1
CHUYÊN ĐỀ:
SỰ THAY ĐỔI VỀ NHU CẦU VÀ HÀNH VI VUI CHƠI, GIẢI TRÍ
CỦA NGƯỜI DÂN TẠI KHU VỰC ĐANG CÔNG NGHIỆP HÓA, ĐÔ
THỊ HÓA Ths. Đỗ Văn Quân
Viện Xã hội học
Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Đặt vấn đề
Hoạt động vui chơi giải trí là hoạt động thiết yếu của xã hội, nó bắt
nguồn và phản ánh năng lực th
ực tiễn của con người trong quá trình lao động
sản xuất. Vui chơi giải trí là nhu cầu văn hoá cơ bản của con người, nhằm giải
toả những căng thẳng do lao động đưa lại, bù đắp những thiếu hụt về đời sống
tinh thần, tạo điều kiện để con người phát triển toàn dịên về thể chất, trí tuệ,
thẩm mỹ và tình cảm, thoả mãn nhữ
ng nhu cầu tinh thần ngày càng cao của xã
hội. Nhìn vào vòng đời của con người, hoạt động vui chơi giải trí gắn bó suốt
cuộc đời con người, từ lúc thơ ấu đến khi về già. Nhìn vào xã hội, hoạt động
vui chơi giải trí gắn liền với bối cảnh xã hội trong từng thời điểm cụ thế và các
giai tầng xã hội khác nhau. Nhìn vào lịch sử chúng ta nhận thấy có sự vận
động phát triển c
ủa các hoạt động vui chơi giải trí với xu hướng ngày càng
chia theo chủ thể tham gia hoạt động vui chơi giải trí này dựa vào dựa vào quy
mô của chủ thể tham gia( bao gồm cá nhân, nhóm- gia đình; nhóm xã hội hay
cộng đồng) và không gian vui chơi giải trí( trong gia đình và bên ngoài ra
3
đình). Qua đó phân tích cho thấy bức tranh đa dạng về sự biến đổi hoạt động
vui chơi giải trí, cụ thể là những nhu cầu, khả năng và hành vi vui chơi giải trí
khác nhau của các nhóm dân cư trong quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá.
Sự biến đổi về khả năng và nhu cầu đáp ứng hoạt động vui chơi, giải
trí
Thông qua những nghiên cứu về biến đổi mức sống gần
đây cho thấy
(Tổng Cục thống kê 2006; Nguyễn Hữu Minh 2003; Trần Văn Thạch 2005;
Đỗ Văn Quân 2006…), trong các gia đình ở khu vực đô thị hoá công nghiệp
hoá đang có sự thay đổi mức sống đáng kể chỉ trong một thời gian ngắn. Các
nghiên cứu này cho biết, chính thu nhập của ngươi dân có điều kiện hưởng thụ
cuộc sống vật chất đầy đủ hớn và cuộc sống tinh thầ
n phong phú hơn. Theo số
liệu của Tổng cục Thống năm năm 2006, mức cho tiêu của người dân thành
phố Hồ Chí Minh dành cho vui chơi, giải trí chiếm 30% tổng chi phí của gia
đình, đối với khu vực Hà Nội và Huế có mức thấp hơn với khoảng 20%.
Chính vì vậy, các phương tiện sinh hoạt nhằm phục vụ cho vui chơi giải trí
như: báo, đài, ti vi, đầu vi deo, karaoke, điện thoại, internet… đang có xu
hướng đượ
c người dân tiếp cận nhiều hơn. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn
Hữu Minh cho biết, so với thời điểm năm 1995 thì tại thời điểm năm 2003 tỷ
lệ các hộ có phương tiện nghe nhìn của một số khu vực đô thị hoá, công
nghiệp hoá của thủ đô Hà Nội tăng lên rõ rệt.
Bảng 1: Tỷ lệ các hộ gia đình có các phương tiện nghe nhìn (%)
nhiều thời gian nhàn rỗ
i hơn. Không chỉ sang hành xóm trò chuyện, uống
nước, đánh cờ, chơi với cháu con họ còn có thể tham gia nhiều hoạt động văn
hoá tinh thần trong và ngoài gia đình(Nguyễn Hữu Minh và cộng sự tr 44;
2003).
