VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THANH HẢI
NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THANH HẢI
NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số
: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
2.1. Đặc điểm tỉnh Quảng Ninh liên quan đến CTXH và nhu cầu về nghề
CTXH của tỉnh .......................................................................................... 31
2.2. Quá trình hình thành, phát triển nghề CTXH và phát triển nguồn nhân
lực CTXH tại tỉnh Quảng Ninh ................................................................ 35
2.3. Thực trạng đội ngũ nhân viên CTXH tỉnh Quảng Ninh .................... 36
2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của nhân viên CTXH .. 59
Chương 3. GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ VÀ THÚC ĐẨY VAI
TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI TỈNH QUẢNG
NINH .............................................................................................................. 66
3.1. Nâng cao năng lực, vai trò, vị trí cho nhân viên CTXH .................... 66
3.2. Tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức lãnh đạo các cấp, các
ngành về chức năng, vai trò của nhân viên CTXH................................... 67
3.3. Đề xuất các điều kiện bảo đảm cho hoạt động nghề nghiệp của nhân
viên CTXH trên địa bàn tỉnh .................................................................... 68
KẾT LUẬN .................................................................................................... 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 73
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LĐTBXH
: Lao động - Thương binh và Xã hội
CTXH
: công tác xã hội
BTXH
: bảo trợ xã hội
Bảng 2.15: Đời sống và mong muốn nghề nghiệp của nhân viên CTXH ...... 61
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 32/2010/QĐ-TTg
ngày 25/3/2010 phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 20102020 (gọi tắt là Đề án 32), CTXH được chính thức công nhận là một nghề ở Việt
Nam, nhằm giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng phục hồi hay tăng cường
chức năng xã hội, góp phần bảo đảm nền ASXH.
Mục tiêu chung của Đề án 32 là: Phát triển CTXH trở thành một nghề ở
Việt Nam. Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề CTXH; xây dựng đội
ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên CTXH đủ về số lượng, đạt
yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH
tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống ASXH tiên tiến.
Để thực hiện mục tiêu phát triển nghề, sau khi Đề án 32 được phê duyệt,
các địa phương trong cả nước đã xây dựng chương trình, mục tiêu, kế hoạch
nhằm cụ thể hóa Đề án 32 trên địa bàn phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của địa phương và chỉ đạo việc triển khai thực hiện. Theo số liệu thống kê
của Bộ LĐTBXH, đến hết tháng 12/2015 trong toàn quốc đã có 34 tỉnh, thành
phố có trung tâm CTXH cấp tỉnh, trong đó nhiều tỉnh, thành phố hình thành
được mạng lưới thí điểm các Văn phòng CTXH đến cấp huyện, cấp xã và có
cộng tác viên CTXH tại cộng đồng.
Trong giai đoạn khởi đầu này, các tỉnh, thành phố đồng thời thực hiện
việc hình thành mạng lưới các trung tâm, văn phòng CTXH vừa từng bước
chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên, cộng tác viên CTXH (sau đây
gọi chung là nhân viên CTXH) cho địa phương mình thông qua các biện pháp
đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ cho nhân viên CTXH, phấn
đấu từng bước đưa nghề CTXH hướng tới một nghề chuyên nghiệp trong xã hội.
Tỉnh Quảng Ninh là một trong những địa phương đi đầu trong việc phát triển
nghề CTXH ở giai đoạn này và đã thu được những kết quả nổi bật.
CTXH đầu tiên ở Việt nam. Theo nghiên cứu này, nhân viên CTXH làm việc
2
trong nhiều lĩnh vực, theo các loại nhu cầu của xã hội (trẻ em, người khuyết tật,
gia đình ly hôn, mại dâm, bệnh tâm thần, HIV/AIDS, sử dụng ma tuý, đói nghèo,
người già cô đơn không nơi nương tựa và những nhóm khác). Nghiên cứu cũng
chỉ rõ rằng có "ít nhất 30% mẫu nghiên cứu làm việc ở tất cả các lĩnh vực, 60%
làm việc với trẻ em, và với người khuyết tật, HIV/AIDS, sử dụng ma tuý và đói
nghèo khoảng 40%. Các cán bộ cơ sở có xu hướng làm kiêm ít lĩnh vực hơn,
nhưng cho dù vậy trong nhóm này số quân bình là 2,5 lĩnh vực làm việc trên một
người"[57, tr9].
