Sử dụng phương pháp tự học trong dạy học phần công dân với đạo đức môn giáo dục công dân lớp 10 ở trường THPT tam dương, tỉnh vĩnh phúc hiện nay - Pdf 38

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ HÀ NINH

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP Tự HỌC TRONG
DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC”
MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10
Ở TRƯỜNG THPT TAM DƯƠNG,
TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân
ở trường Trung học phổ thông

Người hướng dẫn khoa học:
ThS. Nguyễn Quang Thuận

HÀ NỘI, 2016


Trong quá trình thực hiện khóa luận, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, sự động
viên, hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và chu đáo của thày giáo ThS. Nguyễn Quang
Thuận và những ý kiến đóng góp của các thầy cô trong khoa Giáo dục Chính
trị.
Tôi xin bày tỏ lòng biết om chân thành và sâu sắc tới các thầy giáo, cô
giáo trong khoa Giáo dục Chính trị, đặc biệt là sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình
của thầy giáo ThS. Nguyễn Quang Thuận.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo, các em học sinh
trường THPT Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn
thành khóa luận của mình.
Do điều kiện thời gian, năng lực còn hạn chế nên khóa luận không tránh


: Giáo dục công dân
: Giáo dục và Đào
tạo
: Sách giáo khoa
: Trung học phổ
thông

GD&ĐT
SGK
THPT


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc sống luôn vận động và phát triển không ngừng. Nó đòi hỏi mọi người
phải vận động để theo kịp sự phát triển của xã hội. Chính vì vậy mà tinh thần tự học
có vai trò vô cùng quan trọng. Tự học được xem là một phương pháp đã trở thành
quen thuộc đối với mỗi chúng ta, là một truyền thống của người Việt.
Tại điều 5, Luật Giáo dục 2005 quy định: “Phương pháp giáo dục phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho
ngưòi học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập, ý chí vươn
lên”. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng trong việc đào tạo
ra nguồn nhân lực có đủ phẩm chất, năng lực, có tư duy độc lập, năng động, sáng tạo
để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Tự học chính là con đường tích cực để phát triển nội lực của mỗi cá nhân, là
động lực chính của quá trình giáo dục- đào tạo.
Thực hiện chỉ đạo trên, các trường THPT đã phát động phong trào sử dụng
phương pháp dạy học nhằm rèn luyện năng lực tự học cho học sinh. Từ phương
pháp lấy người dạy làm trung tâm chuyển sang phương pháp lấy ngưòi học làm

Ở Việt Nam, các nhà khoa học, nhà giáo đã dành nhiều thời gian nghiên cứu
vấn đề tự học của học sinh, sinh viên như: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức,
Nguyễn Nghĩa Dân, Nguyễn Cảnh Toàn, Trần Thị Mai Phương, Dương Thị Thúy
Nga... Một số sách và luận văn cũng đề cập đến vấn đề tự học ở nhiều khía cạnh
khác nhau, tiêu biểu là: PGS. TS Nguyễn Ngọc Bảo trong cuốn sách “Phát triển
tính tích cực, tính tự học của học sinh trong quá trình dạy học”; Luận văn thạc sĩ
của tác giả Cao Đức Sáu “Hướng dẫn phương pháp tự học nhằm nâng cao chất
lượng dạy học môn Kinh tể chính trị Mác - Lênin ở trường cao đẳng Sư phạm Kiên
Giang
Từ nhiều góc độ, các tác giả đã nghiên cứu, phân tích thực trạng của hoạt động
tự học và chỉ ra vai trò, tàm quan trọng của việc tiến hành hoạt động tự học đối với

6


người học. Tác giả đã tham khảo, kế thừa những giá trị của các công trình nghiên
cứu trên và lấy đó làm cơ sở để đi sâu nghiên cứu đề tài của mình. Từ đó, tác giả
tiến hành phân tích cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng phương pháp tự
học trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD ở trường THPT Tam
Dương, Vĩnh Phúc.
3. Mục đích,nhiệm vụ của khóa luận
3.1.
-

Mục đích nghiên cứu

Mục đích của khóa luận nhằm tăng cường hiệu quả sử dụngphương pháp tự
học trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 ở trường
THPT Tam Dương, Vĩnh Phúc góp phần phát huy tính tích cực học tập của
HS.


