Văn hóa giải trí của công nhân tại khu công nghiệp đồng văn, tỉnh hà nam - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGHIÊM THỊ THU PHƢỢNG

VĂN HÓA GIẢI TRÍ CỦA CÔNG NHÂN TẠI KHU
CÔNG NGHIỆP ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ NAM

Chuyên ngành : Văn hóa học
Mã số : 60 31 06 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN THỊ YÊN

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu luận văn thạc sĩ với đề tài : “Văn
hóa giải trí của công nhân tại khu công nghiệp Đồng Văn, tỉnh Hà Nam” là
công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu và nội dung trích dẫn
trong luận văn dựa trên nguồn thông tin đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực.
Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một
công trình khoa học nào khác.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình

Tác giả luận văn



DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT

Từ/ cụm từ viết đầy đủ

Từ/ cụm từ viết tắt

1

KCN

Khu công nghiệp

2

KCX

Khu chế xuất

3

CN

Công nhân

4

CNLĐ


Trung ương

10

TT

Thủ tướng

11

USD

Đô la Mỹ

12

FDI

Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

13

VN

Việt Nam


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

mại dâm,..có chiều hướng tăng cao trong các khu công nghiệp. Chính vì vậy bên
cạnh những điều kiện vật chất cần bảo đảm và cải thiện thì nâng cao chất lượng đời
sống tinh thần của CNLĐ là một việc đặc biệt cần thiết.
KCN Đồng Văn là một trong các KCN quan trọng của tỉnh Hà Nam, nơi tập
trung hơn 200 doanh nghiệp lớn nhỏ trong và ngoài nước. KCN Đồng Văn có tổng
diện tích 401,6 ha do Công ty Phát triển hạ tầng các KCN tỉnh Hà Nam làm chủ đầu
tư với hơn 41.846 lao động, bao gồm cả lao động trong và ngoài tỉnh. Với tính chất
là một KCN nên nơi đây tập trung đa dạng thành phần về độ tuổi, giới tính, quê
quán, quốc tịch,…nhưng phần lớn vẫn là người trẻ tuổi.
Đa phần CN tại KCN Đồng Văn là những người trẻ tuổi chưa lập gia đình, vì
vậy nhu cầu được hưởng thụ văn hóa giải trí là không thể thiếu. Tuy nhiên, đang tồn
tại một nghịch lý giữa tăng trưởng kinh tế, lợi nhuận của các doanh nghiệp và đời
sống của CN.Trên thực tế, cơ sở vật chất và điều kiện làm việc của CN tại nhiều
doanh nghiệp chưa được đảm bảo. Nhiều doanh nghiệp không bố trí phòng nghỉ
trưa cho CN hoặc có phòng nghỉ trưa nhưng chưa đảm bảo vệ sinh, có nơi CN nghỉ
trưa ngay trong nhà xưởng nơi làm việc,... Môi trường làm việc tại các doanh
nghiệp trong KCN Đồng Văn những năm gần đây cũng đã được cải thiện nhưng vẫn
chưa đảm bảo yêu cầu, đa số CN phải làm việc trong tình trạng ô nhiễm môi trường
như nóng, bụi, tiếng ồn, độ rung vượt chuẩn cho phép vẫn còn diễn ra rất phổ biến.
Trong khi đó, người lao động thường xuyên phải làm việc tăng ca nên không có
thời gian để thư giãn, giải trí. Với mức thu nhập còn thấp, trong khi đó lạm phát, giá
cả hàng hóa dịch vụ tăng nhanh, tiền lương hàng tháng chủ yếu dành cho nhu cầu
thiết yếu như lương thực, thực phẩm, chi trả tiền thuê nhà ở, đi lại, may mặc,
phương tiện sinh hoạt cá nhân, nên đời sống người lao động vô cùng khó khăn. Cơ
sở vật chất phục vụ cho các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao của CN lao động
còn ít, điều kiện bố trí thời gian để CN tham gia vui chơi, giải trí còn rất hạn chế,
chỉ có một số ít doanh nghiệp có sân bóng chuyền, sân cầu lông cho CN hoặc tổ
chức Hội thao nội bộ, tổ chức các trò chơi, sinh hoạt văn nghệ vào các ngày kỷ
niệm thành lập doanh nghiệp, ngày lễ, cuối năm... Thực trạng trên cho thấy, đời
2

