VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
QUÁCH THỊ KIỀU
QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
QUÁCH THỊ KIỀU
QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÒA BÌNH
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS NGUYỄN THỊ MAI LAN
Hà Nội, ngày 15 tháng 6 năm 2016
Tác giả
Quách Thị Kiều
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................ 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ....... 13
1.1. Một số vấn đề lí luận về quản lý ............................................................. 13
1.2. Một số vấn đề lí luận về quản lý công tác xã hội .................................... 15
1.3. Quản lý công tác xã hội trong các cơ sở bảo trợ xã hội .......................... 21
1.4. Cơ sở chính trị và cơ sở pháp lý liên quan đến quản lý công tác xã hội ..... 37
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI TỪ THỰC
TIỄN TỈNH HÒA BÌNH .............................................................................. 45
2.1. Khái quát chung về các cơ sở bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Hoà Bình ... 45
2.2. Thực trạng công tác xã hội tỉnh Hoà Bình .............................................. 46
2.3. Thực trạng quản lý công tác xã hội từ thực tiễn tỉnh Hoà Bình ............... 56
Chƣơng 3. BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CÔNG
TÁC XÃ HỘI TẠI TỈNH HOÀ BÌNH ........................................................ 69
3.1. Cơ sở đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu qủa quản lý công tác xã hội
tỉnh Hoà Bình .................................................................................................. 69
3.2.Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý công tác xã hội tỉnh Hoà Bình ..... 71
KẾT LUẬN .................................................................................................... 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 82
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
điều kiện xã hội phù hợp để giúp họ thực hiện được mục đích cá nhân. Đó là
hoạt động cung cấp các dịch vụ xã hội cho cá nhân, gia đình và cộng đồng
nhằm giúp họ giải quyết những vấn đề khó khăn nảy sinh trong cuộc sống,
nhằm đem lại sự an sinh cao nhất cho con người, sự tiến bộ và công bằng xã
hội. Đối tượng xã hội chủ yếu mà các cán bộ công tác xã hội hướng tới là các
cá nhân và các nhóm xã hội yếu thế - các cá nhân và các nhóm xã luôn cần sự
giúp đỡ. Có thể nói công tác xã hội là hoạt động luôn mang tính nhân đạo cao
cả, hoạt động đem lại sự an sinh, hạnh phúc cho con người, hướng tới sự phát
triển và văn minh xã hội.
Một trong những chủ trương quan trọng nhằm hiện thực hóa quan điểm
của Đảng và Nhà nước về việc phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam,
năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 32/2010/QĐ – TTg về
đề án phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam. Kể từ khi Thủ tướng Chính
phủ ban hành Quyết định 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 phê duyệt Đề án
phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 (gọi tắt là Đề án 32),
công tác xã hội (CTXH) được chính thức công nhận là một nghề ở Việt Nam,
nhằm giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng phục hồi hay tăng cường chức
năng xã hội góp phần bảo đảm nền an sinh xã hội.
Trong giai đoạn khởi đầu này, các tỉnh, thành phố đồng thời thực hiện
việc hình thành mạng lưới các trung tâm công tác xã hội vừa tiến hành chuẩn
hóa đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên, cộng tác viên CTXH (sau đây gọi
chung là nhân viên CTXH) cho địa phương mình thông qua các biện pháp đào
tạo, bồi dưỡng kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ cho nhân viên CTXH, phấn đấu
từng bước đưa nghề CTXH hướng tới một nghề chuyên nghiệp trong xã hội.
1
Tuy nhiên, công tác xã hội là một nghề mới ở Việt Nam nên còn thiếu tính
chuyên nghiệp, thiếu kinh nghiệm, hệ thống dịch vụ công tác xã hội thiếu
đồng nhất, việc tổ chức thực hiện các hoạt động công tác xã hội đối với các
nhau lại với mục đích giúp đỡ những người gặp khó khăn. Họ chia nhau đi
thăm viếng và giúp đỡ những gia đình có vấn đề khó khăn ở các khu nhà ổ
chuột, xóm lao động...
