ không hoàn thành sứ mệnh CNH - HĐH đất nước. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã
nói: “ Nghề dạy học là nghề sáng tạo bậc nhất vì nó sáng tạo ra những con người sáng
tạo”.
Chỉ thị số 40- CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Ban Bí thư Trung ương
Đảng về "Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
giai đoạn 2005 - 2010" đã ghi nhận rõ lí do vì sao phải xây dựng, nâng cao chất lượng
đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục : “Trong lịch sử nước ta, "tôn sư trọng đạo"
là truyền thống quý báu của dân tộc, nhà giáo bao giờ cũng được nhân dân yêu mến,
kính trọng. Những năm qua, chúng ta đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục ngày càng đông đảo, phần lớn có phẩm chất đạo đức và ý thức chính
trị tốt, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng được nâng cao. Đội ngũ này đã đáp
ứng quan trọng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp
phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của đất nước. Tuy nhiên, trước những yêu
cầu mới của sự phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đội ngũ
nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có những hạn chế, bất cập. Số lượng giáo viên còn
thiếu nhiều, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số...Cơ cấu
3


giáo viên đang mất cân đối giữa các môn học, bậc học, các vùng, miền. Chất lượng
chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo có mặt chưa đáp ứng yêu cầu và truyền
đạt lý thuyết, ít chú ý đến phát triển tư duy, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành của
người học; một bộ phận nhà giáo thiếu gương mẫu trong đạo dức, lối sống, nhân cách,
chưa làm gương tốt cho học sinh, sinh viên. Năng lực của sự nghiệp giáo dục. Chế độ,
chính sách còn bất hợp lý, chưa tạo được động lực đủ mạnh để phát huy tiềm năng của
đội ngũ này.
Tình hình trên đòi hỏi phải tăng cường xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục một cách toàn diện. Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt,
vừa mang tính chiến lược lâu dài, nhằm thực hiện thành công Chiến lược phát triển giáo

b. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.

4


c. Nhóm phương pháp nghiên cứu hỗ trợ (biểu bảng, sơ đồ).

PHẦN NỘI DUNG:
CHƯƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CỦA TRƯỜNG PHỔ THÔNG .
1. Cơ sở khoa học của việc xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên trường phổ
thông
Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, ngành giáo dục Việt Nam đã
không ngừng chăm lo xây dựng đội ngũ giáo viên cả về số lượng lẫn chất lượng.
Ngày nay, chúng ta đã có một hệ thống trường sư phạm đào tạo giáo viên mọi cấp,
từ Trung ương đến địa phương. Tỉ lệ giáo viên chuẩn ngày một cao hơn. Đội ngũ
giáo viên đó đã tạo nên thành tựu rực rỡ cho nền giáo dục XHCN Việt Nam. Vấn đề
đội ngũ giáo viên hiện nay là họ đã thấm nhuần tư tưởng chỉ đạo của Nghị quyết Ban
chấp hành Trung ương 2, Ngành giáo dục và đào tạo đã có nhiều biện pháp để nâng
cao chất lượng của đội ngũ giáo viên nói chung, giáo viên phổ thông nói riêng, đã
và đang không ngừng lớn mạnh về số lượng cũng như chất lượng.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây với cơ chế thị trường, bên cạnh những
mặt tích cực, đã gây nên những biến động lớn, làm đảo lộn nhiều bậc thang giá trị
trong xã hội, trong đó có giáo dục và đào tạo. Nguyên nhân của sự giảm sút này có
nhiều, trong đó vấn đề đội ngũ giáo viên là nguyên nhân quan trọng. Bởi một số giáo
viên còn có những biểu hiện chưa toàn tâm toàn ý phục vụ sự nghiệp giáo dục, và
một số bộ phận không đủ điều kiện đảm nhận trách nhiệm người thầy. Sự phân bố
đội ngũ giảng dạy lại không đồng đều; nơi thừa, nơi thiếu, môn thừa, môn thiếu. Đời
sống cán bộ giáo viên cũng có sự phân bố sâu sắc. Trong lúc đó, đất nước ta trong

Sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương cần tập trung vào các vấn đề vĩ mô như: thể
chế, chiến lược, qui hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành cũng như toàn bộ nền
kinh tế, còn mở rộng dân chủ ở địa phương là phải có sự phân định rõ ràng về thẩm
quyền và trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền; tiến hành phân cấp quản lý cho địa
phương quản lý các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục, đời sống, thu - chi ngân sách, tổ
chức nhân sự... ở địa phương; xác định rõ trách nhiệm quản lý theo ngành và theo lãnh
thổ.
Các cơ quan quyền lực nhà nước là do dân bầu ra, các cơ quan đó phải chịu trách
nhiệm, phải báo cáo công tác trước nhân dân, phải chịu sự giám sát của nhân dân. Các
cơ quan tư pháp, hành pháp tối cao là do Quốc hội lập ra, các cơ quan đó cũng phải chịu
sự giám sát của Quốc hội; phải chịu trách nhiệm và phải báo cáo công tác trước Quốc
hội.
6


Nguyên tắc tập trung dân chủ đòi hỏi phải có sự qui định rõ ràng về các chức
năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của từng loại cơ quan nhà nước, của từng chức danh công
chức, cán bộ. Phải có sự phân định rõ trách nhiệm tập thể của các cơ quan nhà nước và
trách nhiệm cá nhân của từng công chức, cán bộ. Phải xây dựng chế độ kết hợp giữa tập
thể lãnh đạo và cá nhân phục trách.
Quản lý nhà nước về giáo dục cũng tuân thủ nguyên tắc này. Dưới góc độ vĩ
mô nguyên tắc này có nghĩa là nhà nước thống nhất quản lí HTGDQD về mục tiêu,
chương trình, nội dung,... qui chế thi cử và hệ thống văn bằng (Luật Giáo dục 2005).
Bên cạnh đó phân cấp rõ ràng về QLGD cho địa phương và tạo điều kiện để cơ sở
phát huy chủ động và sáng tạo.
Nguyên tắc tập trung dân chủ quá quen thuộc đối với tất cả các cơ quan nhà
nước, các tổ chức chính trị, xã hội, các đơn vị sự nghiệp… ở Việt Nam.
Tuy nhiên để hiểu đúng và có thể vận dụng được nguyên tắc tập trung dân chủ
trong hoạt động quản lí nhà nước về giáo dục ở cơ sở cần suy nghĩ để trả lời câu hỏi
: Làm thế nào giải quyết tốt mối quan hệ giữa chế độ thủ trưởng và thực hiện dân

Quan hệ ấy cũng nhiều tầng, bậc do vai trò của từng lực lượng trong quan hệ
phối hợp.
. Hiệu trưởng phối hợp với tổ chức Đảng, các tổ chức đoàn thể trong trường
phổ thông nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục, cụ thể là :
a) Quan hệ phối hợp trên cơ sở quy định của pháp luật
Để phát triển giáo dục nói chung và phát triển trường phổ thông nói riêng có
nhiều văn bản pháp luật quy định nhiệm vụ, trách nhiệm của nhà trường và các tổ
chức đoàn thể.
- "Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về
đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá
nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã
hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân;…. Giáo dục tiểu học
nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn
và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh
tiếp tục học trung học cơ sở." (Điều 27 Luật Giáo dục).
- "Các đoàn thể nhân dân trước hết là Đoàn TNCS HCM, các tổ chức xã hội,
các tổ chức kinh tế, gia đình cùng nhà trường có trách nhiệm giáo dục thanh niên,
thiếu niên, nhi đồng". "Đoàn TNCS HCM có trách nhiệm phối hợp với nhà trường
giáo dục thanh niên, thiếu niên, nhi đồng, vận động thanh niên gương mẫu trong học
tập, rèn luyện tham gia sự nghiệp giáo dục".
Điều 22, Điều lệ trường phổ thông quy định: ”Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam và
đoàn thể trong trường
8


1. Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong trường tiểu học lãnh đạo nhà trường
và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật và Điều lệ của Đảng.
2. Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền
phong Hồ Chí Minh, Sao Nhi đồng Hồ Chí Minh và các tổ chức xã hội khác hoạt
động trong trường tiểu học theo quy định của pháp luật và Điều lệ của từng tổ chức

nhiều hoạt động khác.
Trong thời kỳ đổi mới của đất nước, Công đoàn ngành Giáo dục đã phối hợp
với Bộ GD & ĐT tạo phát động bốn cuộc vận động : dân chủ hoá nhà trường, xã hội
hoá giáo dục, kỷ cương - tình thương - trách nhiệm và gia đình nhà giáo văn hóa.
Hiệu trưởng và Công đoàn trong trường phổ thông PT phối hợp thực hiện bốn
cuộc vận động đó, trên cơ sở các văn bản hướng dẫn của cấp trên và tình hình thực
tiễn của địa phương.
Như vậy mối quan hệ giữa Hiệu trưởng và Công đoàn trong trường phổ thông
PT rất đa dạng và phong phú ở nhiều mức độ khác nhau. Hiệu quả của sự phối hợp
này phụ thuộc vào sự năng động, năng lực của Hiệu trưởng và Ban chấp hành Công
đoàn trong việc thực hiện các văn bản pháp quy và giải quyết tình hình thực tiễn
trong nhà trường.
. Hiệu trưởng phối hợp với Đoàn TNCS HCM
Đoàn TNCS HCM trong trường phổ thông là tổ chức gần Đảng nhất, là lực
lượng đông đảo trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chính trị của nhà trường.
Đoàn TNCS HCM có vị trí, vai trò đã được khẳng định trong Hiến pháp, trong
Luật Giáo dục và trong Điều lệ Đoàn. Đoàn có trách nhiệm phối hợp với Hiệu
trưởng về giáo dục thế hệ trẻ. Đoàn có vai trò nòng cốt trong các tổ chức học sinh và
thanh niên trong các hoạt động giáo dục. Tổ chức quần chúng đông đảo này là đối
tượng giáo dục đồng thời cũng là chủ thể công tác giáo dục. Cho nên vai trò đảm bảo
hiệu quả chất lượng giáo dục thực sự đặt lên vai Đoàn Thanh niên. Trong sự phối
hợp giữa Hiệu trưởng và Đoàn TNCS HCM có rất nhiều hình thức phong phú về
công tác giáo dục trong nhà trường.
Đoàn TNCS HCM trong trường phổ thông có tiềm năng lớn tham gia công tác
giáo dục.
Đoàn Thanh niên cùng với Hiệu trưởng thực hiện các hoạt động ngay trong nhà
trường. Việc chỉ đạo hoạt động đoàn trong nhà trường phổ thông ực chất là việc chỉ
đạo học tập và tham gia các hoạt động giáo dục theo kế hoạch của nhà trường, kết hợp
với những chủ trương về giáo dục của bản thân Đoàn Thanh niên theo hướng chỉ đạo
của Ban nhà trường từ Trung ương Đoàn.

tắc tập trung dân chủ ở cơ sở, trong tổ chức điều hành công việc hàng ngày cần thực
hiện tốt chế độ thủ trưởng nhưng phải bảo đảm thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.
1.2. Tập thể sư phạm trong trường phổ thông
a. Khái niệm
Tập thể sư phạm trong trường phổ thông là tổ chức của tập thể lao động sư phạm,
đứng đầu là Hiệu trưởng. Tập thể sư phạm liên kết các giáo viên, cán bộ, nhân viên
11


thành một cộng đồng giáo dục có tổ chức, có mục đích giáo dục thống nhất, có
phương thức hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường. Đội ngũ
giáo viên là lực lượng chủ yếu, quan trọng nhất trong tập thể sư phạm nhà trường
làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, là người quyết định chất lượng
đào tạo trong nhà trường.
Tập thể sư phạm nhà trường đa dạng hoá về cơ cấu tổ chức, bao gồm Ban
giám hiệu, tổ chức Đảng, các tổ chuyên môn, tổ hành chính, Hội đồng trường, các
hội đồng khác và các tổ chức đoàn thể trong nhà trường....
Giáo viên nhà trường phổ thông được tổ chức thành các tổ chuyên môn, theo
môn học, hoặc nhóm môn học, có tổ trưởng, tổ phó, do hiệu trưởng chỉ định và giao
nhiệm vụ: nhiệm vụ của họ là xây dựng kế hoạch hoạt động của tổ, hướng dẫn xây
dựng và quản lý kế hoạch của từng giáo viên trong tổ theo kế hoạch dạy học, tổ chức
bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, tổ chức kiểm tra, đánh giá chất lượng thực hiện
nhiệm vụ của giáo viên, đề xuất khen thưởng hoặc kỷ luật đối với những giáo viên
có thành tích hoặc vi phạm kỷ luật. Tổ trưởng sử dụng các buổi sinh hoạt để thực
hiện nhiệm vụ quản lý của mình.
Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam trong nhà trường phổ thông được tổ chức
thành chi bộ - Chi bộ lãnh đạo nhà trường hoạt động theo điều lệ Đảng trong khuôn
khổ hiến pháp và pháp luật.