Cũng theo báo cáo này, có khoảng 60% mẫu nghiên cứu nhân viên CTXH
được đào tạo về CTXH, nhưng chủ yếu là đào tạo ngắn hạn. Hình thức đào tạo
thích hợp để phát triển nguồn nhân lực CTXH có chất lượng là một thách thức
khi nhu cầu xã hội thì ngày một tăng cao, trong khi các hình thức đào tạo bậc cao
vào thời điểm đó mới manh nha bắt đầu. Kết quả nghiên cứu cho thấy hình thức
đào tạo tại chức được ưa thích hơn đào tạo chính qui. Đó cũng là điều dễ hiểu
khi vào thời điểm đó, nhân viên CTXH là những người đang làm việc và nhu cầu
được bồi dưỡng các kỹ năng thực hành là rất thực tế, hơn là học các chương trình
chính qui với hệ thống lý thuyết đồ sộ.
Với mục tiêu phát triển nghề CTXH ở Việt Nam, Đề án 32 để phát triển
nghề CTXH giai đoạn 2010-2020 (Quyết định 32/2010/QĐ-TTg), được ra đời.
Từ đó, CTXH được chính thức coi như một ngành khoa học, một nghề có
chuyên môn đặc thù trong xã hội, mã ngành đào tạo và mã số ngạch viên chức
được ban hành. Trong bài viết của Thái Bình, "cả nước hiện có hơn 500 cơ sở
bảo trợ xã hội[1]. Theo Đề án 32, hiện số người cần trợ giúp của các dịch vụ
CTXH chiếm khoảng 40% dân số. Cả nước có hơn 32.000 cán bộ, nhân viên,
cộng tác viên làm việc trong lĩnh vực CTXH, tuy nhiên phần lớn (81,5%) chưa
phạm vi nhân viên CTXH làm việc với trẻ em có HCĐB, chưa có cái nhìn trong
toàn bộ hệ thống.
Trung tâm CTXH tỉnh Quảng Ninh, trong các báo cáo tổng kết hoạt động
của trung tâm các năm 2011, 2012, 2013, 2014, 2015 đã có đánh giá đến công
tác nhân sự; đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề
4
nghiệp cho đội ngũ nhân viên CTXH, nhưng chưa đi sâu phân tích thực trạng
chất lượng và các yếu tố liên quan đến nhân viên CTXH. Sở Lao động - Thương
binh và Xã hội tỉnh Quảng Ninh (2015), trong báo cáo "Kết quả triển khai thực
hiện Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2011-2015 và Kế hoạch
giai đoạn 2016-2020" đã đề cập kết quả thực hiện được trong công tác tham
mưu, chỉ đạo; công tác tuyên truyền; xây dựng, mở rộng, phát triển mạng lưới
các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH; rà soát, thống kê, phân loại nhân sự đang
thực hiện dịch vụ CTXH; công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ làm CTXH. Báo
cáo chỉ ra những khó khăn, tồn tại, nguyên nhân trong quá trình triển khai thực
hiện đề án 32 giai đoạn 2011-2015, có những đề xuất cụ thể và đề ra kế hoạch
tiếp tục thực hiện Đề án này giai đoạn 2016-2020[31]. Tuy nhiên, trong báo cáo
này nội dung về đội ngũ nhân viên CTXH còn sơ sài, chưa tách biệt được đội
ngũ nhân viên CTXH chuyên nghiệp và đội ngũ đã có sẵn trong các phòng
chuyên môn, đơn vị trực thuộc Sở LĐTBXH, phòng LĐTBXH cấp huyện hiện
đang làm những công việc có tính chất nghề nghiệp liên quan đến CTXH.
Một số tác giả khác đang thực hiện luận văn thạc sĩ nghiên cứu về CTXH
với người cao tuổi, CTXH đối với người dân tộc thiểu số về giảm nghèo bền
vững, CTXH với trẻ em vi phạm pháp luật, CTXH với trẻ em bị bệnh tự kỷ,
nhưng đến nay chưa có nghiên cứu nào về đội ngũ nhân viên CTXH chuyên
nghiệp của tỉnh.
Trong quá trình nghiên cứu, xem xét khảo các báo cáo, văn bản, đề án và
hoạt động thực tế của đội ngũ nhân viên CTXH tỉnh Quảng Ninh.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Trong khuôn khổ của đề tài này, tác giả xin chọn khách thể nghiên cứu là
đội ngũ nhân viên CTXH trong hệ thống trung tâm, văn phòng CTXH (sau đây
gọi là đội ngũ nhân viên CTXH chuyên nghiệp) trực thuộc ngành LĐTBXH trên
địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về đối tượng: Kiến thức, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp, vai trò của
đội ngũ nhân viên CTXH thông qua thực tế hoạt động nghề nghiệp trên địa bàn
tỉnh Quảng Ninh.