Ban đầu hoạt động của nhóm này chủ yếu là cứu trợ những người thất
nghiệp nghèo đói từng bị xem là những "kẻ lười biếng", "thiếu đạo đức". Sau
đó, họ nhận thấy rằng nếu cứ tiếp tục hình thức giúp đỡ theo kiểu ban phát thì
đối tượng sẽ trông chờ, ỷ lại và không tự lực vươn lên. Họ đã rút ra bài học
kinh nghiệm và thay đổi hình thức giúp đỡ thay vì sự giúp đỡ mang tính ban
phát bằng sự tự giúp. COS đã tổ chức nhiều chương trình lao động cho những
người nghèo còn khả năng lao động để họ có thể sinh sống bằng công việc
làm ăn chính đáng.
Từ chỗ trực tiếp giúp đỡ từng cá nhân, người giúp đỡ đã sớm nhận ra
rằng con người lâm vào hoàn cảnh khó khăn không chỉ hoàn toàn do yếu kém
của chính cá nhân họ mà còn do những tác động bởi môi trường, của quá trình
phát triển nên cần thay đổi cách thức giúp đỡ bằng cách tác động đến những
nguyên nhân làm nảy sinh vấn đề, vào sự tương tác giữa các thành viên và xã
hội. Những kinh nghiệm đầu tiên này của COS đã đặt nền tảng cho hoạt động
của ngành Công tác xã hội sau này. Như vậy có thể nói rằng, về cơ bản Công
tác xã hội đã có bề dày phát triển trên thế giới hàng vài chục năm, thậm chí có
những nước đã có bề dày phát triển Công tác xã hội hàng trăm năm nay, được
xã hội thừa nhận là một nghề chuyên nghiệp không thể thiếu trong đời sống
xã hội. Từng quốc gia có Hiệp hội Công tác xã hội và Hiệp hội các Trường
Công tác xã hội. Trên phạm vi quốc tế, có Hiệp hội Công tác xã hội quốc tế,
Hiệp hội các trường Đại học Công tác xã hội toàn cầu.
Những nghiên cứu và bàn luận về quản lý công tác xã hội được đề cập
đến qua các khía cạnh cơ bản đó là: (1) Những vấn đề lý luận cơ bản về quản
3
lý công tác xã hội; (2) Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý công tác
Tiếp theo các cuốn sách về quản lý công tác xã hội nêu dẫn ở trên,
chúng tôi nhận thấy các sách, các nghiên cứu, các bài báo khoa học về vấn đề
này đã được xuất bản. Trong đó, với những cách tiếp cận và kế thừa của các
nhà nghiên cứu đi trước, các tác giả đã xuất bản các nghiên cứu của mình về
vấn đề này. Trong đó, phải kể đến là cuốn giáo trình “Quản lý công tác xã
hội” của tác giả Trịnh Thị Chinh (Chủ biên), trong nội dung cuốn sách đã
trình bầy được nhiều vấn đề lí luận và thực tiễn về quản lý công tác xã hội.
Trong đó gồm có các vấn đề cơ bản như: Những vấn đề chung về quản trị
công tác xã hội; Quản trị công tác xã hội ở cấp độ cá nhân; Quản trị công tác
xã hội ở cấp độ tổ chức [4].
-Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý công tác xã hội ở cấp độ tổ
chức:
Nghiên cứu về vấn đề này có các tác giả như: Trần Hữu Trung, Trần
Đình Tuấn. Trong đó, tác giả Trần Định Tuấn với cuốn sách “Lý thuyết và
thực hành công tác xã hội” đã trình bầy những vấn đề cơ bản về quản lý công
tác xã hội từ góc độ lỹ luaanjv à thực tiễn [23]. Bên cạnh đó, trong “Kỷ yếu
hội thảo quốc gia phát triển công tác xã hội”, do tác giả Trần Hữu Trung (chủ
biên) năm 2009 cũng đã có nhiều bài viết khoa học về vấn đề này [24].
- Quản lý công tác xã hội ở cấp độ người nhân viên xã hội: Đây là
hướng nghiên cứu dành được rất nhiều sự quan tâm của cac nhà nghiên cứu.
Đã có rất nhiều nghiên cứu cụ thể về vấn đề này đã được tổng kết thành các
giáo trình, sách chuyên khảo, bài báo khoa học đăng trên các tạp chí chuyên
ngành.