Khóa luận giới hạn nghiên cứu việc sử dụng phương pháp tự học trong dạy học
phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD của HS lớp 10 trong học kì II, năm học
2015-2016 ở trường THPT Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Khóa luận sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ
thể như: phương pháp nghiên cứu lý thuyết được sử dụng ở chương 1, phương pháp
nghiên cứu thực tiễn được sử dụng ở chương 2 và chương 3.
6. Ý nghĩa của khóa luận
Với kết quả nghiên cứu đạt được, khóa luận tiếp tục khẳng định tính khả thi
đúng đắn của việc sử dụng phương pháp tự học trong dạy học môn GDCD. Đồng
thời xác định quy trình và điều kiện cho việc sử dụng phương pháp tự học trong dạy
học phàn “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 ở trường THPT Tam Dương,
Vĩnh Phúc.
7. Kết cấu của khóa luân
Ngoài phàn mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận gồm 3
chương 9 tiết.
Chương 1
Cơ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC sử DỤNG PHƯƠNG PHÁP Tự HỌC
TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” MÔN GDCD
LỚP 10 Ở TRƯỜNG THPT HIỆN NAY
1.1.

Cơ sở lý luận của việc sử dụng phương pháp tự học trong dạy học

phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lóp 10
1.1.1. Khái niệm về phương pháp
Trong mọi lĩnh vực cuộc sống của con người, vấn đề phương pháp bao giờ
cũng được đặt ra để xem xét, qua chọn lựa để sử dụng, nhằm thực hiện những ý

dung học vấn. Hay nói cách khác, phương pháp dạy học là những cách thức hoạt
động tương tác, được điều chỉnh của GV và HS hướng vào giải quyết các nhiệm vụ

9


giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học.
Trong sách: “Phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học
phổ thông” tác giả Đinh Văn Đức đã khẳng định: “Phương pháp dạy học được hiểu
là cách thức hoạt động, phối họp thống nhất của GV và HS nhằm thực hiện tối ưu
mục đích và nhiệm vụ dạy học”. [8;13]
Phương pháp dạy học là một khái niệm phức họp, được thể hiện ở nhiều quan
niệm khác nhau, nhưng tất cả các quan niệm đó đều thể hiện rằng: Phương pháp dạy
học luôn gắn liền với mục đích và nội dung dạy học.
Phương pháp dạy học là một trong những thành tố cơ bản của quá trình dạy
học, nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc hoàn thành mục tiêu, nội dung, cũng như đảm
bảo hiệu quả chất lượng dạy học.
Phương pháp dạy học cũng là một trong những yếu tố quan trọng nhất của quá
trình dạy học. Phương pháp có ý nghĩa là con đường để đạt mục đích, theo đó,
phương pháp dạy học là con đường để đạt mục đích dạy học.
Phương pháp dạy học là một khái niệm phức họp, được thể hiện ở nhiều quan
niệm khác nhau, nhưng tất cả các quan niệm đều thể hiện rằng: Phương pháp dạy
học luôn gắn liền với mục đích và nội dung dạy học, phương pháp dạy học luôn gắn
liền với mục đích và nội dung dạy học, phương pháp dạy học phục vụ cho từng môn
học, bài học, tiết học. Ở mỗi bài cụ thể, GV căn cứ vào nội dung tri thức, đối tượng
người học để sử dụng phương pháp, phương tiện dạy học cho phù họp. Tuy nhiên,
khi nghiên cứu về phương pháp dạy học đều phải dựa trên một số đặc trung cơ bản
sau:
-