nghiệp
3


Các bài viết về đời sống CNLĐ hầu hết đều đề cập đến thực trạng và vai trò
quan trọng của đời sống tinh thần của CNLĐ hiện nay, từ đó đưa ra kiến nghị, giải
pháp về việc nâng cao đời sống tinh thần, giúp CNLĐ được đáp ứng các nhu cầu
giải trí, hoàn thành tốt công việc hàng ngày của mình.
Bài viết “Đời sống văn hóa tinh thần của đội ngũ công nhân trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh: Đôi điều suy ngẫm” của tác giả Trịnh Thị Hiền trên trang
web của Viện nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh ngày 10/10/2015 với
nội dung cho biết thành phố Hồ Chí Minh hiện đang là nơi dẫn đầu về thu hút
nguồn lao động từ khắp nơi về làm việc và sinh sống. Hiện nay, trên địa bàn
TPHCM có 10 khu công nghiệp và 3 khu chế xuất đang hoạt động với khoảng gần
300.000 lao động với số lượng công nhân đến từ các tỉnh thành khác chiếm đa số.
Do là dân nhập cư, không có hộ khẩu nên CN ít được hưởng các chế độ đãi ngộ xã
hội, đời sống văn hóa, tinh thần rất nghèo nàn. Nhận thức rõ vấn đề này, Đảng và
Nhà nước hết sức quan tâm việc nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho công nhân
lao động, bảo đảm năng suất lao động.
Bài viết “Nghèo nàn đời sống tinh thần thanh niên công nhân” của tác giả
Ngân Hà trên báo Hải Dương số ra ngày 21/12/2014. Trong bài tác giả đề cập đến
vấn đề do công việc trong môi trường công nghiệp lấy đi quá nhiều quỹ thời gian
khiến cho hàng nghìn công nhân, đặc biệt là thanh niên công nhân ít có cơ hội tiếp
cận, tham gia các hoạt động văn hóa, giải trí. Đời sống tinh thần nghèo nàn là thực
trạng chung của hầu hết công nhân trẻ hiện nay. Từ đó bài báo đi đến kiến nghị các
tổ chức công đoàn cùng lãnh đạo doanh nghiệp ngoài chăm lo đời sống vật chất thì
cũng cần nâng cao đời sống tinh thần, tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể
dục, thể thao, tổ chức cho người lao động đi tham quan, du lịch… để họ yên tâm
gắn bó với doanh nghiệp.
Bài viết “ Nâng cao đời sống tinh thần cho công nhân” của Tuấn Sơn trên

dựng một chỉnh thể văn hóa đa dạng, giàu tính tương tác, thu hút CN.
Bài viết “Nâng cao vị thế, vai trò của giai cấp công nhân trong nền kinh tế thị
trường” – tạp chí Đảng Cộng Sản Việt Nam số ra ngày1/5/2013 với kiến nghị Công
đoànnên phối hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành chăm lo hơn nữa việc nâng cao