Chi bộ Đảng

Lao động của giáo viên là loại hình lao động đặc thù, đối tượng lao động sư phạm trường
phổ thông là học sinh lứa tuổi từ 06 đến 11 tuổi; lứa tuổi có sự phát triển cao về tâm lý,
sinh lý. Học sinh có nhu cầu cao về trí tuệ và tình cảm với người thầy. Phương tiện lao
động cũng rất đặc thù. Đó là nhân cách của người thầy cùng các thiết bị dạy học, trong đó
nhân cách người thầy đóng vai trò quan trọng nhất. Thời gian lao động sư phạm không
chỉ đảm bảo được quy định trong chương trình đào tạo và chế độ lao động sư phạm
không chỉ đảm bảo được quy định trong chương trình đào tạo và chế độ lao động mà cần
mang tính năng động, sáng tạo, cộng với say mê nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm
trước thế hệ trẻ và trước toàn xã hội.
Sản phẩm của lao động sư phạm là những nhân cách phát triển toàn diện, đạt được
mục tiêu giáo dục của nhà trường. Nghĩa là sản phẩm đó không được quyền có phế phẩm.
Học sinh TH phải thoả mãn được những nhu cầu của bản thân, gia đình và xã hội. Lao
động sư phạm của người giáo viên vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật và
tính nhân đạo cao. Nó mang đặc thù của nghề sư phạm, đồng thời có tính liên kết công
tác, phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. Bời vì sự hình thành
và phát triển nhân cách của người học sinh cũng như sự chi phối của "Tổng hoà các mỗi
quan hệ xã hội" trong đó tạp thể sư phạm nhà trường là lực lượng giáo dục chuyên biệt có
hệ thống, thường xuyên và cơ bản nhất.
Các yếu tố tâm lý xã hội của tập thể sư phạm: quá trình tâm lý xã hội của một tập thể
sư phạm thường biểu hiện ở sự giao tiếp thích nghi, tìm hiểu, đánh giá, cảm hoá, thuyết
phục, bắc chước, lan truyền cảm xúc cho nhau. Sự chia rẽ, xung đột cũng có thể xảy ra
13


trong quá trình tâm lý của tập thể sư phạm. Trong quá trình đó, mối quan hệ thường tập
trung vào Ban lãnh đạo của tập thể sư phạm.
Ban giám hiệu, Chi bộ Đảng, Ban chấp hành Công đoàn. Ban chấp hành Đoàn
trường bao giờ cũng có tác động thúc đẩy hay kìm hãm các quá trình tâm lý xã hội của
tập thể sư phạm. Các thuộc tính của tập thể sư phạm bao gồm tất cả các đặc điểm về đời
sống tinh thần, về trạng thái tâm lý xã hội của tập thể. Đó là nhu cầu về lợi ích chung của

bách xây dựng đội ngũ nhà giáo.
- Chỉ thị số 16/1999/CT-BGD&ĐT về vấn đề bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý
GD&ĐT trong các dịp nghỉ hè.
- Chỉ thị năm học của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT và hướng dẫn nhiệm vụ năm học,.....
3. Cơ sở thực tiễn :

16


Nghị quyết BCH Trung ương 2 của Đảng CSVN về giáo dục và đào tạo đã có
nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Có thể nói rằng: trong
những năm qua, đội ngũ giáo viên phổ thông không những lớn mạnh về số lượng
cũng như về chất lượng, trình độ chuẩn ngày một nâng cao.
Tuy nhiên trên thực tế, đội ngũ giáo viên vẫn còn trong tình trạng chưa đủ về
số lượng, yếu về chất lượng, thiếu đồng bộ về cơ cấu.
Nhưng vấn đề đáng lo ngại nhất là chất lượng đích thực của đội ngũ giáo viên.
Có thể thấy trình độ chuyên môn còn yếu, ít am hiểu các kiến thức về cuộc sống và
khoa học cơ bản. Nhiều giáo viên không những hạn chế về kiến thức mà còn thiếu
một cái "Tâm" về giáo dục. Một bộ phận giáo viên có trình độ chuyên môn tốt
nhưng chỉ lo dạy thêm, chạy sô kiếm tiền.
Trong số giáo viên này, họ nói thực rằng: "Vấn đề đáng quan tâm là kiếm
được bao nhiều tiền, dạy được bao nhiêu lớp" mà không biết, vì thế mà uy tín của rất
kém về ý thức phấn đấu, không chịu tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ
chuyên môn mà chú tâm vào những việc vặt vãnh, tầm thường. Thái độ thường trực
của những giáo viên này là mệt mỏi, bàng quan với những công việc của chính
mình, công việc trên lớp thì qua loa, chiếu lệ.
Ngoài ra còn một số rào cản, ảnh hưởng không nhỏ đến động lực trong mỗi
giáo viên, không kích thích, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Đó là công tác
bổ nhiệm cán bộ, công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra đánh giá giáo viên, công tác
thi đua khen thưởng, công tác đánh giá học sinh. Một số cán bộ quản lý có thái độ

khoảng 23% là đảng viên.
Hệ thống các trường đào tạo giáo viên, quy mô đào tạo giáo viên ở các cấp học, bậc
học, các địa phương được mở rộng. Chất lượng đào tạo giáo viên đang dần được nâng
cao. Công tác bồi dưỡng giáo viên được thực hiện thường xuyên và định kỳ, nhiều
người được cử đi học ở trong nước và nước ngoài để nâng cao trình độ. Hiện nay tỷ lệ
giáo viên đạt chuẩn ở các bậc học là: mầm non 54,5%; tiểu học 87,5%; trung học cơ sở
(THCS) 91,5%; trung học phổ thông (THPT) 95,35%; dạy nghề 71%; trung học
chuyên nghiệp (THCN) 85,17%. Bậc đại học và sau đại học đã có 1.654 giáo sư và phó
giáo sư, 5.743 tiến sĩ và tiến sĩ khoa học, 10.599 thạc sĩ và 571 chuyên khoa cấp I,II.
Những năm gần đây, nhiều chế độ chính sách ưu đãi nhà giáo đã được thể chế hoá.
Nhờ đó, nhiều tỉnh đã giải quyết được một phần đáng kể tình trạng thiếu giáo viên, giáo
viên yếu kém. Chính sách miễn học phí cho các học sinh, sinh viên sư phạm đã tạo một
buớc chuyển biến rõ rệt chất lượng đầu vào của các trường sư phạm các cấp. Số giảng
viên trẻ được cử đi đào tạo sau đại học ở trong nước và nước ngoài ngày càng nhiều
đang góp phần khắc phục tình trạng hẫng hụt về trình độ đội ngũ giảng viên các trường
cao đẳng, đại học (CĐ, ĐH).
18


Đội ngũ CBQLGD hiện có khoảng 10.400 người ở cấp bộ, sở, phòng và có khoảng
80.000 người ở các trường học, chiếm 10% tổng số cán bộ công chức và viên chức toàn
ngành. Đội ngũ CBQLGD đã từng bước được hoàn chỉnh về cơ cấu và nghiệp vụ; nói
chung có ý thức chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn
và kinh nghiệm quản lý; đã và đang là lực lượng nòng cốt thực hiện các chủ trương, công
tác của ngành, của địa phương và nhà trường. Cơ chế tuyển chọn, quy trình, thủ tục bổ
nhiệm CBQLGD từng bước được hoàn thiện và được các cấp có thẩm quyền thực hiện
nghiêm túc. Nhìn chung, phần lớn CBQLGD được bố trí, sử dụng đúng chuyên môn, sở
trường, do đó đã tạo điều kiện để họ phát huy khả năng của bản thân.
Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004, Ban Bí thư Trung ương đã đánh giá:
"Những năm qua, chúng ta đã xây dựng được đọi ngũ NG& CBQLGD ngày càng đông





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status