Tác giả Bùi Thị Xuân Mai đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản
lý công tác xã hội ở cấp độ người nhân viên công tác xã hội. Cụ thể như sau:
Giáo trình tham vấn (2008) [14]; Tài liệu Tập huấn Hỗ trợ tâm lý xã hội cho
những người dễ bị tổn thương (1996) [13],... Nội dung cơ bản trong các công
trình khao học này đã đề cập nhiều đến các vấn đề lí luận và thực tiễn về quản
5
hợp với người sử dụng ma túy; Tiến trình quản trường hợp với người sử dụng
ma túy.
Tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa (chủ biên), (2014), đã xuất bản sách
“Công tác xã hội với người khuyết tật”, trong nội dung sách cũng đã bàn đến
những vấn đề về quản lý trường hợp đối với người khuyết tật [8].
Như vây, tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý công tác xã hội
trên thế giới và ở Việt Nam chúng tôi nhận thấy: Đây là hướng nghiên cứu
dành được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học, điều này khẳng định tầm
quan trọng và tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay.
Tổng quan tình hình nghiên cứu cũng cho thấy, các nghiên cứu tập trung vào
việc chỉ ra cơ sở lí luận về quản lý công tác xã hội nói chung và bàn luận
nhiều về quản lý công tác xã hội từ 2 góc độ cơ bản đó là: Quản lý công tác
xã hội ở cấp độ tổ chức và quản lý công tác xã hội ở cấp độ người nhân viên
xã hội. Những nghiên cứu lý luận và thực tiễn về vấn đề này ở Việt Nam vẫn
còn nhiều khía cạnh có thể khai thác để nghiên cứu cụ thể như vấn đề quản lý
công tác xã hội ở cấp độ tổ chức, nhấn mạnh đến những vấn đề lí luận và thực
tiễn về quản lý công tác xã hội đối với các cơ sở an sinh xã hội cụ thể tại một
địa bàn nào đó. Do vậy, tác giả luận văn đã lựa chọn vấn đề còn ít được
nghiên cứu này để thực hiện luận văn thạc sĩ của mình. Đó là vấn đề lí luận và
thực tiễn về quản lý công tác xã hội từ thực tiễn các cơ sở an sinh xã hội trên
địa bàn tỉnh Hòa Bình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và phân tích thực trạng quản lý công tác
xã hội đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của quản lý công tác
xã hội trên đại bàn tỉnh Hòa Bình.
3.2.Nhiện vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lí luận về quản lý công tác xã hội.
như: Quản lý các đối tượng xã hội có hoàn cảnh đặc biệt; Quản lý đội ngũ cán
8
bộ nhân viên trong các cơ sở bảo trợ xã hội; Quản lý tài chính, tài sản trong
cơ sở bảo trợ xã hội.
- Phạm vi về thời gian: 2015 – 2016
- Phạm vi về không gian: Luận văn tiến hành nghiên cứu các cơ sở xã
hội trên địa bàn tỉnh Hòa Bình.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận liên ngành công tác xã hội, tâm lý học, khoa học
quản lý: Quản lý công tác xã hội được các ngành công tác xã hội, tâm lý học,
khoa học quản lý nghiên cứu, do đó việc nghiên cứu quản lý công tác xã hội
cần được xem xét theo tiếp cận liên ngành các khoa học này.
- Phương pháp tiếp cận hoạt động và quản lý: Quản lý là một hoạt động
mang tính khoa học và nghệ thuật. Do vậy, việc nghiên cứu về quản lý nói
chung và quản lý công tác xã hội nói riêng cần phải nghiên cứu thông qua các
hoạt động quản lý trong thực tiễn tại các trung tâm công tác xã hội.
- Phương pháp tiếp cận phát triển và hệ thống: Hiệu quả của quản lý
công tác xã hội phải được xem xét như là kết quả tác động của nhiều yếu tố và
giá trị nhân cách của chủ thể quản lý. Vì vậy, việc nghiên cứu quản lý công
tác xã hội cần dựa trên dựa trên mối quan hệ của một số yếu tố như yếu tố
thuộc về chủ thể quản lý và yếu tố thuộc về đối tượng bị quản lý.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu, văn bản
- Phân tích, tổng hợp và đánh giá những công trình nghiên cứu của các
tác giả trong và ngoài nước xung quanh các vấn đề có liên quan đến quản lý
công tác xã hội, từ đó chỉ ra những vấn đề còn tồn tại hoặc chưa được đề cập
đến trong các nghiên cứu đó để tiếp tục tiến hành nghiên cứu.
tin về bản thân, làm rõ về nội dung quản lý công tác xã hội tại tỉnh Hòa Bình,
lý giải nguyên nhân, đề xuất những biện pháp góp phần nâng coa hiệu quả
quản lý công tác xã hội tỉnh Hòa Bình.