dung tri thức phải có phương pháp dạy học, phương tiện dạy học và các thao tác
thích hợp.
Như vậy, phương pháp dạy học là tổng hợp các cách thức tác động của GV
trong quá trình dạy học nhằm vào người học và quá trình học tập để gây ảnh hưởng
thuận lợi cho việc học theo mục đích hay nguyên tắc đã định. Phương pháp dạy học
bao gồm sự thống nhất chặt chẽ cả phương pháp dạy và phương pháp học.
1.1.3. Phương pháp tự học
* Khái niệm tự học:
Tự học luôn gắn liền với hoạt động học tập, là việc phổ biến, được nhiều bậc
hiền triết và các nhà giáo dục trên thế giới quan tâm. Nhà tâm lý học N.Arubakin
viết: “Tự tìm lấy kiến thức có nghĩa là tự học”. Theo tác giả Nguyễn Văn Đạo: “Tự
học phải là công việc tự giác của mỗi người do nhận thức được đúng vai trò quyết
định của nó đến sự tích lũy kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công việc mình
đảm nhiệm, sự tiến bộ của xã hội”.
Giáo sưTiến sĩ Nguyễn Cảnh Toàn đã đưa ra quan điểm khá toàn diện về tự
học: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát,
so sánh, phân tích, tổng họp...) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng
các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan
(như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì,

1
1


nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi...) để
chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở
hữu của mình”.
Tự học, tính tự giác trong học tập của HS là hoạt động thường xuyên, liên tục
của HS trong quá trình học tập. Nhưng để nâng cao chất lượng, hiệu quả thật sự, một
yêu cầu tất yếu đặt ra là hoạt động tự học cần phải được sắp xếp và tổ chức một cách

Hình thức thứ nhất: cá nhân này tự mày mò theo sở thích và hứng thú độc lập
không có sách và sự hướng dẫn của giáo viên. Kết quả của quá trình tự học đi đến sự
sáng tạo và phát minh ra các tri thức khoa học mới, đây là hình thức thể hiện đỉnh
cao của hoạt động tự học. Dạng tự học này được dựa trên nền tảng một niềm khao
khát, say mê khám phá tri thức mói và một vốn tri thức sâu rộng. Vói hình thức tự
học này, người học không có thầy, không có sách mà chỉ qua rèn luyện trong thực
tiễn vẫn có thể tổ chức hiệu quả hoạt động học tập của mình.
Hình thức thứ hai: Tự học có sách nhưng không có GV trực tiếp hướng dẫn. Ở
hình thức này, có thể xảy ra hai trường hợp: tự học có sách, không có hướng dẫn của
GV và trường họp thứ hai là có sách, được giáo viên hướng dẫn từ xa.
Đối với trường hợp tự học theo sách mà không có sự hướng dẫn của GV, người
học tự học để hiểu, để thấm các kiến thức trong sách qua đó phát triển về tư duy. Tự
học với sách là mục tiêu mà mọi người học càn đạt để hướng đến xây dựng xã hội
học tập suốt đời.
Đối với trường họp tự học có sách và được GV hướng dẫn từ xa, dù giáo viên
ở xa nhưng vẫn có sự trao đổi thông tin giữa GV và HS bằng các phưomg tiện thông
tin dưới dạng phản ánh, giải đáp thắc mắc, làm bài kiểm tra...
Hình thức thứ ba: Tự học có sách, có GV hướng dẫn trực tiếp một số tiết, còn
chủ yếu là HS về nhà tự học, tự nghiên cứu. Trong quá trình học tập trên lớp, giáo
viên đóng vai trò là người hướng dẫn, thiết kế, tổ chức và tạo điều kiện thuận lợi
nhất để học sinh tự chủ động, sáng tạo, chiếm lĩnh tri thức.
Trong quá trình tự học, GV trực tiếp hướng dẫn, HS là chủ thể, phải chủ động
phát huy tính tự giác, tích cực để hoàn thành những yêu cầu, bài tập do GV đưa ra