5


trình độ văn hóa, ngoại ngữ, chuyên môn tay nghề cho công nhân, lao động, đáp
ứng được những yêu cầu của thời kỳ khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế.
Bài viết “Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của CNLĐ tại các KCN: Cần
những giải pháp đồng bộ và thiết thực” của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam với
nội dung trình bày về “Đề án xây dựng đời sống văn hóa công nhân ở các khu công
nghiệp đến năm 2015, định hướng đến năm 2020” do Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt ngày 12/10/2011 với mục tiêu phấn đấu năm 2015 có 70% công nhân và
người sử dụng lao động ở các khu công nghiệp được phổ biến pháp luật về xây
dựng đời sống văn hóa; 100% tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (có khu công
nghiệp) hoàn thành việc phê duyệt quy hoạch phát triển thiết chế văn hóa, thể thao
phục vụ công nhân...
Ngoài các bài viết như kể trên, hiện đã có một số luận văn khảo sát về thực
trạng đời sống văn hóa của công nhân ở một số KCN tiêu biểu ở nước ta. Chẳng
hạn:
Luận văn “ Đời sống văn hóa của công nhân khu công nghiệp Phố Nối A
huyện Văn Lâm – Hưng Yên” của Phạm Thị Tú Anh, Đại học Văn hóa Hà Nội cho
biết : Hưng Yên là một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, trên 1,1 triệu
dân và chủ yếu cư dân làm nghề nông nghiệp. Toàn tỉnh hiện đã quy hoạch 14 khu
công nghiệp thu hút hơn 800 dự án đầu tư, sau khi đất nông nghiệp quy hoạch làm
KCN đã tạo ra nhiều sự thay đổi trong đời sống của người dân từ nghề nghiệp, cơ
cấu cũng như thành phần cư dân,…Sự phát triển của các KCN đã đem lại những cơ
hội lớn cho nền kinh tế nhưng đồng thời cũng tạo ra những thách thức cho nền văn

bóng đá này đã thu hút sự tham gia của 27 đội bóng (gồm 22 đội nam và 5 đội nữ)
đến từ các đơn vị, doanh nghiệp có phong trào TDTT mạnh trong KCN.Đây được
đánh giá là hoạt động nhằm đẩy mạnh các hoạt động phong trào thể dục thể thao và
rèn luyện sức khỏe cho công nhân lao động trong các doanh nghiệp tại các KCN
trên địa bàn tỉnh Hà Nam, qua đó góp phần tạo sân chơi lành mạnh cho công nhân
có niềm đam mê bóng đá, tạo điều kiện gặp gỡ, giao lưu, học hỏi, thắt chặt tình
đoàn kết công nhân trong các doanh nghiệp tại các KCN.
Bài viết “Hà Nam: Đối thoại giữa công nhân lao động với cơ quan chức năng
của tỉnh” trên báo lao động điện tử số ra ngày 27/03/2016 với nội dung trần thuật
7


lại sự kiện ngày 26.3, tại Nhà văn hóa Thể thao công nhân - Khu công nghiệp Đồng
Văn, tỉnh Hà Nam, LĐLĐ tỉnh tổ chức Hội nghị đối thoại giữa CNLĐ với các cơ
quan chức năng của tỉnh. Tại hội nghị, các CNLĐ đã đưa ra rất nhiều câu hỏi liên
quan đến các chế độ chính sách hiện hành: như chế độ nghỉ thai sản, chế độ làm
thêm giờ, các câu hỏi liên quan đến Luật công CĐ... Các câu hỏi của CNLĐ đã
được các cơ quan chức năng của tỉnh trả lời một cách đầy đủ và theo đúng các quy
định. Đây là một trong những hoạt động rất thiết thực và thu hút được rất nhiều
CNLĐ trong các khu công nghiệp tham gia.
Bài viết “Công đoàn KCN tỉnh Hà Nam hưởng ứng Tuần lễ quốc gia không
khói thuốc” trên trang báo lao động số ra ngày 20/05/2016 với nội dung đưa tin về
buổi truyền thông phòng, chống tác hại của thuốc lá cho 600 CNLĐ tại Công ty
Anam Electronics Vietnam vào ngày 19.5 do Công đoàn KCN tỉnh Hà Nam tổ
chức. Kết quả bước đầu trong công tác phòng, chống tác hại thuốc lá của các cấp
Công đoàn, hiện có 78 công đoàn ngành và địa phương đã thành lập Ban chỉ đạo
phòng, chống tác hại của thuốc lá, gần 70% số công đoàn cơ sở đăng ký xây dựng
môi trường làm việc không khói thuốc; tuyên truyền vận động được trên 55.000
CNLĐ bỏ thuốc lá, 70.000 CNLĐ giảm hút thuốc lá, hơn 2 triệu lượt CNLĐ được
tuyên truyền về Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá và lợi ích của việc xây dựng