5
Các dữ liệu nghiên cứu định tính của nhóm tác giả thuộc Viện Xã hội
học và Vụ Gia đình cũng gợi lên một chiều hướng tương tự. Đó tại các khu
vực đô thị hoá, công nghiệp hoá đang xuất hiện sự biến đổi nhanh chóng theo
xu hướng tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy nhu cầu vui chơi giải trí mang
tính cộng đồng, tập thể cho các tầng lớp dân c
ư:
-Mọi tổ chức hình thành và hoạt động tốt. Như Câu lạc bộ
dưỡng sinh của các cụ tối nào cũng tập. Có Nhà văn hóa, các cụ
đến đó tập. Nhà văn hóa chúng tôi tự xây, tỉnh cho 7 triệu, xã cho 2
triệu nhưng để lấy được 7 triệu đó… Xây xong rồi, mãi mới có 7
triệu. Còn có Câu lạc bộ văn nghệ hoạt động được 8 năm nay rồi
nhưng gần đây phát triển. Do m
ột số bà yêu văn nghệ, được ban,
ngành, tổ chức tạo điều kiện về thời gian, vật chất, tinh thần. Hôm
01/5 họ tổ chức giao lưu tại hội trường. Họ quyên góp được gần hai
triệu để tổ chức. Đời sống văn hóa đi lên. Ngày xưa mà hát, các cụ
chửi cho(Nữ, PVS).
-Nói chung thời gian rỗi của chúng tôi cũng qua ý kiến đề nghị ở
trên là chúng tôi vẫn còn chư
a xây dựng được nhà thờ gồm sân, chỗ
vui chơi thể thao, bóng bàn… nhưng đến giờ này xây dựng hết
không có điểm chơi. Số thanh niên cũng rất nhiều có cái đề nghị là
có chỗ vui chơi giải trí như là câu lạc bộ tuổi già, thanh
Nguồn: Khảo sát của Nguyễn Hữu Minh và cộng sự năm 2003
Kết quả nghiên cứu của tác giả Đỗ Văn Quân vào năm 2006 tại một số
cộng đồng ven đô Hà Nội đã khẳng định xu hướng gia tăng tương đối rõ nét
về tỷ lệ người dân tham gia các hoạt động giải trí taị gia đình (xem tivi, nghe
đài, đọc sách báo) trong vòng 5 năm(từ 2000-2005)(xem bảng 3).
7
Bảng 3: Tỷ lệ người dân tham gia các hoạt động giải trí tại gia đình trong
thời gian(2000-2005)(%)
Hình thức giải trí trong gia đình
Tăng lên Như cũ Giảm đi
1. Xem ti vi 22,9 75,1 3,0
2. Đọc sách báo 44,3 52,2 3,5
3. Nghe đài 19,9 67,7 12,4
Nguồn: Khảo sát của Đỗ Văn Quân năm 2006
Các nghiên cứu cũng cho thấy trong những năm vừa qua tại các khu
vực đô thị hoá, công nghiệp hoá tỷ lệ người dân tham gia các hoạt động vui
chơi giải trí ngoài gia đình cũng có những biến đổi đáng kể. Tuy nhiên, so với
hoạt động vui chơi giải trí tại gia đình, các hoạt động vui chơi giải trí bên
ngoài gia đình của người dân tại khu vực đang đô thị hoá, công nghiệp hoá
còn chưa cao. Khảo sát củ
a Nguyễn Hữu Minh và cộng sự(2003) cho biết, bên
cạnh những hình thức vui chơi giải trí bên ngoài gia đình mang tính chất
truyền thống(sang chơi nhà hàng xóm, đi tham bạn bè, họ hàng ), đã có một
bộ phận không nhỏ người dân tiếp cận với loại hình giải trí hiện đại(xem phim
ở rạp, xem ca nhạc, hát karaoke )(xem bảng 4).
Bảng 4: Tỷ lệ tham gia các hoạt động giải trí ngoài gia đình(%)
Địa bàn
sinh nhật
Du lịch,
nghỉ mát
Các điểm
vui chơi
Tăng lên 13 14 9 11 10
Giảm đi 4 3 4 7 6
Nguồn: Khảo sát của Nguyễn Hữu Minh và cộng sự năm 2003
Các tác giả đi đến nhận định: có thể nói rằng việc tham gia các hoạt động
văn hoá tinh thần của cư dân ven đô là một nhu cầu thực tế. Những hoạt động
này càng ngày càng có xu hướng gia tăng theo đà tăng trưởng của kinh tế, sự
phát triển của xã hội(Nguyễn Hữu Minh và cộng sự: 2003; tr 45). Nghiên cứu
của tác giả Đỗ Văn Quân năm 2006 đã khẳng định rõ hơn cho nhận
định này.