10
- Công cụ nghiên cứu: Đề cương phỏng vấn sâu cá nhân (phụ lục 2).
- Cách đánh giá: Những thông tin thu được sẽ được xử lý theo phương
pháp định tính.
5.2.4. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
-Mục đích của phương pháp:
Hình thành và hệ thống các bảng kết quả làm cơ sở cho việc phân
tích số liệu.
+ Phương pháp phân tích định tính: Sử dụng phương pháp này để xử lý
kết quả phỏng vấn sâu. Các kết quả của phỏng vấn sâu đối với cán bộ quản lý,
nhân viên công tác xã hội, đối tượng trực tiếp thụ hưởng dịnh vụ công tác xã
hội được phân loại theo từng khía cạnh của nội dung quản lý công tác xã hội.
+ Các phương pháp phân tích định lượng:
Số liệu thu được sau điều tra chính thức được xử lý bằng chương trình
thống kê SPSS dùng trong môi trường Window, phiên bản 13.0. Các thông số,
các phép toán thống kê được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm:
Phân tích thống kê mô tả
Các chỉ số phân tích thống kê mô tả bao gồm:
- Tần số tuyệt đối (các số đếm) và tần số tương đối (số phần trăm), đối
với các số biến dạng số và biến dạng chuỗi với các nhóm hạng không có thứ
bậc. Tần số tương đối tích luỹ (phần trăm cộng dồn) đối với các biến định
lượng (hoặc các biến dạng chuỗi với các nhóm hạng có thứ bậc). Tần số tuyệt
đối và tần số tương đối cho phép mô tả dữ liệu từ bất kỳ phân phối có dạng
như thế nào. Bằng cách kiểm tra các trị số cho từng biến có thể nhận dạng các
sai số do đo đạc, mã hoá, hoặc mã hoá lại, thậm chí các trị số tuy chính xác
Chương 2: Thực trạng quản lý công tác xã hội từ thực tiễn tỉnh Hoà Bình.
Chương 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý công tác xã hội từ thực
tiễn tỉnh Hoà Bình.
12
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI
1.1. Một số vấn đề lí luận về quản lý
1.1.1. Khái niệm quản lý
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý:
Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: Quản lý là
hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lí) đến
khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức
vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [3, tr 1].
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang : Quản lý là tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là
khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến [18, tr 24].
- Trần Kiểm : Quản lý là những tác động hoạch của chủ thể quản lý
trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (
nhân lực, vật lực, tài lực ) trong và ngoài tổ chức ( chủ yếu là nội lực ) một
cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất [9, tr74].
Các định nghĩa của các tác giả dù đứng ở nhiều góc độ khác nhau,
nhưng đều có điểm chung là: Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch
của chủ thể quản lý đến các đối tượng quản lý nhằm đạt mục đích của tổ chức
với hiệu quả cao nhất. Như vậy, quản lý bao gồm hai yếu tố cơ bản là : chủ
thể quản lý và đối tượng quản lý. Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý có thể
là một cá nhân, một tổ chức, một tập thể. Giữa chủ thể quản lý và đối tượng
quan lý có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng qua lại với nhau, tương
năng cũng khác nhau.