1
3


và những hoạt động học tập khác của cá nhân.
* Vai trò và ý nghĩa của tự học:

tranh thủ học tiếng Pháp ở mọi lúc, mọi nơi có thể, mỗi ngày học mấy từ thật chắc,
ngày nào cũng nhưngày nào, để đến khi sang Pháp, và sau đó, viết báo, viết truyện
ngắn bằng tiếng Pháp.
Người chỉ rõ: Tự học là học một cách tự động. Chính Người đã định nghĩa:
“Tự động là không phải dựa vào ai, là tự mình biết biến báo xoay xở, tự mình biết
thực hành công tác theo nhiều hình thức mói mẻ, phong phú”. Tự học tập tức là học
một cách hoàn toàn tự giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm
vụ. Tự học chính là tự quản lý việc học tập, tự mình chủ động vạch kế hoạch đó một
cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian để học và tự mình kiểm tra, đánh giá việc
học của mình.[10; 44]
Tổng Bí thư Đỗ Mười đã có phát biểu khi bàn về vai trò của tự học: “Tự học,
tự đào tạo là con đường phát triển suốt cuộc đời của mỗi người, trong điểu kiện kinh
tế xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau, đó cũng là truyền thống quý báu của ngưòi
Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi
tạo ra được năng lực sáng tạo của ngưòi học khi biến quá trình giáo dục thành quá
trình tự giáo dục. Qui mô của giáo dục được mở rộng khi có phong trào toàn dân tự
học” (Trích thư gửi Hội thảo Khoa học nghiên cứu phát triển tự học, tự đào tạo ngày
6/1/1998).
Ở bậc Trung học phổ thông, HS phải tiếp thu một lượng kiến thức lớn và khó
so với Trung học cơ sở, đặc biệt là với HS lớp mới chuyển cấp (HS lớp 10). Vì vậy,
ngoài thòi gian học trên lớp HS phải tự học, tự nghiên cứu để mở rộng và đào sâu tri
thức. Hoạt động tự học đã giúp rất nhiều cho HS trong quá trình học tập.
Thứ nhất, tự học giúp HS nắm vững tri thức, nâng cao năng lực nhận thức, kỹ
năng kỹ xảo. Hoạt động tự học tạo điều kiện cho học sinh hiểu sâu, mở rộng tri thức,
củng cố, ghi nhớ, vận dụng tri thức vào việc giải quyết các nhiệm vụ học tập, các
vấn đề cuộc sống.
Thứ hai, tự học giúp HS có được hứng thú, thói quen và phương pháp học tập
1
5


6


dựng và phát triển, trường được thành lập từ năm 1966, trên cơ sở nhà trường được
đặt tại thị trấn Họp Hòa, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Nhà trường là đơn vị
thi đua, đạt nhiều danh hiệu, bằng khen, giấy khen.
Tình hình giáo dục ở địa phương: đây là đơn vị lá cờ đầu của tỉnh trong cả
thành tích học tập và các hoạt động ngoại khóa. HS chăm ngoan, lễ phép, có tinh
thần học tập, học hỏi, có sức sáng tạo. Công tác phát triển đội ngũ, nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ đối với đội ngũ nhà giáo luôn được trường THPT Tam
Dương xác định là nhiệm vụ hàng đàu để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
bền vững, lâu dài. Đen nay, trình độ của cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường
100% đạt chuẩn và trên chuẩn. Nhà trường quan tâm tới những giáo viên mới ra
trường, phân công GV có thâm niên, có năng lực giúp đỡ về chuyên môn, về
phương pháp, nhờ đó GV trẻ nhanh chóng trưởng thành.
Cơ sở vật chất: cơ sở vật chất nhà trường tương đối đầy đủ, có phòng đọc điện
tử cho GV sử dụng làm tài liệu, tham khảo tài liệu và nhập liệu điện tử. Có đầy đủ
phòng học cho các lớp, có phòng máy tính để học sinh thực hành tin học. Nhà
trường có sân trường rộng, đảm bảo cho các hoạt động vui chơi của HS và các hoạt
động tập thể, đồng thời có nhà tập đa năng sử dụng trong các hoạt động thể dục thể
thao trong nhà và biểu diễn văn nghệ.
Đội ngũ GV: Nhà trường có hơn 100 GV cùng viên chức trong trường, các thầy
cô cùng đội ngũ viên chức trong Trường hăng say vói công việc, hòa đồng và luôn
nhiệt tình giúp đỡ đoàn giáo sinh thực tập. Tinh thần đoàn kết trong công việc và
trong các hoạt động tập thể cao, hăng hái nhiệt tình tham gia các sân chơi dành cho
GV.
Hiện nay, Nhà trường có 31 lớp chia làm 3 khối, khối 10, khối 11 và khối 12.
Kết quả học tập của HS: năm học 2014 - 2015, chất lượng giáo dục đạt kết quả cao.
Thi tốt nghiệp THPT đạt 99.76%; học sinh đỗ ĐH, CĐ đạt 68,5% ừong đó HS đạt
điểm từ 24 trở lên có 34 em.