6
Phạm vi về khách thể: Nghiên cứu với đội ngũ nhân viên CTXH tại Trung
tâm CTXH tỉnh và các văn phòng CTXH (106 người); lãnh đạo phòng bảo vệ,
chăm sóc trẻ em, phòng bình đẳng giới, phòng bảo trợ xã hội, Quỹ bảo trợ trẻ em
thuộc Sở LĐTBXH tỉnh Quảng Ninh (10 người).
Phạm vi về thời gian: từ tháng 01 năm 2016 đến hết tháng 6 năm 2016
Phạm vi về nội dung: Công tác tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ nhân viên CTXH trong hệ thống Trung tâm, văn phòng CTXH
thuộc ngành lao động - thương binh, xã hội của tỉnh Quảng Ninh và việc thực
hành nghề của nhân viên CTXH trên địa bàn tỉnh.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận về quan điểm thực tiễn và quan
điểm hệ thống để xem xét đánh giá về đội ngũ nhân viên CTXH của tỉnh Quảng
Ninh.
Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống những lý
thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài như các thuyết về quyền con người,
LĐTBXH tỉnh để tìm hiểu quan điểm, suy nghĩ, đánh giá đối với đội ngũ nhân
viên CTXH và việc phát triển nghề CTXH chuyên nghiệp tại tỉnh.
- Phương pháp quan sát: Qua quan sát thực tế tại trung tâm và tại cộng
đồng, tác giả thu thập thêm các thông tin cần thiết phục vụ cho mục tiêu nghiên
cứu của đề tài.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận của đề tài
Đây là nghiên cứu đầu tiên về đội ngũ nhân viên CTXH chuyên nghiệp tại
địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Nghiên cứu sẽ góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về
nhân viên CTXH từ hoạt động thực tiễn địa phương và chỉ ra những điều kiện
bảo đảm cần thiết để nhân viên CTXH phát huy được tốt khả năng nghề nghiệp
của mình.
8
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Giúp địa phương nhìn nhận, đánh giá được thực trạng đội ngũ nhân viên
CTXH trên địa bàn, về những thế mạnh, những hạn chế và nguyên nhân dẫn đến
những hạn chế.
- Nghiên cứu đề xuất phương hướng, giải pháp khắc phục những hạn chế
trong công tác cán bộ, nghiên cứu sẽ góp phần thúc đẩy phát triển nghề CTXH
trong hệ thống ngành LĐTBXH nói riêng và của tỉnh Quảng Ninh nói chung.
- Kết quả nghiên cứu sẽ có tác dụng để các địa phương khác tham khảo,
rút kinh nghiệm trong quá trình xây dựng đội ngũ nhân viên CTXH và phát triển
nghề CTXH tại địa phương. Đồng thời, tác giả mong muốn đây sẽ trở thành một
tài liệu tham khảo cho học viên, sinh viên ngành CTXH trong quá trình học tập
và nghiên cứu của mình trong thời gian tiếp theo.
7. Cơ cấu luận văn
- Phần mở đầu
Nhân viên CTXH (social worker) được Hiệp hội các nhà CTXH chuyên
nghiệp Quốc tế - IASW định nghĩa: “... là người được đào tạo và trang bị các
kiến thức và kỹ năng trong CTXH, họ có nhiệm vụ: trợ giúp các đối tượng nâng
cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống; tạo cơ hội để
các đối tượng tiếp cận được nguồn lực cần thiết; thúc đẩy sự tương tác giữa các
cá nhân, giữa cá nhân với môi trường tạo ảnh hưởng tới chính sách xã hội, các
cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua
hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn”[25, tr141].
10
1.2. Vai trò và yêu cầu đối với nhân viên công tác xã hội
1.2.1. Vai trò của nhân viên công tác xã hội
NVCTXH có thể làm việc trong các cơ quan nhà nước ở các cấp, ở cộng
đồng và trong các cơ sở cung cấp dịch vụ, trong các trung tâm như cơ sở BTXH,
trường giáo dưỡng, mái ấm, nhà mở hay các tổ chức phi chính phủ. Khi
NVCTXH ở những vị trí khác nhau thì vai trò và các hoạt động của họ cũng rất
khác nhau, tùy theo chức năng và nhóm thân chủ mà họ làm việc. Theo quan
điểm của Feyerico (1973), nhân viên CTXH có những vai trò sau[25, tr145-148]:
- Vai trò là người vận động nguồn lực: Nhân viên CTXH trợ giúp đối
tượng (cá nhân, gia đình, cộng đồng) tìm kiếm nguồn lực (nội lực, ngoại lực)
để giải quyết vấn đề của họ. Nguồn lực có thể bao gồm về con người, về cơ sở
vật chất, về tài chính, kỹ thuật, thông tin; sự ủng hộ về chính sách, chính trị
và quan điểm...