Cụ thể là ở xu hướng biến đổi, với tỷ lệ gia tăng người dân tham gia các hình
thức vui chơi giải trí bên ngoài gia đình trong vòng 5 năm(xem bảng 6).
9
Bảng 6: Tỷ lệ người dân tham gia các hoạt động giải trí tại gia đình
trong thời gian(2000-2005)(%)
Hình thức giải trí ngoài gia đình Tăng lên Như cũ Giảm đi
1.Tham gia lễ hội văn hoá, đi chùa 33.3 59.7 7.0
2. Tham quan du lịch 18.4 74.6 7.0
3.Chơi các môn thể thao 12.9 82.1 5.0
Nguồn: Khảo sát của Đỗ Văn Quân năm 2006
Đặc biệt, một khảo sát gần đây của Viện Xã hội học và Vụ Gia đình cho
thấy, tại các khu vực đang đô thị hoá, công nghiệp hoá có sự biến đổi rõ rệt về
10
4. Chơi thể thao 1.8 17.3 80.9 5.7 32.8 61.5
5. Đi du lịch 0.8 21.0 78.3 4.9 44.1 51.0
Nguồn: Khảo sát của Viện Xã hội học và Vụ Gia đình năm 2009
5. Nguyên nhân và những thách thức đặt ra trong quá trình biến đổi
nhu cầu và hành vi vui chơi giải trí
Nguyên nhân mang tính vĩ mô- bối cảnh xã hội chuyển đổi và phát
triển
Có thể nói sự ảnh hưởng trước hết và mang tính vĩ mô chính là bối cảnh
xã hội của Việt Nam hiện nay đang gia tốc chuyển đổi theo xu hướng: kinh tế
thị trường, công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Chính bối cảnh
chuyển đổi rộng lớn và sâu sắc này đã tất yếu dẫn đến sự biến đổi về điều
kiện, nhu cầu và hành vi vui chơi giải trí của các giai tầng trong xã hội nói
chung và ở các khu vực đô thị hoá, công nghiệp hoá nói riêng.
Đặc trưng nổi bật trong các xã hội hiện đại là thời gian nhàn rỗi của các
tầng lớp dân cư có xu hướng ngày càng nhiều hơn, do năng xuất lao động tăng
lên và do các quy
định về nhu cầu tái sản xuất sức lao động của con người
được đảm bảo hơn. Việc sử dụng thời gian nhàn rỗi cũng như sự quan tâm đến
nhu cầu về tái sản xuất sức lao động đã kéo theo quá trình hình thành một nền
văn hoá đại chúng được phổ biến sâu rộng đến các giai tầng khác nhau trong
xã hội. Với đặc tính là sản xuất công nghệ và hàng loạt, thời gian nhàn rỗi,
nhu cầ
u về vui chơi giải trí không còn là thứ đặc quyền của một bộ phận thiểu
số, mà nó trở thành một nhu cầu phổ biến trong xã hội.
Cùng với đó, trong nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, các quan hệ
trong hoạt động vui chơi giải tri chuyển đổi sang sản xuất hàng hoá, đáp ứng
nhu cầu của các giai tầng trong xã hội. Chính quá trình đổi mới với việc thực
12
phải phát triển vẫn nhiều. Gia đình là nhà nước thu nhỏ. Tất
nhiên còn khó khăn nhưng tôi thấy phát triển nhiều(Nữ PVS).
-Lễ hội nhiều hơn ngày xưa. Phát triển nhiều hơn,
phát triển rộng. Nhà nước, doanh nghiệp đầu tư điện, đường
trường trạm, chùa khang trang hơn ngày xưa. Người dân tham
gia nhiều hơn ngày xưa, cả về công sức và tiền. Thôn xóm huy
động nên tham gia mạnh mẽ, phấn khở
i. Mình theo dân làng,
theo chính quyền. Lãnh đạo như thế nào thì mình thực hiện
thế.
Vấn đề thu hồi ruộng đất - Một yếu tố tác động trực đến biến đổi hoạt
động vui chơi giải trí của người dân
Từ những dữ liệu do cuộc khảo sát của Viện Xã hội học và Vụ Gia đình
tiến hành vào năm 2009 tại Vĩnh Phúc cho thấy quá trình chuyển đổi mục đích
sử dụng ruộng đất là một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự biến đổi nhu cầu
và hành vi vui chơi giải trí của người dân trong các cộng đồng đô thị hoá và
công nghiệp hoá. Có thể nhận thấy sư tác động này ở trên hai phương diện sau
đây.