Kiểm tra
Kế hoạch
Thông tin
Tổ chức
Tổ chức
Chỉ đạo
Sơ đồ 1: Các chức năng trong chu trình quản lý
14
1.2. Một số vấn đề lí luận về quản lý công tác xã hội
1.2.1. Lý luận về công tác xã hội
1.2.1.1. Khái niệm công tác xã hội
Công tác xã hội là một ngành khoa học, một nghề chuyên môn ứng
dụng trong hệ thống an sinh xã hội ở nhiều quốc gia trên thế giới từ gần một
thế kỷ nay. Tuy nhiên ở mỗi một giai đoạn lịch sử khác nhau, một nền văn
hóa khác nhau, sự phát triển công tác xã hội khác nhau thì công tác xã hội
được hiểu và đưa ra các khái niệm cũng khác nhau. Dưới đây là một số khái
niệm về công tác xã hội:
Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp CTXH Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị
Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy
sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người,
sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của
1.2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ công tác xã hội
Theo Hiệp hội Quốc gia các nhân viên công tác xã hội Mỹ (NASW) thì
sứ mạng chủ yếu của nghề công tác xã hội là tăng cường chất lượng cuộc
sống của con người và giúp đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người,
đặc biệt quan tâm đến nhu cầu của nhóm đối tượng dễ bị tổn thương,
những người bị áp bức và người nghèo.(NASW,1994). Tương tự như vậy,
Hội đồng Giáo dục Công tác xã hội Mỹ (CSWE) mô tả nghề công tác xã hội
như là nghề hết lòng tăng cường cuộc sống an sinh con người và giảm nghèo
khó, áp bức (CSWE, 1994). Xuất phát từ những quan niệm nêu trên ngành
công tác xã hội đã xác định rõ rang chức năng và nhiệm vụ của mình.
-Chức năng của công tác xã hội: Có 4 chức năng cơ bản
(1) Chức năng phòng ngừa:
Với quan điểm phòng bệnh hơn chữa bệnh, công tác xã hội không chờ
tới khi cá nhân hay gia đình rơi vào hoàn cảnh khó khăn rồi mới giúp đỡ. Nếu
làm như vậy thì hao tổn công sức, thời gian, tiền của và không có lợi cho đối
tượng cũng như toàn xã hội. Vì vậy công tác xã hội rất quan tâm đến phòng
16
ngừa những vấn đề xã hội của cá nhân, gia đình hay cộng đồng. Những hoạt
động giáo dục nâng cao nhận thức cho cá nhân hay gia đình, việc cung cấp
các kiến thức về HIV/AIDS hay kiến thức về ma túy... đều có ý nghĩa cho
công tác phòng ngừa. Để phòng ngừa có hiệu quả cần tạo dựng môi trường xã
hội hài hòa cho cá nhân va gia đình thông qua các chính sách, chương trình
kinh tế - xã hội và cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản.
(2) Chức năng can thiệp:
Chức năng can thiệp ( còn được gọi là chức năng chữa trị hay trị liệu )
nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình hay cộng đồng giải quyết vấn đề đang gặp
phải. Khi thực hiện chức năng này nhân viên xã hội giúp đỡ đối tượng vượt
qua khó khăn, giải quyết vấn đề đang tồn tại. Phương châm chủ đạo trong can
năng giải quyết vấn đề trong cuộc sống, phát triển các kế hoạch để giải quyết
và ủng hộ các nỗ lực của thân chủ để tạo ra những thay đổi trong cuộc sống
và hoàn cảnh của họ.
Nối kết thân chủ với các nguồn lực cần thiết. Giúp đỡ thân chủ sử dụng
các nguồn lực mà họ cần thiết để thay đổi có hiệu quả tình trạng của họ. Nhân
viên xã hội ủng hộ các chính sách và dịch vụ cung cấp phúc lợi tốt nhất, nâng
cao giao tiếp giữa các nhà chuyên nghiệp cung cấp dịch vụ, xác định lỗ hổng,
những trở ngại trong các dịch vụ xã hội cần phải giải quyết.
Thúc đẩy mạng lưới cung cấp dịch vụ xã hội : Có nghĩa là nhân viên xã
hội cần đảm bảo rằng hệ thống cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính nhân
đạo và cung cấp các nguồn lực và dịch vụ cho con người. Để hoàn thành mục
tiêu này, nhân viên xã hội tham gia và ủng hộ các kế hoạch tập trung vào thân
chủ, có hiệu lực và hiệu quả
Thúc đẩy sự công bằng xã hội thông qua phát triển chính sách xã hội.
Đối với việc phát triển các chính sách xã hội, nhân viên xã hội nghiên cứu các
vấn đề xã hội để thực hiện chính sách. NVXH đưa ra những đề xuất các chính
sachs mới và biện hộ để dừng áp dụng thực hiện các chính sách không hữu
ích. Ngoài ra, nhân viên xã hội cụ thể hóa các chính sách chung thành các
chương trình và các dịch vụ cụ thể nhằm đáp ứng các nhu cầu của con người.
18