liệu của tác giả luận văn về văn hóa giải trí của CN trong KCN Đồng Văn từ năm
2011 đến nay. Từ những tư liệu thu được qua khảo sát thực tế, trong luận văn này,
tôi sẽ tập trung trình bày các vấn đề liên quan đến văn hóa giải trí của công nhân
trong KCN Đồng văn, tỉnh Hà Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích : Đề tài tập trung khảo sát thực trạng đời sống văn hóa - giải trí
của CNLĐ ở KCN Đồng Văn hiện nay để từ đó phân tích sự tác động của văn hóa
giải trí cũng như đề xuất giải pháp nâng cao đời sống văn hóa giải trí cho CNLĐ ở
đây.
Nhiệm vụ : Để đạt được mục đích trên thì luận văn cần phải thực hiện một
số nhiệm vụ sau:
- Làm rõ một số khái niệm liên quan đến đời sống văn hóa, hưởng thụ văn
hóa và CNLĐ.
9


- Khảo sát, nghiên cứu, đánh giá thực trạng văn hóa giải trí của tầng lớp
CNLĐ tại KCN Đồng Văn hiện nay.
- Nhận định về sự tác động, thực trạng và các yếu tố tác động đến việc hưởng
thụ văn hóa giải trí của CNLĐ ở KCN Đồng Văn.
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao văn hóa giải trí của CNLĐ ở KCN
Đồng Văn .
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là CNLĐ và những hoạt động sống liên quan
đến văn hóa giải trí của CNLĐ.
- Phạm vi nghiên cứu :
Đề tài đi sâu vào nghiên cứu văn hóa giải trí của CNLĐ tại Khu công nghiệp
Đồng Văn thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, tập trung vào các điểm nghiên cứu
chính là:

hóa giải trí của một số công nhân lao động trong KCN với những câu hỏi chính sau
đây:
 Ngoài giờ lao động sản xuất thì CNLĐ họ làm gì để giải trí, giải tỏa căng
thẳng mệt mỏi. Họ có những nhu cầu gì đối với việc giải trí. Thời gian sinh hoạt
như thế nào?
 Nguồn thu nhập trung bình của CN là bao nhiều và chi phí sinh hoạt hàng
tháng .
 Khả năng đáp ứng của các hoạt động , dịch vụ giải trí như thế nào?
 Những người chủ của các doanh nghiệp có quan tâm đến vẫn đề nâng cao
đời sống văn hóa cho CN hay không? Và họ tạo điều kiện hay không ?
 Chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể khác có quan điểm gì về
việc chăm lo cho đời sống văn hóa của CNLĐ. Họ có tổ chức hoạt động gì cho CN
hay không và như thế nào ?
Để thực hiện nội dung này tác giả chọn đối tượng phỏng vấn sâu là những
người hiện đang làm việc tại các doanh nghiệp trong KCN Đồng Văn gồm có công
nhân lao động và có cả Chủ tịch Công đoàn của một vài doanh nghiệp để có ý kiến
đa chiều hơn. Đối tượng phỏng vấn công nhân gồm 3 nam và 3 nữ. Công nhân nam
11


có độ tuổi dưới 30 và trên 30, công nhân nữ có độ tuổi dưới 30. Bên cạnh đó tác giả
có phỏng vấn một số công nhân ngẫu nhiên, cũng đang làm việc tại KCN Đồng Văn.
Để tìm hiểu về loại hình giải trí tập thể chủ yếu của công nhân là karaoke và ăn
uống liên hoan tác giả thường xuyên có mặt tại quán karaoke Phượng Hoàng và
quán lẩu Toàn Thắng. Đây là địa điểm thường đến của công nhân KCN Đồng Văn.
Thường là buổi tối công nhân mới đến nhiều nên tác giả tập trung tìm hiểu tại quán
vào buổi tối. Trung bình một tuần 2-3 buổi tại quán karaoke Phượng Hoàng và tìm
hiểu trong vòng một tháng từ 24/05/2016 đến 24/06/2017. Ngoài phỏng vấn các
công nhân, tác giả cũng phỏng vấn lấy ý kiến từ chủ quán lẩu và karaoke.
Để bổ sung cho nội dung phỏng vấn sâu, tác giả còn phát phiếu điều tra – khảo

