ĐỀ TÀI:
NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VÀ VIỆC LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM
Chương 1: Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
của triết học Mác – Lênin
-
I. Khái niệm thực tiễn.
1. Thực tiễn
Thực tiễn là phạm trù triết học chỉ toàn bộ hoạt động vật chất có tính chất
lịch sử xã hội của con người làm biến đổi tự nhiên xã hội và bản thân con người.
- Đặc trưng của thực tiễn:
+ Thực tiễn là hoạt động của con người nó là một quan hệ chủ thể và khách thể.
+ Thực tiễn là hoạt động khách quan cảm tính hoạt động vật chất phổ biến.
+ Thực tiễn là hoạt động biến đổi hiện thực.
+Thực tiễn là hoạt động căn bản, nền tảng của mọi hoạt động của con người và
xã hội.
+ Thực tiễn là hoạt động có tính lịch sử xã hội.
Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất, đối tượng cảm tính có mục đích có
tính lịch sử xã hội của con người với nội dung là chinh phục và cải biến
khách thể tự nhiên xã hội và cấu thành cơ sở phổ biến, động lực phát triển
của xã hội, nhận thức của con người.
Tóm lại bản chất của hoạt động thực tiễn đó là sự tác động qua lại của chủ thể và
khách thể .
Hoạt động thực tiễn có tính hướng đích và tính hướng đích này do ý thức và lợi ích
của các tập đoàn xã hội quy định. Hoạt động thực tiễn đa dạng, song có thể chia làm
3 hình thức cơ bản:
+ Lao động sản xuất vật chất là hình thức thực tiễn cơ bản nhất, là hoạt động
trực tiếp tác động vào tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát
Để hình thành lý luận, con người phải thông qua quá trình nhận thức kinh
nghiệm. Nhận thức kinh nghiệm là quá trình quan sát sự lặp đi lặp lại diễn biến của
các sự vật hiện tượng. Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là tri thức kinh nghiệm.
Tri thức kinh nghiệm bao gồm tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinh
nghiệm khoa học. Tri thức kinh nghiệm tuy là thành tố của tri thức ở trình độ thấp
nhưng nó là cơ sở để hình thành lý luận.
Lý luận là sự nhận thức bản chất mối liên hệ bên trong tất yếu của đối tượng
và diễn đạt kết quả của nhận thức đó bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù,
phán đoán về quy luật nội tại của đối tượng. Hay nói cách khác Lý luận là
kết quả của quá trình nhận thức.
2. Đặc điểm lý luận.
- Về nội dung: Lý luận phản ánh bản chất mối liên hệ tất yếu của đối tượng. Theo
Lê nin cũng là cái phổ biến, quy luật của đối tượng trong tính chỉnh thể toàn vẹn
của nó hoặc của từng mặt xác định của đối tượng.
- Về mặt hình thức: Lý luận diễn đạt nội dung trên bằng các khái niệm phán đoán.
Lý luận có tính trừu tượng, khái quát tổng hợp cao là do các chủ thể đã sử dụng các
thủ thuật nghiên cứu như quy nạp phân tích so sánh. Đặc điểm nổi bật của hoạt
động lý luận là nó có tính gián tiếp đối với các đối tượng nhận thức. Chủ thể phải
vận dụng tối đa tư duy trừu tượng và sức trừu tượng hóa cao chứ không đơn thuần
nắm bắt những tác động trực tiếp vào các giác quan. Chủ thể lý luận phải là người
hoạt động tự giác và tích cực chủ động chiếm lĩnh đối tượng.
3. Cấu trúc của hoạt động lý luận.
Hoạt động lý luận là một hệ thống có cấu trúc cơ bản gồm: Chủ thể (Người hoạt
động lý luận), khách thể (đối tượng của hoạt động lý luận), điều kiện hoạt động của
lý luận, kết quả hoạt động của lý luận.