Một là, quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng ruộng đất, dẫn đến
người nông dân không còn hoặc gi
ảm hoạt động sản xuất nông nghiệp vốn rất
vất vả. Đồng thời, việc chuyển đổi sang nghề mới của phần lớn người dân gặp
khó khăn, đặc biệt một bộ phận không nhỏ người dân thất nghiệp, hoặc thiếu
việc làm. Điều này đồng nghĩa với quỹ thời gian rãnh rỗi của họ nhiều hơn-
một trong nhữ
ng điều kiện tiên quyết tạo ra nhu cầu và khả năng thực hiện
hành vi vui chơi giải trí của người dân.
14
Hữu Minh cho rằng, sự khác biệt về mức độ hưởng thụ vui chơi giải trí có mối
quan hệ nhân quả mật thiết với quá trình đô thị hoá. Tại các cộng đồng diễn ra
quá trình đô thị hoá nhanh dẫn đến sự biến đổi về nhu cầu và hành vi vui chơi
giải trí của người dân cũng diễn ra mạnh mẽ và phong phú hơn.
Chẳng hạn, tại Thạch Bàn và Gia Thuỵ tốc độ
đô thị hoá chậm hơn ở
Cổ Nhuế và Sài Đồng, điều này đã dẫn đến các hoạt động vui chơi giải trí bên
ngoài gia đình mang tính chất hiện đại, phải chi phí nhiều của Thạch Bàn và
Gia Thuỵ cũng thấp hơn. Ngược lại, tại các cộng đồng này các hoạt động vui
chơi, giải trí truyền thống- chi phí thấp được nhiều người dân lựa chọn hơn(
tham gia lễ h
ội văn hoá ở Thạch Bàn và Gia Thuỵ có tỷ lệ tương ứng: 55% và
68%; đối với Sài Đồng, Cổ Nhuế hoạt động này tỷ lệ chỉ đạt: 23% và
36%)(Nguyễn Hữu Minh và công sự; 2003 tr 46).
Những dữ liệu định tính trong nghiên cứu của Viện Xã hội học và Vụ
Gia đình(2009) sẽ chứng minh rõ hơn.
Được đền bù, mua ti vi nên xem tivi. Tuổi các cụ, trước
đây tụ tập. Còn hiện nay thì ít khi sinh hoạt tập th
ể(Nam PVS).
Sau chuyển đổi đất, đời sống người dân nâng lên rõ
rệt từ 1 lên 10. Các câu lạc bộ phát triển mạnh, phong trào
đều đến tận khu dân cư nhưng hiện nay đạo đức mai một,
cần hàng năm tổ chức tập huấn. Đầu tư về kinh phí cho các
hoạt động hội họp, tập huấn, chia sẻ với nhau thông tin.
Trước đây, có 10 tổ dân phố và đều có nhà văn hóa. Nhưng
từ nă
m 2008 đến nay, chúng tôi xây mới được 3 nhà văn hóa
(Nam TLN).
khi ở nhóm gia đình có thu nhập dưới 10 triệu đồng, tỷ lệ này chỉ đạt 15,4%.
16
Đối với hoạt động đi du lịch tại Cổ Nhuế, nhóm gia đình với mức thu
nhập trên 25 triệu đồng/năm có 16,7% tham gia hoạt động du lịch, tuy nhiên
nhóm hộ gia đình thu nhập dưới 25 triệu đồng/năm chỉ có 6.7% tham
gia(Nguyễn Hữu Minh và cộng sự 2003; tr 48). Tại khu vực Sài Đồng số
người thường xuyên và thỉnh thoảng có đi hát karaoke ở những gia đình có thu
nhập cao hơn nhiều so với những gia
đình có thu nhập trung bình: 2.9% so với
1.4%. Tuy vậy, đối với các gia đình nghèo, nghiên cứu của Viện Xã hội học
và Vụ Gia đình( 2006) đã chỉ ra rằng, họ có rất ít cơ hội và khả năng tham gia
các hoạt động vui chơi giải trí hiện đại, bên ngoài gia đình, chi phí lớn.
Lúc rỗi cô cũng chăm làm rau, chỉ mỗi rau thôi nên
lúc nào rỗi thì cô nghỉ. Chùa thực ra chỉ đi đầu xuân thôi. ở
khu mình cũng tổ chức hội hè cô cũ
ng không tham gia, nói
chung là lôi thôi không có thời gian đi tuy là ít ruộng, cô
làm rau xong sáng thì đi chợ, nhặt cỏ, buổi chiều thì đi thả
con bò(Nữ PVS).
Làm gì có thời gian đi chơi, bởi lúc bây giờ còn lo
làm kinh tế, lúc đó còn nghèo. Rỗi rãi thì đi chơi hoặc là
thăm bạn bè, hoặc sinh hoạt xã hội, tham gia các đoàn thể.
Trước bận làm ruộng thì không có thời gian dỗi. Nên nhà
cửa không gọn gàng. Giờ có thời gian dỗi, chẳng biết làm
gì, thu dọn nhà cửa(Nữ PVS).
Nghề nghiệp, học vấn và sự khác biệt vui chơi giải trí
Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Minh và cộng sự 2003 cho biết, nghề
nghiệp chính của hộ gia đình và học vấn của chủ hộ là hai nhân tố có ảnh
a tuổi và sự khác biệt về vui chơi giải trí
18
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Minh và cộng sự(2003) cho thấy
có sự khác biệt rất lớn giữa các nhóm lứa tuổi: trung niên trở lên và thanh
thiếu niên trong việc lựa chọn loại hình vui chơi giải trí. Chẳng hạn, nhóm
thanh thiếu niên, thường quan tâm và tiếp cận nhiều hơn các loại hình vui chơi
giải trí hiện đại: hát karaoke; internet Tác giả viết: Trong thời kỳ đổi mới,
một loại hình giải trí mới xuất hiệ
n ở Việt nam trong khoảng chục năm gần
đây, đó là hát karaoke. Đây là hình thức giải trí, thư giản khá hấp dẫn với
người dân đô thị. Với những người khá giả, nhóm cư dân trẻ tuổi hoặc những
người có chút năng khiếu ca nhạc thì đây là một sinh hoạt văn hoá rất thú vị,
vừa được giải trí vừa được thể hiện năng khiếu của mình(Nguyễ
n Hữu Minh
và cộng sự 2003; tr 50).
Khảo sát của Viện Xã hội học và Vụ Gia đình cho biết rõ hơn vấn đề
này thông qua dữ liệu định tính:
Chúng bây giờ chơi hiện đại hơn, khoa học hơn: chơi
internet, máy tính, điện tử. Mặt tốt là phát triển trí tuệ.
Nhưng mặt trái là ảnh hưởng kinh tế, cắm nợ hàng trăm
nghìn, ăn trộm tiền của bố mẹ(Nam PVS).
Có thay đổi nhiều, các gia đình ngày xưa cái điện thoại
không có, bây giờ nhiều gia đình mỗi đứa con cái điện
thoại. Cuộc sống ngày càng tiến bộ, con cái học hành nhiều,
được truy cập những phương tiện hiện đại chúng tôi rất
mừng(Nam PVS).
Cũng theo khảo sát của Viện Xã hội học và Vụ Gia đình năm
2009, cho thấy nhóm trung niên, người cao tuổi lại có xu hướng tiếp
cận các hoạt
nhà nước cho phép nhưng phải nói là những người sử dụng
20
dịch vụ này có cả học sinh (bỏ giờ, bỏ tiết học). Nếu như
dịch vụ này mà chúng ta quản lý chặt chẽ được và chúng ta
tuyên truyền được thì nó rất là tốt. Nhưng với điều kiện hiện
nay thì dịch vụ chơi game có phần bị lạm dụng là phổ
biến(Nữ PVS).
Tôi cứ nhẩm từ thôn tôi ra thì bao thôn nhân ra bấy
nhiêu, mà chúng tôi đã đi họp phụ huynh nhiều rồi.
Đấy là
khâu đầu tiên các cô giáo đáng lo ngại nhất về vấn đề này
để gia đình và nhà trường cùng phối hợp. Như thế là tôi
thấy rất nguy hiểm, các em cũng bỏ học tương đối, bây giờ
đi học bỏ, đang giờ học đi chơi, rồi nhà trường kỷ luật lần
1, lần 2, lần 3 thì đuổi, hiện tượng này xuất hiện cũng nhiều
rồi(Nam PVS).
Ở đất cũ, con cháu ít được tiếp xúc với công nghệ
thông tin. Tuy nhiên, sau khi ra khu mới có dịch vụ bia, điện
tử, các cháu được tiếp cận nhanh hơn. Tuy nhiên, cũng lo vì
con cháu mải chơi điện tử nên sao nhãng việc học hành
hoặc sa vào tệ nạn xã hội. Hiện nay xã mình là có bao nhiêu
tụ điểm game như thế. Chúng tôi không thống kê được,
chúng tôi không nắm được, nhưng hầu như thôn nào cũng
có, thôn nào cũng phải có vài tụ đi
ểm(Nữ PVS).
Hai là, người dân có xu hướng phục hồi tổ chức những lễ hội linh đình
tốn kém, tiền của, thời gian công sức đang bị lãng phí do sự thái quá về vui
chơi giải trí.
đạp cũng cắm rồi thì gà qué cũng bắt ra để cắm. Tất cả
những tụ điểm đấy đều như coi là thu hút hết(Nam PVS).
22
Ngày xưa, ông chồng rất quan tâm đến lao động.
Hiện nay, có tiền sinh ra la cà, uống rượu từ sáng tới trưa,
cờ bạc… Con cái ngày xưa tích cực chăn trâu. Có tiền đòi
mua xe, đàn đúm, sa vào tệ nạn xã hội(Nữ PVS).
Bốn là, từ sự tự do hoá cá nhân trong tham gia vui chơi giải trí đang làm
ảnh hưởng xấu đến các giá trị chuẩn mực và lợi ích của cộng đồng.
Về âm thanh thì nó ồn ào hơn trước, bên c
ạnh nhà
cũng có nhà làm nghề sắt cũng đập ồn ào suốt ngày, có
người thì lại sửa chữa đài vô tuyến mở cũng chả có cái giờ
giấc nào cả, rồi bản thân trong gia đình các phương tiện âm
thanh cũng nhiều hơn trước, chẳng hạn như đài, vô
tuyến(Nam PVS).
Có thay đổi chứ cái ăn măc chắc chắn là sẽ hơn trước
nhiều rồi, cư xử thì nói th
ật với anh thanh niên bây giờ nó
cũng có nhiều cái nó đua đòi nhau nên trong cách ứng xử
nhiều cái nó cũng chưa đẹp lắm. Anh em chúng tôi cũng
đang muốn làm thế nào để tôn giáo này, xã hội này để cùng
với linh mục làm thế nào để có một cái tác động để cái sinh
hoạt văn hoá của thanh niên nó cải thiện đi chứ thanh niên
bây giờ đua đòi dễ phát sinh ra các thói hư tật xấu(Nữ
PVS).
Năm là, sự lúng túng của các cấ
p uỷ Đảng, chính quyền, tổ chức xã
hội trước hiện thực xã hội.
24
Ba là, có một xu hướng phân tầng khá rõ nét về nhu cầu và hành vi vui
chơi giải trí giữa các nhóm dân cư, xét theo mức sống, học vấn, nghề nghiệp,
lứa tuổi. Nhìn chung, nhóm dân cư có mức sống cao, làm phi nông nghiệp,
học vấn cao và trẻ tuổi có xu hướng gia tăng về nhu cầu, cơ hội, điều kiện,
động cơ và hành vi tham gia loại hình vui chơi giải trí đa dạng, đa chức năng,
hiện đại, thuận lợ
i, mạnh mẽ và nhiều hơn so với nhóm dân cư có mức sống
thấp, làm nông nghiệp, học vấn thấp và ở lứa tuổi trung niên trở lên.
Bốn là, sự biến đổi hoạt động vui chơi giải trí tại các cộng đồng đô thị
hoá, công nghiệp hoá đang đặt ra những thách thức-nan giải mà bản thân họ
không tự giải quyết được. Điều này đòi hỏi phải có sự
quan tâm nghiên cứu
của các nhà khoa học; tăng cường các biện pháp quản lý phù hợp của chính
quyền, cơ quan chức năng và sự tham gia tích cực của người dân trong các
cộng đồng cùng giải quyết vấn đề.
Năm là, sự gia tăng biến đổi về vui chơi giải trí của cộng đồng dân cư
muốn đi vào quỹ đạo lành mạnh, tích cực cần phải quan tâm vấn đề giải quyết
công ăn việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp cho nhóm cư dân trong độ tuổi lao
động; quan tâm định hướng giáo dục thanh thiếu niên(nhất là tiếp cận
internet); chú ý thoả đáng đến đến đặc điểm và nhu cầu vui chơi giải trí của
người cao tuổi(cần chú ý xây dựng và phát triển các thiết chế vui chơi giải trí
hiện đại bên cạnh những thiết chế truyền thống)./. 25
Tài liệu tham khảo