Đồng Văn
Chƣơng III : Nhận định về văn hóa giải trí của CNLĐ tại KCN Đồng
Văn hiện nay và một số vấn đề đặt ra

13


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.Khái niệm và cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
* Khái niệm văn hóa
Văn hóa là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Có hàng trăm
định nghĩa “văn hóa” và bản thân “văn hóa” đã chứa bao nhiêu ý nghĩa, nó được
dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm khác nhau. Theo GS Trần Ngọc Thêm:
“Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng, khái niệm văn
hóa có thể qui về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng”. Ông cho
rằng ở nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo
không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là
những giá trị tinh hoa của nó như nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…. Giới hạn
theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực như
văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…. Giới hạn theo không gian, văn hoá được
dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng như văn hoá Tây Nguyên, văn hoá
Nam Bộ…. Giới hạn theo thời gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong
từng giai đoạn như văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn…Và ở nghĩa rộng, Trần
Ngọc Thêm cho rằng “văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì do con
người sáng tạo ra.” [23,tr.32]
Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc
sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp
luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng

năng tiến hóa nội tại của nó.”
Sự phân chia văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần mang tính quy ước, bởi
trong đời sống không có cái gì là thuần túy Vật chất hoặc Tinh thần.Và ngày càng
khó phân biệt rạch ròi đâu là sản phẩm vật chất, đâu là sản phẩm tinh thần. Mặt
khác, không có sản phẩm tinh thần nào lại không được thể hiện dưới một hình thức
vật chất nhất định và cũng như không có một sản phẩm vật chất nào lại không mang
trong nó những giá trị tinh thần. Những thứ như nhà cửa, đường phố, cầu cống, và
ngay cả những vật dụng tầm thường nhất, kể cả những sản phẩm công nghiệp sản
15


xuất hàng loạt, cũng là hiện thân của những giá trị văn hóa, thể hiện bản sắc dân tộc,
trí tuệ và tài năng của những người làm ra chúng. Vậy thì không có gì hoàn toàn là
văn hóa vật chất hay văn hóa tinh thần.
Tuy nhiên đối với đề tài nghiên cứu này, để tiện cho việc giải quyết các vấn đề
đặt ra thì vẫn cần có sự phân biệt một cách tương đối khái niệm văn hóa vật chất và
văn hóa tinh thần. Vì vậy trong đề tài này tác giả coi văn hóa giải trí là một khía
cạnh của văn hóa tinh thần - là các giá trị vô hình, nó tác động tới tâm tư, tình cảm,
nhận thức của con người. Đối với đối tượng trong đề tài là CNLĐ thì văn hóa tinh
thần của người lao động, của công nhân tập trung chủ yếu vào các hoạt động giải trí,
giải tỏa căng thẳng mệt mỏi sau ngày làm việc mệt mỏi.
*Khái niệm văn hóa giải trí
Hoạt động giải trí nằm trong hệ thống các loại hoạt động của con người; và là
hoạt động duy nhất không gắn với nhu cầu sinh học nào. Theo tác giả Đoàn Văn
Chúc [6, tr. 224-225], có bốn dạng hoạt động mà con người phải thực hiện, đó là:


Hoạt động lao động sản xuất để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của các cá

nhân và của cả xã hội. Đó là nghĩa vụ xã hội của mỗi người.

không thể tách rời của văn hóa là chức năng giải trí. Văn hóa bao gồm tất cả các
hoạt động văn hóa văn nghệ, các thiết chế văn hóa,… phục vụ cho hoạt động giải trí
của con người. Theo tác giả luận văn thì văn hóa giải trí là tất cả các hoạt động văn
hóa gắn liền với chức năng giải trí, phục vụ nhu cầu giải tỏa căng thẳng mệt mỏi,
thỏa mãn nhu cầu tinh thần, đem đến cho con người sự thư thái, thanh thản trong
cuộc sống. Văn hóa giải trí đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần,
văn hóa giải trí phát triển đầy đủ, mạnh mẽ kéo theo các giá trị văn hóa tinh thần
cũng được nâng cao. Đối với người lao động thì nhu cầu giải trí là một trong những
nhu cầu quan trọng trong cuộc sống, luôn luôn cần được đáp ứng, và việc hiểu rõ
văn hóa giải trí là những hoạt động nào và đóng vai trò như thế nào trong đời sống
tinh thần của người lao động giúp chúng ta tìm ra được chìa khóa để phát triển xã
hội tích cực hơn.
* Khái niệm công nhân lao động
Theo Các Mác thì : “Công nhân là người lao động phổ thông, theo nghĩa rộng
là người kiếm sống bằng cách làm việc thể xác (lao động chân tay), bằng cách của
mình - cung cấp lao động để lãnh tiền công (tiền lương) của chủ nhân (người sử
dụng lao động), để nỗ lực tạo ra sản phẩm cho người chủ và thường được thuê với
hợp đồng làm việc (giao kèo) để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể được đóng gói vào
một công việc hay chức năng.”
Công nhân, lúc đầu là người lao động trong các ngành nghề xây dựng, truyền
thống coi là không có tay nghề lao động chân tay, như trái ngược với lao động có
tay nghề cao làm rõ cần thiết trong phân công lao động. Với sự ra đời của công
nghệ tiên tiến và việc thành lập các công ty, tập đoàn, công nhân ngày nay thường
là thành phần lao động trong những xí nghiệp, nhà máy, công ty và làm công ăn
17


lương. Người công nhân cũng thường kết hợp thành các Công đoàn hoặc nghiệp
đoàn độc lập để bảo vệ quyền lợi của mình. Luật pháp nhiều quốc gia cũng có nhiều
quy định cụ thể đẻ bảo vệ quyền lợi công nhân.


Ngày 9-1, đồng chí Lê Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí
thư đã ký ban hành Chỉ thị số 52- CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng đối với công tác nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho công nhân lao
động khu công nghiệp, khu chế xuất.
Chỉ thị nêu rõ: Cùng với sự phát triển của đất nước, những năm qua các khu
công nghiệp, khu chế xuất phát triển nhanh về số lượng và quy mô; thu hút và giải
quyết việc làm cho hàng trăm nghìn lao động, đóng góp cho ngân sách nhà nước
năm sau cao hơn năm trước. Tuy nhiên, công nhân chưa được hưởng thụ đời sống
văn hoá tinh thần tương xứng với thành quả của công cuộc xây dựng, phát triển đất
nước. Hệ thống thiết chế văn hoá, công trình phúc lợi, trường học, bệnh viện, nhà
ở… phục vụ CNLĐ chưa được đầu tư thoả đáng.
Chỉ thị 52 nhấn mạnh: Để tạo chuyển biến thật sự rõ rệt trong việc nâng cao
đời sống văn hoá tinh thần của CNLĐ KCN-KCX tương xứng với những thành tựu
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Ban Bí thư TW Đảng yêu cầu cấp uỷ, tổ
chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân các cấp tập trung
lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện tốt một số nhiệm vụ.
Tăng cường giáo dục về tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống văn hóa và tác
phong lao động công nghiệp, nâng cao trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, hiểu
biết pháp luật cho công nhân lao động; xây dựng hình ảnh người công nhân lao
động mới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nâng cao chất lượng, đa
dạng hóa hình thức tổ chức hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao phù hợp với điều
kiện làm việc của công nhân khu công nghiệp, khu chế xuất, tạo điều kiện cho công
nhân lao động được thụ hưởng.
* Điều lệ của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và chính sách của Liên đoàn
lao động tỉnh Hà Nam
Tổng liên đoàn lao động Việt Nam là tổ chức chính trị-xã hội rộng lớn của giai
cấp công nhân, cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động
khác tự nguyện lập ra nhằm mục đích tập hợp, đoàn kết xây dựng lực lượng, xây
dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh. Tổng liên đoàn lao động Việt Nam

Tiên Nội. Thị trấn cách thành phố Phủ Lý khoảng 10 km về phía nam. Thị trấn gồm

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status