- Vai trò là người kết nối (còn gọi là trung gian): Nhân viên CTXH là
những người có được thông tin về các dịch vụ, chính sách và giới thiệu, giúp
cho đối tượng có thể tiếp cận các chính sách, dịch vụ, nguồn tài nguyên đang
sẵn có từ các cá nhân, cơ quan, tổ chức để họ có thêm sức mạnh trong giải
quyết vấn đề (như người nghèo cần có thông tin về chính sách nhà ở, bảo
tự mình xem xét vấn đề và tự thay đổi (ví dụ: Nhân viên CTXH tham vấn giúp trẻ
em bị xâm hại tình dục hay phụ nữ bị bạo hành vượt qua cơn khủng hoảng).
- Vai trò là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng:
trên cơ sở nhu cầu của cộng đồng đã được cộng đồng xác định, NVCTXH giúp
cộng đồng xây dựng chương trình hành động phù hợp với điều kiện hoàn cảnh,
tiềm năng của cộng đồng để giải quyết vấn đề của cộng đồng.
- Vai trò là người chăm sóc, người trợ giúp: NVCTXHcòn được xem như
người cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho những cá nhân, gia đình không có khả
năng tự đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của mình và giải quyết vấn đề.
- Vai trò là người xử lý dữ liệu: Với vai trò này, NVCTXH nhiều khi phải
nghiên cứu, thu thập thông tin và phân tích thông tin trên cơ sở đó tư vấn cho
thân chủ để họ đưa ra những quyết định đúng đắn.
12
- Vai trò là người quản lý hành chính: NVCTXH khi này thực hiện những
công việc cần thiết cho việc quản lý các hoạt động, các chương trình, lên kế
hoạch và triển khai kế hoạch các chương trình dịch vụ cho cá nhân, gia đình và
cộng đồng.
- Người tìm hiểu, khám phá cộng đồng: Nhân viên CTXH đi vào cộng
đồng để xác định vấn đề của cộng đồng để đưa ra những kế hoạch trợ giúp, theo
dõi, giới thiệu chuyển giao những dịch vụ cần thiết cho các nhóm thân chủ trong
cộng đồng.
Như vậy, có thể thấy nhân viên CTXH phải đảm nhiệm khá nhiều vai
trong quá trình hành nghề của mình. Tùy thuộc vào công việc được giao, đối
tượng được họ trợ giúp và vai trò, vị trí trách nhiệm cụ thể họ có thể thể hiện
một hay nhiều vai trò khác nhau. Để đáp ứng được các vai trò này, họ phải đầu
tư học tập, nghiên cứu, thực hành để có vốn kiến thức sâu rộng và thành thạo các
kỹ năng cần thiết.
tới sự thay đổi, người nhân viên CTXH trong cộng đồng cũng được xem như tác
nhân thay đổi, nên cần có quan điểm cấp tiến, tránh bảo thủ mới thực hiện được
mục tiêu nghề nghiệp đặt ra.
- Thứ tám, nhân viên CTXH cũng cần là người người tỏ ra cương trực, sẵn
sàng từ chối sự gian lận trong người quản lý
* Yêu cầu về kiến thức
Nhằm bảo đảm hoạt động nghề nghiệp có hiệu quả, nhân viên CTXH cần
có những kiến thức cơ bản sau đây[25, tr154-156]:
Kiến thức về chính sách và dịch vụ trợ cấp xã hội. Nhân viên công tác xã
hội phải hiểu và sử dụng thành thạo những dịch vụ sẵn có trong cộng đồng và xã
hội; và có khả năng giới thiệu những dịch vụ phù hợp đến với những đối tượng
khác nhau cần sự trợ giúp.
Kiến thức về hành vi ứng xử của con người và môi trường xã hội, bao
gồm nội dung kiến thức về phát triển con người, phát triển nhân cách cá nhân (cả
những điều bình thường và không bình thường); giá trị và tiêu chuẩn văn hoá;
quá trình hoà nhập cộng đồng; và những khía cạnh khác ảnh hưởng đến chức
năng của cá nhân và các nhóm trong xã hội.
14
Nắm được các phương pháp CTXH, bao gồm kỹ thuật can thiệp trong khi
làm việc với cá nhân, làm việc với nhóm và tổ chức cộng đồng.
Kiến thức về nghiên cứu và quản lý.
Các kiến thức chung về kinh tế - xã hội, pháp luật...