môn GDCD còn chưa cao, từ đó gây tâm lý coi nhẹ bộ môn của HS, dẫn đến hiệu
quả học tập chưa cao.
1.2.2.Thực trạng sử dụng phương pháp tự học trong dạy học phần “Công dân
1
8


với đạo đức” môn GDCD lớp 10 ở trường THPT Tam Dương, Vĩnh Phúc
* Tác giả tiến hành điều tra nhận thức của HS trường THPT Tam Dương về
tầm quan trọng của môn GDCD lớp 10. Việc điều tra được tiến hành trên 146 HS
lớp 10 năm học 2015 - 2016 thuộc các lớp 10A5,10A7,10A8, 10A9.
Bảng 1.1. Nhận
thức
về tầm
quan
Mức
đô• nhân
thức
về trọng
tầm của môn GDCD

STT

quan trọng của môn GDCD

Sổ lượng HS

Tỉ lệ (%)

1

nhận thức đúng đắn được tầm quan trọng của môn học. Tuy nhiên vẫn còn một
số HS chưa nhận thức được tầm quan trọng của môn học. Đó cũng là nguyên
nhân gây ảnh hưởng tới chất lượng dạy học môn GDCD.
* Thực tế dạy học đã chứng minh rằng khi HS có hứng thú với môn học
thì thái độ học tập rất nghiêm túc và kết quả học tập thu được rất cao. Vì khi đó
HS tập trung, dồn hết trí lực của mình để tìm hiểu, khám phá tri thức. Tác giả
tiến hành khảo sát về vấn đề này qua bảng số liệu điều tra về hứng thú tự học
môn GDCD, cụ thể là ở học phần “Công dân với đạo đức” lớp 10.
Bảng 1.2. Bảng thể hiện mức độ hứng thú tự học phần “Công dân với đạo

1
9


đức” trong môn GDCD lóp 10
Mức độ hứng thú tự
ST
hoc môn GDCD •
T
1

Rất hứng thú

2
3
4

Tỉ lệ(%)
Sổ lượng HS
17,8

này còn chưa cao do một phàn các em chưa có phương pháp tự học phù hợp. Vì
vậy, vấn đề đặt ra là GV cần phải có biện pháp hướng dẫn cho HS và có phương
pháp tự học phù họp để đạt được hiệu quả cao, đặc biệt là với môn GDCD.

2
0


Chương 2
QUY TRÌNH SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP Tự HỌC TRONG DẠY HỌC
PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” MÔN GDCD LỚP 10 Ở
TRƯỜNG THPT TAM DƯƠNG, VĨNH PHÚC
2.1.

Quy trình thiết kế bài giảng

2.1.1.

Xác đinh muc tiêu bài hoc

m

m

m

Mục tiêu bài học là cái đích hướng tới về kiến thức, kĩ năng và thái độ mà
học sinh cần đạt được sau bài giảng. Đó là cơ sở để giáo viên lựa chọn phương
pháp, phương tiện và thiết kế các biện pháp phù hợp cho hoạt động dạy học.
Trong việc sử dụng phương pháp tự học ương dạy học phần “Công dân với đạo

mạnh tác động của người dạy đến người học, người học tiếp cận đối tượng tri
thức một cách nhanh nhất.

về tài liệu, tài liệu chủ yếu là SGK, sách bài tập, sách tình huống GDCD,
ngoài ra còn tư liệu tham khảo trên mạng, báo chí, truyện đọc...
2.1.3.

Các bước thiết kế bài giảng

Để thiết kế bài học theo phương pháp tự học cho HS, tác giả tiến hành
theo quy trình gồm 3 giai đoạn sau:
* Giai đoạn 1: Trước khi giảng bài mới một tuần GV giới thiệu sách giáo
khoa, tài liệu liên quan đến bài học, giao những nội dung cho HS tự đọc, tự
nghiên cứu, tự giải quyết theo cách của mình. Nội dung chuẩn bị có thể chung
cho cả lớp, cho từng nhóm, từng cá nhân, nhưng cơ bản là giao cho từng nhóm
nhỏ HS vói những đơn vị kiến thức phù hợp. Cụ thể, GV phải:
-

Thiết kế nội dung bài học cho HS tự học, nội dung đó bao gồm lý thuyết
và bài tập.

-

Cung cấp các nguồn tài liệu cần thiết cho bài tập, yêu cầu, hướng dẫn HS
tự đọc, tự nghiên cứu, tự làm bài tập.
Cuối cùng GV phải nêu rõ yêu cầu của mình đối với HS, HS phải làm gì,

làm theo nhóm hay làm cá nhân, có thể nhờ đến GV hoặc bạn bè giúp đỡ hay
không.. .và khi nào phải hoàn thành bài tập.


Hai là: GV tổng kết, kết luận những vấn đề chủ yếu, trọng tâm của bài học.
-

Hoạt động 4: GV giới thiệu nội dung học tập tiếp theo.
Cuối giờ lên lớp GV dành thời gian khoảng 5 phút để củng cố bài học

bằng cách đưa ra một số câu hỏi đánh giá việc thực hiện nội dung học tập trên
(có thể tiến hànhđánh giá ngay sau mỗi nội dung học tập vào cuối hoạt động 3).
Sau đó GV giới thiệu bài học mới của tiết sau và giới thiệu, yêu cầu, hướng dẫn
HS đọc SGK, tài liệu có liên quan.


2.2.

Quy trình thực hiện bài giảng

2.2.1.

Bước tiến hành thảo luận nội dung tự học

* Các quỉ trình chuẩn bị bài giảng:
-

GV cần lập kế hoạch trước cho bài giảng có sử dụng phương pháp tự học

-

Dặn dò, giao từng nội dung cho từng nhóm HS về nhà chuẩn bị những
nội dung cần thiết cho bài học.


Buổi thảo luận được kết thúc bằng lòi kết luận của GV. GV sẽ phải tập


trung đánh giá vào những vấn đề sau:
Những nội dung tự học đã chuẩn bị cho buổi thảo luận của các tổ các
nhóm đạt đến mức độ nào; sự phổi hợp của các thành viên trong nhóm, tổ khi
tham gia thảo luận; những nội dung mới được làm sáng tỏ ưong buổi thảo luận,
như vậy đã đạt được mục đích, yêu cầu đặt ra chưa...
GV nêu một cách có hệ thống những ý kiến của HS đã chuẩn bị thông
qua việc tự học. Đánh giá những ý kiến đó và bổ sung thêm những nội dung cần
thiết. Nhận xét tinh thần, thái độ làm việc của HS trong giờ thảo luận, có khen
và chê đúng mực.
Như vậy, thảo luận có các chức năng dạy học, giáo dục, đặc biệt là chức
năng kiểm tra, tự kiểm tra. 1
2.3.

Quy trình kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của HS

2.3.1.

Ỷ nghĩa của việc kiểm tra, đánh giá kết quả của học HS

Ở một số bài kiểm ưa, HS có thể tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của
mình dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Nhưng đối với những bài kiểm ưa có
tính quyết định, thì việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh hoàn
toàn do GV đảm nhiệm.
Hoạt động kiểm ưa đánh giá kết quả học tập của HS không chỉ có ý nghĩa
quan ưọng đối với học sinh, nó còn giúp GV kiểm soát được quá trình dạy học,
phân loại và đưa ra được những biện pháp giúp đỡ HS hoàn thành nhiệm vụ học
tập. Đánh giá kết quả học tập là đánh giá mức độ hoàn thành các mục tiêu đã đề


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status