+ Chủ thể hoạt động của lý luận là con người xã hội có nhu cầu, mục đích, năng lực
trí tuệ, thể lực và có kĩ năng, kinh nghiệm cùng các phương tiện công cụ (vật chất,
tinh thần) cần thiết cho hoạt động đó. Mục đích trực tiếp của chủ thể hoạt động lý
luận là nắm bắt những quá trình mang tính bản chất, quy luật của đối tượng phục vụ
cho việc thực hiện những mục đích lâu dài là thỏa mãn lợi ích kinh tế xã hoạt của
Chức năng phương pháp luận của lý luận (hay tri thức luận) cho quá trình hoạt
động thực tiễn ở trình độ chung hay chung nhất. Đó vừa là chức năng phương pháp
luận cho hoạt động nhận thức, vừa là chức năng cho hoạt động cải tạo hiện thực
khách quan. Có phương pháp luận chung nhất, phương pháp luận chung và phương
pháp luận chuyên ngành. Mỗi cấp độ phương pháp luận có vai trò và hiệu quả khác
nhau trong quá trình hoạt động. Mỗi lĩnh vực cụ thể đều có phương pháp luận cụ
thể. Phương pháp luận cụ thể chỉ đúng khi không đối lập với phương pháp luận
chung hay chung nhất.
III.Mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và lý luận.
1. Liên hệ vừa thống nhất vừa đối lập giữa thực tiễn và lý luận
a/ Sự thống nhất giữa thực tiễn và lý luận:
- Chúng không thể tách rời nhau, sản phẩm của nhận thức lý luận nảy sinh từ thực
tiễn, thực tiễn quy định nội dung lý luận, lý luận hình thành, phát triển là vì mục
đích thực tiễn.
- Giữa thực tiễn và lý luận có sự tương thích, tương ứng. Thực tiễn cần được soi
tỏ bằng lý luận của nó và lý luận bao giờ cũng là về thực tiễn nhất định. Không
có thực tiễn được soi tỏ bằng lý luận bất kỳ, cũng như không có lý luận về mọi
thực tiễn.
- Đồng nhất biện chứng giữa thực tiễn và lý luận, đó là sự chuyển hoá lý luận
thành thực tiễn, áp dụng thành công lý luận vào thực tiễn, lý luận như một thành
tố, kết quả tất yếu của thực tiễn.
b/ Sự đối lập giữa lý luận và thực tiễn:
- Sự đối lập giữa cái phản ánh, kết quả với cái được phản ánh, nguồn gốc, cơ sở
- Sự đối lập giữa cái bị quy định và cái quy định
- Sự lạc hậu của lý luận so với thực tiễn và ngược lại
2. Vai trò tác động lẫn nhau giữa thực tiễn và lý luận
a/ Thực tiễn giữ vai trò quyết định đối với lý luận
Thực tiễn là hoạt động vật chất, còn lý luận là sản phẩm của hoạt động tinh thần.
Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và là tiêu chuẩn của lý luận; lý luận hình
thành, phát triển phải xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
hoạt động của con người. Lý luận một khi thâm nhập vào quần chúng thì biến thành
“lực lượng vật chất”. Lý luận có thể vượt trước các dữ liệu thực tiễn, do lý luận chỉ
ra các mối liên hệ chung, có thể dự báo được xu hướng vận động của sự việc. Lý
luận có thể mang tính trừu tượng và khái quát cao, tính logíc và tính hệ thống chặt
chẽ thì lý luận mới có khả năng thuyết phục người khác.
Tuy lý luận bắt nguồn từ thực tiễn, phản ánh khái quát những vấn đề sinh động
của thực tiễn, và nó do thực tiễn quy định, phụ thuộc vào thực tiễn; nhưng nó có
tính độc lập tương đối so với thực tiễn, nó có thể tác động trở lại thực tiễn và góp
phần làm biến đổi thực tiễn. Khi lý luận tác động trở lại thực tiễn:
- Trường hợp lý luận đúng: thì lý luận có vai trò tác động tích cực đối với thực
tiễn, một khi nó phản ánh đúng thực tại khách quan và thâm nhập được vào quần
chúng. C. Mác nói: vũ khí phê phán không thể thay thế được sự phê phán bằng
vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể đánh đổ được bằng lực lượng vật chất.
Những quy luật cũng sẽ trở thành vật chất khi nó thâm nhập sâu vào quần
chúng.
- Trường hợp lý luận sai: nếu là lý luận sai lầm, ảo tưởng, chủ quan, giáo điều,
kinh nghiệm chủ nghĩa… thì sẽ tác động tiêu cực trở lại đối với thực tiễn, kiềm
hãm sự phát triển của thực tiễn. C. Mác viết: cái cụ thể sỡ dĩ là cụ thể vì nó là sự
tổng hợp của nhiều tính quy định, do đó, nó là sự thống nhất của cái đa dạng.
Cho nên trong tư duy, nó biểu hiện ra là một quá trình tổng hợp, là kết quả, chứ
không phải là điểm xuất phát, mặc dù nó là điểm xuất phát thực sự và do đó
4
cũng là điểm xuất phát của trực quan và của biểu tượng… phương pháp đi từ
trừu tượng đến cụ thể chỉ là cái phương pháp nhờ nó mà tư duy quán triệt được
cái cụ thể và tái tạo nó với tư cách là một cái cụ thể trong tư duy.
3.
Yêu cầu của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
a/ Thừa nhận thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận, cần chú ý những vấn
hướng theo những mục khác nhau. Cần đưa ra những dự báo về các diễn biến, các
mối quan hệ, lực lượng tiến hành và những phát sinh của nó trong quá trình phát
triển để phát huy các nhân tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực nhằm đạt kết
quả cao.
- Phải bám sát diễn biến của thực tiễn để kịp thời điều chỉnh, bổ sung những
khiếm khuyết của lý luận, hoặc thay đổi lý luận cho phù hợp với thực tiễn.
- Lý luận có thể mang lại hiệu quả, hoặc không mang lại hiệu quả, hoặc kết
quả chưa rõ ràng. Khi đó, giá trị của lý luận do thực tiễn quy định. V.I.Lê nin nhận
xét rằng: “thực tiễn cao hơn nhận thức, vì nó có ưu điểm không những của tính phổ
biến, mà cả tính hiện thực trực tiếp”.
Tóm lại lý luận khoa học và thực tiễn cấu thành sự thống nhất giữa các mặt
đối lập. Trong đó vai trò quyết định thuộc về thực tiễn. Chính thực tiễn quyết định
5
những đặc trưng cấu trúc căn bản của quá trình nhận thức ở cả giai đoạn cảm tính
lẫn lý tính.Trong quan hệ với thực tiễn lý luận giữ vai trò vạch kế hoạch.
Chương 2: Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
trong lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
1. Để phát triển lý luận phải luôn bám sát thực tiễn, phản ánh được yêu cầu
của thực tiễn, khái quát được những kinh nghiệm của thực tiễn
Nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm thực tiễn Việt Nam và quốc tế để tiếp tục
hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam chính là thể hiện cụ thể tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt
động cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Con đường đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay có những
đặc điểm những vấn đề riêng của cách mạng Việt Nam trong bối cảnh điểm xuất
phát kinh tế của nước ta thấp lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, bỏ qua chế độ tư
bản chủ nghĩa và không còn các nước xã hội chủ nghĩa đi trước giúp đỡ do điều
nước ta”.
6
Trong các kỳ đại hội Đảng gần đây, song song với con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội, Đảng cũng đã nhận định đất nước ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức.
Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ rõ – tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong
khu vực và trên thế giới, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạn tham nhũng và tệ quan
liêu, “diễn biến hòa bình” do các thế lực thù địch gây ra – đến nay vẫn tồn tại và
diễn biến phức tạp, đan xen, tác động lẫn nhau, không thể xem nhẹ nguy cơ nào.
Điều cần nhấn mạnh là: tình trạng tham nhũng và sự suy thoái về tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống của một bộ phận không những cán bộ, đảng viên đang cản trở việc
thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, gây bất bình và làm giảm
lòng tin trong nhân dân; nước ta vẫn còn là nước kinh tế kém phát triển, mức sống
nhân dân còn thấp, trong khi đó cuộc cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt, nếu
chúng ta không nhanh chóng vươn lên thì sẽ càng tụt hậu xa hơn về kinh tế. Nhận
định được những khó khăn này Đảng cần phải đưa ra những đường lối, chính sách
sát với thực tiễn hơn nữa, để đối phó, và giải quyết những nguy cơ, khó khăn đang
cận kề.
2. Trong hoạt động thực tiễn phải lấy lý luận khoa học là phương pháp, khi vận
dụng lý luận phải phù hợp với không gian và thời gian
Lý luận được hình thành không chỉ là sự tổng kết thực tiễn mà còn là mục đích
cho hoạt động thực tiễn tiếp theo. Sự phát triển của thực tiễn trong lịch sử đã được
lý luận khái quát. Mặc dù thực tiễn diễn biến phức tạp, ít khi lặp lại hoàn toàn, song
thực tiễn nào cũng mang tính khách quan, mang tính khuynh hướng. Chính vì lý
luận có khả năng phản ánh thực tiễn dưới dạng quy luật mà lý luận có khả năng trở
thành phương pháp luận cho thực tiễn. V.I. Lênin đã nói rất đúng rằng “Không có lý
luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng”. Từ khi ra đời đến nay,
Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim
chỉ nam cho hành động cách mạng của mình. Kiên định lập trường đó, Đại hội đại
sống xã hội thế giới. Không có một quốc gia nào đứng ngoài sự tác động của nó.
Khoa học và công nghệ là sự kế thừa và tích hợp thành tựu của quá khứ và hiện tại,
sự cố gắng không mệt mỏi của bao thế hệ, là thành tựu mang tính nhân loại. Con
đường phát triển ngắn nhất và bền vững nhất hiện nay của các quốc gia chậm phát
triển là tranh thủ thời cơ, ứng dụng triệt để thành tựu của khoa học và công nghệ
nhân loại để phát triển đất nước. Để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn
đấu cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, chúng ta phải nhanh chóng
tiếp cận và ứng dụng triệt để sự phát triển của khoa học và công nghệ thế giới mới
có thể phát huy hết tiềm năng vốn có. Chính vì vậy, định hướng phát triển khoa học
và công nghệ nước ta trong thời gian tới là: “Tập trung xây dựng và phát triển tiềm
lực khoa học và công nghệ của đất nước, tăng năng lực tiếp thu, làm chủ thích nghi,
cải tiến các công nghệ hiện đại nhập từ nước ngoài trong một số lĩnh vực sản xuất,
dịch vụ, kết cấu hạ tầng, rút ngắn thời gian chuyển giao công nghệ, sớm đưa vào
ứng dụng trong sản xuất”.
Lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin khi vận dụng vào thực tiễn
phải quán triệt quan điểm lịch sử, cụ thể, đồng thời biết tiếp thu những thành tựu
của tư duy nhân loại trong xây dựng nền kinh tế thị trường, thành tựu về xây dựng
bộ máy nhà nước pháp quyền, cơ chế quản lý khoa học, công nghệ, văn hóa, xã hội
để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Một trong những lĩnh vực hoạt động của con người mà thực tiễn và lý luận
được kết hợp một cách mật thiết là lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Giáo dục và đào
tạo đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm phát triển từ khi nền cộng hòa được
thiết lập. Trong quá trình cách mạng, giáo dục và đào tạo đã góp phần đào tạo lớp
người lao động mới có lý tưởng cách mạng, có năng lực hoàn thành nhiệm vụ, vượt
qua mọi khó khăn, có sức khỏe và có kỷ luật. Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến,
của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới càng
chứng tỏ giáo dục, đào tạo nước ta đã đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế xã hội. Tuy thế, giáo dục và đào tạo nước ta còn nhiều bất cập. Mô hình các bậc
học, các loại hình đào tạo chưa thật khoa học và ổn định, chưa thật phù hợp với
thực tiễn. Nội dung, chương trình, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng sự phát triển
của nền kinh tế thị trường, của sự phát triển khoa học và công nghệ. Từ Đại hội đại
rộng, dễ bảo thủ trì trệ và sẽ bị thất bại trong thực tiễn khi điều kiện, hoàn cảnh thay
đổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như
một mắt sáng một mắt mù”.
Bệnh giáo điều là khuynh hướng tư tưởng cường điệu vai trò lý luận, coi nhẹ
thực tiễn, tách rời lý luận khỏi thực tiễn, thiếu quan điểm lịch sử cụ thể, áp dụng
kinh nghiệm một cách rập khuôn, máy móc. Bệnh giáo điều biểu hiện rất đa dạng
như:
- Bệnh sách vở, hiểu lý luận một cách trừu tượng, nặng về diễn giải những gì đã
có trong sách vở mà không đối chiếu với cuộc sống. Đề ra những chủ trương và chính
sách không xuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể của thực tiễn đất nước mà xuất phát từ
sách vở.
- Vận dụng sai lý luận vào thực tiễn, chỉ biết trích dẫn, không quan tâm đến
thực tiễn, không bổ sung, điều chỉnh lý luận.
- Tiếp nhận những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học một cách đơn
giản, phiến diện mang tính chất cảm tính, từ đó biến chúng thành những tín điều và
áp dụng rập khuôn chủ nghĩa xã hội của nước ngoài vào xây dựng chủ nghĩa xã hội
trong nước. Áp dụng rập khuôn, máy móc kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội
của nước khác; áp dụng chính sách kinh tế thời chiến vào thời bình.
Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu “phải học tập tinh thần chủ nghĩa Mác – Lênin,
học tập lập trường quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác –Lênin để áp
dụng giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng
ta”. Người còn khẳng định: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc căn
bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành lý
luận mù quáng, lý luận mà không có thực tiễn là lý luận suông”. Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải luôn luôn hiểu rõ và thấm nhuần
phương châm lý luận cách mạng không phải là giáo điều mà là kim chỉ nam cho
hành động cách mạng, lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc mà đầy đủ tính
sáng tạo lý luận luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ thực tiễn
của cuộc sống. Với cách nhìn đó tuy đề cao lý luận, nhưng người không xem
thường kinh nghiệm. Người rất coi trọng tổng kết kinh nghiệm coi đó là một biện
to lớn về mọi mặt, mang nhiều ý nghĩa lịch sử.
a) Kinh tế
Trong giai đoạn đổi mới từ sau 1986, Đảng đã xác định lấy đổi mới kinh tế là
trọng tâm, trước hết phải đổi mới tư duy về kinh tế. Tư tưởng chủ đạo của đường lối
đổi mới kinh tế là: giải phóng mạnh mẽ mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác tốt
và có hiệu quả mọi khả năng của đất nước, của mọi thành phần kinh tế; trên cơ sở
phát huy các nguồn lực trong nước là chính, mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút mạnh
mẽ và có hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài; hình thành một cơ cấu kinh tế hợp
lý; phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và đổi mới quan hệ
sản xuất (cả về quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối) nhằm bảo
đảm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất,
tạo nên động lực mạnh mẽ cho sự phát triển. Mọi sự tăng trưởng và phát triển đều
hướng tới “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh”. Đại hội VI
(12/1986) xác định những mục tiêu cụ thể về kinh tế cho những năm còn lại của
chặng đường đầu tiên là:
- Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy;
- Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất;
- Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất
và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Nhờ có định hướng đúng đắn này mà trong 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới,
kinh tế Việt Nam đã có những bước chuyển mình to lớn.
Đất nước thoát khỏi khủng hoảng, kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh:
10
1986-1990: GDP tăng 4,4%/năm. Việc thực hiện tốt ba chương trình mục tiêu
phát triển về lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu được
đánh giá là thành công bước đầu cụ thể hóa nội dung của công nghiệp hóa xã hội
chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên. Đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ
chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới
trọng các sản phẩm có năng suất và hiệu quả kinh tế cao, các sản phẩm có giá trị
xuất khẩu.
Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng nhanh và liên tục. Năm 1988 là
21,6%, năm 2005 lên 41%. Công nghiệp và xây dựng phát triển mạnh với thiết bị
công nghệ ngày càng hiện đại.
Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP đã tăng từ 33,1% năm 1988 lên 38,1%
năm 2005. Các ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn
nhu cầu của sản xuất và đời sống. Ngành du lịch, bưu chính viễn thông phát triển
với tốc độ nhanh. Các ngành dịch vụ, tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý có bước
phát triển theo hướng tiến bộ, hiệu quả. Thực hiện có kết quả chủ trương phát triển
kinh tế nhiều thành phần, phát huy ngày càng tốt hơn tiềm năng của các thành phần
kinh tế.
-
11
Kinh tế Nhà nước được sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệuquả,
tập trung hơn vào những ngành then chốt và những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh
tế. Cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước được đổi mới một bước quan trọng theo
hướng xóa bao cấp, thực hiện chế độ công ty, phát huy quyền tự chủ và trách nhiệm
của doanh nghiệp trong kinh doanh.
Kinh tế tư nhân phát triển mạnh, huy động ngày càng tốt hơn các nguồn lực
và tiềm năng trong nhân dân, là một động lực rất quan trọng thúc đẩy tăng trưởng
và phát triển kinh tế. Năm 2005, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 38%
GDP của cả nước.
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trở
thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân; là cầu nối quan
trọng với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thông quốc tế, đóng góp vào ngân
sách nhà nước và tạo việc làm cho nhiều người dân.
thành trước hạn mục tiêu trẻ em đi học tiểu học đúng độ tuổi. Xã hội hoá giáo dục
đào tạo được đẩy mạnh; thí điểm cơ chế tự chủ đối với một số trường đại học công
lập. Chú trọng đào tạo nghề, tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt 51,6% vào năm 2015.
12
+ Ứng dụng khoa học và đổi mới công nghệ có bước tiến bộ, nhất là trong
các lĩnh vực nông nghiệp, thông tin truyền thông, y tế, xây dựng. Thị trường khoa
học công nghệ có bước phát triển, giá trị giao dịch tăng 13,5%/năm. Số lượng sáng chế
và các giải pháp hữu ích đăng ký bảo hộ gấp gần 2,2 lần so với giai đoạn 2006 2010. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam năm 2015 tăng 19 bậc so với
năm 2010.
+ Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội chuyển dịch tích cực, trong đó đầu tư công
giảm từ 35,5% năm 2010 xuống còn khoảng 30% năm 2015, đầu tư của dân cư và
doanh nghiệp trong nước tăng từ 36,1% lên 42%.
+ Về tái cơ cấu thị trường tài chính, trọng tâm là các ngân hàng thương mại.
Tập trung xử lý nợ xấu và cơ cấu lại các ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém. Đến
tháng 9 năm 2015, nợ xấu còn 2,9% (tháng 9/2012 là 17,43%) và đã giảm 17 tổ
chức tín dụng. Thanh khoản và an toàn hệ thống được bảo đảm; cung ứng vốn tốt
hơn cho nền kinh tế và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Quy mô thị trường chứng
khoán tăng, mức vốn hoá thị trường cổ phiếu đạt khoảng 33% GDP và thị trường
trái phiếu đạt khoảng 23% vào cuối năm 2015.
+ Về cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước (DNNN), trọng tâm là các tập đoàn
kinh tế và tổng công ty. Tập trung vào cổ phần hoá, thoái vốn đầu tư ngoài ngành và
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. DNNN tập trung hơn vào những lĩnh vực
then chốt, thiết yếu. Quản lý nhà nước và quản lý của chủ sở hữu được tăng cường.
Đã sắp xếp 465 DNNN, trong đó cổ phần hóa 353 doanh nghiệp. Việc thoái vốn đầu
tư ngoài ngành và bán bớt phần vốn tại các doanh nghiệp cổ phần hóa thu về cao
hơn giá trị sổ sách, gấp 1,47 lần.
+ Tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới.
Tập trung tổ chức lại sản xuất. Tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học công
công nhận là di sản văn hoá quốc gia và thế giới.
Tăng cường quản lý nhà nước về thông tin truyền thông. Nâng cao chất lượng,
đa dạng hóa phương thức, đáp ứng nhu cầu thông tin của người dân, thông tin đối
ngoại và phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. Tích cực tham gia
đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo. Chú trọng bảo đảm an toàn, an ninh thông tin
mạng.
+ Quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu được
tăng cường: Tỉ lệ cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng được xử lý đạt 92,5% vượt chỉ tiêu
đề ra (kế hoạch 5 năm là 85%, năm 2015 là 90%). Nâng cao năng lực dự báo, cảnh
báo và chủ động phòng chống, giảm nhẹ thiên tai. Triển khai nhiều dự án ứng phó
với biến đổi khí hậu. Tranh thủ sự hợp tác và hỗ trợ của cộng đồng quốc tế.
+ Hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước được nâng lên; cải cách hành chính đạt
những kết quả tích cực; công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí được chú
trọng: Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy; đổi mới công tác công vụ, công chức; tăng
cường ứng dụng công nghệ thông tin; thực hiện công khai, minh bạch; đề cao trách
nhiệm người đứng đầu. Cải cách thủ tục hành chính có bước tiến mới, nhất là các lĩnh
vực liên quan trực tiếp nhiều đến người dân và doanh nghiệp. Thực hiện Cơ chế một
cửa quốc gia và Kết nối kỹ thuật cơ chế một cửa ASEAN.
Phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, công tác tiếp
công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được tập trung chỉ đạo và có những chuyển
biến tích cực. Xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi tham nhũng.
Đã giải quyết được 512/528 vụ việc khiếu nại kéo dài. Khiếu nại, tố cáo giảm cả về
số lượng và số vụ khiếu kiện đông người.
c. An ninh - Chính trị
+ Quốc phòng, an ninh được tăng cường, chủ quyền quốc gia được giữ vững: Tiềm lực
quốc phòng và an ninh được tăng cường. Sức mạnh tổng hợp và khả năng sẵn sàng
chiến đấu của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được nâng lên. Bảo vệ vững
chắc chủ quyền quốc gia, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định và kết hợp tốt hơn
giữa bảo đảm quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội, phòng chống thiên
tai, cứu hộ, cứu nạn.
2. Hạn chế
Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được trên cơ sở vận dụng đúng đắn
nguyên lý thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, tổng kết thực tiễn, đưa ra đường lối
đổi mới kịp thời, phù hợp, thì hiện tại vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế trong sự
vận dụng nguyên lý này.
a) Kinh tế vĩ mô ổn định chưa vững chắc. Cân đối ngân sách nhà nước còn
khó khăn, cơ cấu chưa hợp lý, bội chi còn cao. Nợ công tăng nhanh, áp lực trả nợ
lớn. Chất lượng tín dụng chưa cao, xử lý nợ xấu và cơ cấu lại các ngân hàng thương
mại cổ phần yếu kém còn nhiều khó khăn. Huy động nguồn lực đầu tư ngoài nhà
nước còn hạn chế.
b) Tăng trưởng kinh tế và một số chỉ tiêu chưa đạt kế hoạch đề ra. Năng suất,
chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp.Sản xuất kinh
doanh và xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước, nhất là nông sản còn nhiều khó
khăn, liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước còn hạn chế. Sản
xuất nông nghiệp hiệu quả chưa cao. Dịch vụ tăng thấp hơn giai đoạn trước, du lịch
chưa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
c) Thực hiện các đột phá chiến lược và tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa
nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa đáp ứng yêu
cầu. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vẫn còn vướng mắc,
chưa thực sự trở thành động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế - xã hội; các loại thị
trường phát triển còn chậm, hiệu quả chưa cao. Phát triển nguồn nhân lực, khoa học
15
công nghệ và kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển.
d) Tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng còn chậm. Tái cơ cấu
nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới chưa đạt yêu cầu. Hiệu quả đầu tư công
chưa cao. Tái cơ cấu DNNN và sắp xếp, đổi mới các công ty nông, lâm nghiệp chưa
đạt mục tiêu đề ra. Đổi mới công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ và các ngành
có công nghệ cao, giá trị gia tăng cao còn chậm. Chưa tham gia được nhiều vào
ninh, văn hóa, xã hội, đối ngoại nhân dân có mặt còn hạn chế.
16