* Yêu cầu về kỹ năng với nhân viên CTXH
Trong tiến trình trợ giúp đối tượng giải quyết vấn đề, tuỳ theo chức năng
và hoạt động cụ thể, người nhân viên CTXH cần sử dụng những kỹ năng phù
hợp trong những kỹ năng sau[25, tr156-159]:
- Kỹ năng lắng nghe tích cực
- Làm thế nào để can thiệp cho khách hàng bằng các lý thuyết tiếp cận
khác nhau.
* Cần hiểu biết về các tổ chức chuyên môn: Nhân viên CTXH làm việc tại
Trung tâm chăm sóc sức khỏe tâm thần phải nắm bắt được các thông tin:
- Những yêu cầu nào cần thiết để khách hàng nhận được dịch vụ.
- Các thủ tục giấy tờ cần thiết để khách hàng nhận được dịch vụ.
- Các thủ tục, giấy tờ tòa án yêu cầu để bảo vệ cho khách hàng chống lại
bản án (trong trường hợp phạm tội không cố ý).
- Ai là người trả các dịch vụ cho khách hàng.
- Hồ sơ nào được lưu giữ để giải trình cho mục đích sử dụng.
- Các quy trình để nhận nuôi hay chăm sóc thay thế một đứa trẻ trong gia đình.
- Mô hình điều trị chuyên biệt được cung cấp bởi các tổ chức trợ giúp cá
nhân, gia đình và các nhóm.
- Chương trình điều trị chuyên biệt được cung cấp bởi các tổ chức và vai
trò của các nhân viên CTXH được mong đợi trong mỗi chương trình.
* Cần có hiểu biết về thân chủ:
- Các vấn đề xã hội cá nhân đang gặp phải.
- Các thông tin căn bản của mỗi khách hàng (như tuổi tác, quá trình
phát triển thời niên thiếu, mối quan hệ trong gia đình, tiểu sử trong thời kỳ
đi học, quá trình làm việc, mối quan hệ với các tổ chức xã hội khác, tình
trạng sức khỏe chung...).
16
- Những yếu tố tác động đến các vấn đề của khách hàng (như vấn đề tài
chính; áp lực từ quan hệ với đồng nghiệp, mối quan hệ trong trường học hoặc
nơi làm việc; áp lực từ phía gia đình; các yếu tố về tôn giáo và chủng tộc, mối
quan hệ bạn bè, các mục tiêu trong cuộc sống, sự thư giãn và các hoạt động có
ý nghĩa...).
hay có nguy cơ yếu thế và thúc đẩy công bằng, bình đẳng về mặt kinh tế
cũng như xã hội.
- Phát triển những kiến thức, kỹ năng của CTXH để bảo đảm mục tiêu
nghề nghiệp của mình.
Do tính chất chức năng khá rộng rãi và phổ quát trong xã hội của nghề
CTXH, nên nhân viên CTXH có thể làm việc ở phạm vi rộng, trong nhiều lĩnh
vực như:
- Lĩnh vực về giải quyết các vấn đề xã hội
- Lĩnh vực về y tế (trong các bệnh viện, cơ sở y tế công cộng...)
- Lĩnh vực giáo dục (trong các trường học, cơ sở đào tạo)
- Lĩnh vực luật pháp (trong các tòa án, nhà giam, trường giáo dưỡng)
- Lĩnh vực chính trị (như tham gia vào các nghị viện, cơ quan dân cử để
có thể đại diện cho tiếng nói của các nhóm yếu thế trong xã hội khi xem xét,
thông qua các luật pháp, chính sách về ASXH...)
- Ngoài ra, nhân viên CTXH còn có thể làm việc trong các cơ quan
nghiên cứu, các tổ chức NGOs, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ
chức xã hội...
Trên thế giới, cơ cấu sử dụng nhân viên CTXH của mỗi quốc gia phụ
thuộc vào hệ thống phúc lợi xã hội của quốc gia đó, tuy nhiên các nước đều có
một điểm chung về cấu trúc tuyển dụng nghề CTXH là sự cân bằng giữa khu vực
nhà nước, khu vực phi lợi nhuận (các tổ chức phi lợi nhuận trong nước và quốc
tế) và khu vực tư nhân, vì lợi nhuận. Đối với nước ta hiện nay, khu vực nhà nước
là nơi chủ yếu sẽ tuyển dụng nhân viên CTXH; bên cạnh đó, khu vực chính phủ
phi lợi nhuận và các tổ chức đoàn thể cũng có tiềm năng tương đối lớn trong việc
tuyển dụng nhân viên CTXH.
18
1.3.2. Theo quy định của các văn bản pháp lý trong nước: