VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ NGOAN
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TỪ THỰC TIỄN
TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Phạm Hữu Nghị
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu ghi trong
luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
PHẠM THỊ NGOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTXH
Công tác xã hội
DVXH
Dịch vụ xã hội
DVCTXH
Dịch vụ công tác xã hội
NCT
Người cao tuổi
TP
Thành phố
NVCTXH
Nhân viên công tác xã hội
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng biểu
Số liệu NCT được bảo vệ khẩn cấp qua các năm
Nội dung tư vấn, tham vấn
Những vấn đề lo lắng nhất trong cuộc sống của NCT
Nhu cầu lao động của NCT
Các hoạt động chăm sóc sức khoẻ NCT
Các hoạt động vui chơi, giải trí của NCT
Đánh giá chất lượng dịch vụ công tác xã hội được cung
cấp tại Trung tâm
40
41
41
41
42
47
47
56
57
59
60
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế hiện nay, những vấn đề xã
hội bức xúc cũng đang có xu hướng bùng phát và duy trì ở mức cao, như sự phân
hóa giầu nghèo, tệ nạn cờ bạc, nghiện ma túy, mại dâm, hay vấn đề già hóa dân
số… Rõ ràng trong thế giới ngày nay việc giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã
hội trên là rất cần thiết và không thể cứ mò mẫm, theo chủ nghĩa kinh nghiệm thuần
túy hoặc theo chủ nghĩa duy lý trí như trước.
thức khác nhau góp một phần hỗ trợ các đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương giải
quyết khó khăn và hòa nhập với cuộc sống của cộng đồng.
Quảng Ninh là một trong những tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế cao, 58%
dân số sống ở thành thị, cao thứ 3 toàn quốc nên cũng có nhiều vấn đề xã hội phức
tạp. Trong đó có rất nhiều các nhóm đối tượng yếu thế, đòi hỏi việc cung cấp các
dịch vụ công tác xã hội để đảm bảo đáp ứng các nhu cầu của họ là vô cùng cần thiết
với sự phát triển của xã hội nhằm đảm bảo an sinh xã hội.
Từ trước tới nay đã có một số đề tài nghiên cứu đến việc cung cấp các dịch
vụ công tác xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong đó đề cập đến các dịch vụ
công tác xã hội dành cho người nghèo, dịch vụ công tác xã hội cho trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt…Tuy nhiên đề cập đến việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội từ thực
tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội còn là đề tài khá mới mẻ.
Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh có lịch sử hình thành và phát triển
trên 55 năm. Từ khi Đề án 32 của Chính phủ được triển khai, Trung tâm Bảo trợ xã
hội tỉnh Quảng Ninh đã bước đầu thực hiện việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội
theo hướng chuyên nghiệp và đạt được một số kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên
trong quá trình thực hiện việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội còn tồn tại nhiều
vướng mắc. Hiện nay, nhu cầu được cung cấp dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn
Trung tâm ngày càng lớn, đòi hỏi sự chuyên nghiệp hoá trong cung cấp các dịch vụ
công tác xã hội.
2
Từ những lý do trên tôi nhận thấy việc thực hiện nghiên cứu: “ Dịch vụ công
tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh” là vô cùng cần
thiết. Đề tài sẽ góp phần tìm hiểu các dịch vụ công tác xã hội đang được cung cấp
tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh. Qua đó đề xuất một số giải pháp để
cải thiện chất lượng dịch vụ công tác xã hội cho nhóm đối tượng được cung cấp
dịch vụ công tác xã hội tại Trung tâm.
chức, đoàn thể để có sự hiểu biết về các dịch vụ của công tác xã hội.
Cuốn sách “Đổi mới công tác xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và hội
nhập quốc tế - Lý luận và thực tiễn” do tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (2013) làm chủ
biên đã tập trung đánh giá thực trạng công tác xã hội ở Việt Nam trong điều kiện
kinh tế thị trường và hội nhập Quốc tế, tìm hiểu những yếu tố thúc đẩy, cản trở việc
phát huy hiệu quả của các hoạt động này, từ đó đề xuất những khuyến nghị về mặt
chính sách đối với Đảng và Nhà nước nhằm phát triển nghề công tác xã hội chuyên
nghiệp tại Việt Nam. Trong đó có những nghiên cứu về vấn đề phát triển mạng lưới
CTXH, mô hình CTXH dựa vào cộng đồng tại Việt Nam và những bài học kinh
nghiệm từ thực tiễn phát triển CTXH của Liên Bang Nga và một số quốc gia khác.
Cuốn kỷ yếu Hội thảo Khoa học quốc tế “Thực tiễn và hội nhập trong phát
triển công tác xã hội ở Việt Nam” (2015) đã tổng hợp nhiều công trình nghiên cứu,
bài viết của các nhà khoa học về vấn đề phát triển nguồn nhân lực, hệ thống cung
cấp dịch vụ CTXH ở Việt Nam. Trong đó, bài viết “Thực trạng mạng lưới dịch vụ
xã hội ở Việt Nam – Những khuyến nghị và giải pháp”, tác giả Bùi Thị Xuân Mai
đã trình bày khái quát về cơ sở lý luận, nhu cầu và thực trạng mạng lưới cung cấp
dịch vụ xã hội ở nước ta đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm phát triển hệ thống
dịch vụ xã hội ở Việt Nam, trong đó đề cập đến giải pháp phát triển mô hình mạng
lưới của các cơ sở vừa tham gia quản lý nhà nước, vừa tham gia cung cấp dịch vụ/
trợ giúp xã hội tại xã, phường.
Trong những năm gần đây, các cơ quan quản lý nhà nước, Viện nghiên cứu,
các cơ sở đào tạo cũng như cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH đã tổ chức và phối hợp tổ
chức nhiều Hội thảo quốc gia, quốc tế về vấn đề phát triển nghề và mạng lưới cung
cấp dịch vụ CTXH tại Việt Nam. Trong bản tham luận trình bày tại Hội nghị “Sơ
kết 4 năm thực hiện Đề án phát triển nghề CTXH” tại Đà Nẵng, ông Nguyễn Trọng
Đàm - Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cho rằng mạng lưới các
4
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của dịch vụ công tác xã hội.
- Đánh giá thực trạng dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ
xã hội tỉnh Quảng Ninh.
- Ứng dụng lý thuyết dịch vụ công tác xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu của đối
tượng cung cấp dịch vụ công tác xã hội. Trong luận văn chỉ nghiên cứu đối tượng
cung cấp dịch vụ là người cao tuổi tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh.
- Đề xuất kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công tác
xã hội.
4. Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
4.1. Phạm vi
- Phạm vi thời gian: Từ 01/2016 đến 6/2016
- Phạm vi không gian: Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh- Giới hạn
nội dung nghiên cứu: Các dịch vụ công tác xã hội dành cho người cao tuổi và hoạt
động của hệ thống cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi tại
Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
- Dịch vụ công tác xã hội tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh.
( Gồm 7 dịch vụ chủ yếu).
5. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận:
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này tôi chủ yếu sử dụng các thuyết chính sau:
Thuyết về nhu cầu con người; Thuyết về quyền con người; Thuyết nhận thức
- hành vi; Lý thuyết công tác xã hội; Lý thuyết xã hội học; Lý thuyết tâm lý học.
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp phân tích tài liệu: Phân tích thông tin, số liệu từ các báo cáo, ấn
phẩm, tài liệu liên quan đến lĩnh vực dịch vụ công tác xã hội trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh.
6
7
và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội tại Trung tâm Bảo
trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh. Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
người làm công tác xã hội khi tiếp cận về vấn đề dịch vụ công tác xã hội. Tiếp tục
bổ sung hệ thống lý thuyết dịch vụ công tác xã hội, từ đó có những định hướng
thích hợp để nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội tại các Trung tâm Bảo trợ
xã hội.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu, các phụ lục luận văn còn có
3 chương, gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội
Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ
xã hội tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Định hướng và giải pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ công tác
xã hội từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh
8
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI
1.1. Khái niệm, chức năng, nhiệm vụ, vai trò, nguyên tắc của công tác xã
hội và dịch vụ công tác xã hội
1.1.1. Khái niệm, chức năng, nhiệm vụ của dịch vụ công tác xã hội
- Khái niệm dịch vụ
Nói tới dịch vụ, cung cấp dịch vụ tức là cần có hai yếu tố là những người có
nhu cầu sử dụng dịch vụ và những người cung cấp dịch vụ.
Trong cuộc sống ngày nay chúng ta biết đến rất nhiều hoạt động trao đổi
người. DVXH là hoạt động mang bản chất kinh tế, xã hội do Nhà nước, thị trường
hoặc xã hội dân sự cung ứng tùy theo tính chất thuần công, không thuần công hay
tư của từng lĩnh vực dịch vụ, bao gồm các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, khoa
học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao và các trợ giúp xã hội khác.
Dịch vụ công tác xã hội cho các nhóm đối tượng yếu thế chính là việc cung
cấp các hoạt động mang tính chất phòng ngừa- khắc phục rủi ro và hoà nhập cộng
đồng cho các nhóm đối tượng yếu thế dựa trên các nhu cầu cơ bản của họ nhằm bảo
đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội. [12]
Thuật ngữ dịch vụ công tác xã hội ở nước ta chưa được nói đến nhiều. Song
thuật ngữ này sẽ từng bước được làm quen và được mọi người chấp nhận vì hiện
nay nước ta có hàng chục triệu người đang cần loại hình dịch vụ này và không chỉ
có những đối tượng hiện tại mà còn hàng triệu đối tượng tiềm năng sẽ cần được
cung cấp dịch vụ công tác xã hội trong tương lai.
- Chức năng, nhiệm vụ của dịch vụ công tác xã hội
- Các chức năng cuả dịch vụ công tác xã hội
Như là bác sỹ xã hội, các nhân viên xã hội khi tiến hành các dịch cụ công tác
xã hội cần thực hiện được các chức năng: Phòng ngừa, chức năng Can thiệp, Chức
năng Phục hồi; Chức năng Phát triển.
- Chức năng phòng ngừa
12
Với quan điểm phòng bệnh hơn chữa bệnh, dịch vụ công tác xã hội không
chờ tới khi cá nhân hay gia đình rơi vào hoàn cảnh khó khăn rồi mới giúp đỡ. Dịch
vụ công tác xã hội rất quan tâm đến phòng ngừa những vấn đề xã hội của cá nhân,
gia đình hay cộng đồng.
- Chức năng can thiệp.
Chức năng can thiệp (còn được gọi là chức năng chữa trị hay trị liệu) nhằm
trợ giúp cá nhân, gia đình hay cộng đồng giải quyết vấn đề đang gặp phải. Khi thực
đóng vai trò tạo nhiều cơ hội cho nhóm người yếu thế được tiếp cận các dịch vụ xã
hội khác.
Thứ ba, dịch vụ công tác xã hội góp phần ổn định xã hội và tạo ra nhiều cơ hội
giáo dục, việc làm…cho các đối tượng yếu thế, góp phần giảm đi các vấn đề để lại
do nghiện ma tuý, bạo lực, giảm tỉ lệ nghèo đói, thất nghiệp, vô gia cư…gây ra.
Thứ tư, sự phát triển của dịch vụ công tác xã hội được cung cấp bởi hệ thống
các trung tâm công tác xã hội đã tạo ra một cơ hội nghề nghiệp lớn cho các nhân
viên công tác xã hội, người có chuyên môn nghề nghiệp được đào tạo lại tại các cơ
sở giáo dục.
Thứ năm, sự phát triển của dịch vụ công tác xã hội có thể làm cho các nhóm
đối tượng, các giai cấp, tầng lớp xã hội, các lĩnh vực dịch vụ xã hội khác gần nhau
hơn trong việc trợ giúp một trường hợp hay nhóm đối tượng yếu thế nào đó.
Thứ sáu, dịch vụ công tác xã hội góp phần gìn giữ và phát huy những bản sắc
tốt đẹp, đồng thời góp phần xoá đi những hủ tục lạc hậu, thói quen không lành
mạnh của cộng đồng, nâng cao hiểu biết cho người dân..thông qua các hoạt động
phát triển cộng đồng, truyền thông, nâng cao nhận thức cộng đồng. [12].
1.1.3. Nguyên tắc của dịch vụ công tác xã hội
Trên cơ sở nền tảng triết lý, giá trị và nguyên tắc nghề nghiệp của CTXH
người ta đưa ra hệ thống các qui tắc ứng xử cho NVCTXH trong quá trình thực hiện
14
nhiệm vụ và cung cấp các dịch vụ công tác xã hội. Những qui tắc ứng xử này đóng
vai trò như kim chỉ nam cho hành động tương tác của NVCTXH với thân chủ trong
quá trình trợ giúp. Sau đây là những nguyên tắc ứng xử của NVCTXH trong quá
trình tiến hành hoạt động trợ giúp và cung cấp các dịch vụ công tác xã hội:
Thứ nhất, chấp nhận thân chủ
Chấp nhận đòi hỏi việc tiếp nhận thân chủ, theo nghĩa bóng và nghĩa đen,
không tính toán, không thành kiến và không đưa ra phán quyết nào về hành vi của
giúp NVCTXH đưa ra phương pháp giúp đỡ thích hợp với từng trường hợp cụ thể.
Việc đảm bảo tính khác biệt trong trợ giúp thân chủ thể hiện ở việc tìm hiểu và phát
hiện những nét đặc thù của trường hợp đó, linh hoạt trong giải quyết vấn đề, không
áp dụng cách giải quyết giống nhau cho các trường hợp. Giải pháp cho mỗi trường
hợp cần được cân nhắc trên cơ sở nhu cầu, đặc điểm, khả năng và nguồn lực mà họ
có. Thực hiện nguyên tắc này trong hoạt động của mình sẽ cho phép NVCTXH đảm
bảo lợi ích thiết thực của các nhóm thân chủ, đáp ứng đúng nhu cầu của thân chủ và
rèn luyện khả năng ứng phó linh hoạt trong giải quyết vấn đề, khắc phục sự bảo thủ,
quan liêu, cứng nhắc trong quá trình trợ giúp.
Thứ năm, đảm bảo tính riêng tư, kín đáo các thông tin về trường hợp của
thân chủ.
Kín đáo hay giữ bí mật thông tin là một trong những nguyên tắc cơ bản
không chỉ ngành CTXH sử dụng mà nhiều ngành khác cũng áp dụng như: ngành
luật, tài chính, y tế… Nó thể hiện sự tôn trọng những vấn đề riêng tư của thân chủ
và không được chia sẻ những thông tin của thân chủ với người khác khi chưa có sự
đồng ý của thân chủ. Tuy nhiên trong một số trường hợp sẽ có ngoại lệ với nguyên
tắc này nếu như những hành vi của thân chủ đe doạ tính mạng của bản thân họ hay
của những người khác thì NVCTXH có quyền trao đổi thông tin với những người
có thẩm quyền. Việc đảm bảo bí mật thông tin của thân chủ sẽ giúp cho thân chủ tin
tưởng vào nhân viên xã hội, từ đó họ sẵn sàng chia sẻ và hợp tác. Bên cạnh đó việc
đảm bảo bí mật của thân chủ còn là yêu cầu mang tính nhân văn trong quan hệ con
người và quan hệ nghề nghiệp.
16
Thứ sáu, tự ý thức về bản thân.
Trong khi thực thi nhiệm vụ, với tư cách là người đại diện của cơ quan xã
hội NVCTXH cần ý thức rằng vai trò của mình là hỗ trợ thân chủ giải quyết vấn đề.
Phục vụ thân chủ là trách nhiệm của nhân viên xã hội, vì vậy cần tránh lạm dụng
nghèo khó. Người giàu khi rơi vào hoàn cảnh khủng hoảng tinh thần (như phá sản,
thua lỗ, sức ép công việc hay sự cạnh tranh trong kinh doanh...) đều có thể cần tới
sự can thiệp trợ giúp của nhân viên xã hội. Tuy nhiên, đối tượng thường được
hướng tới trong hoạt động trợ giúp của CTXH là những nhóm người yếu thế như
người nghèo, người lang thang cơ nhỡ, những người bị HIV/AIDS hay những người
mại dâm ma tuý...
Có thể liệt kê một số nhóm đối tượng yếu thế thường được công tác xã hội
chú trọng trợ giúp: Phụ nữ, Trẻ em, người cao tuổi, người thất nghiệp, các nạn nhân
của bạo lực gia đình; Trẻ em lang thang, bị bỏ rơi, mồ côi, trẻ bị lạm dụng; Các nạn
nhân do thiên tai, hiểm hoạ; Những người có ý định tự sát; Những người vô gia cư;
Những người khuyết tật; Người bị bệnh tâm thần; Những người phạm pháp; Người
nghèo; Người thiểu số; Những người nghiện; Người mại dâm.
Cộng đồng nghèo khó thường là đối tượng tác động đầu tiên trong công tác
xã hội với cộng đồng. Những cộng đồng có nhiều vấn đề xã hội như nghèo đói,
trình độ dân trí thấp, môi trường vệ sinh không đảm bảo… thường cần tới các
chương trình dịch vụ xã hội trong công tác xã hội [20, tr. 9].
1.2.2. Đặc điểm, nhu cầu của các đối tượng cung cấp dịch vụ công tác xã hội
Đối tượng cung cấp dịch vụ công tác xã hội rất đa dạng và phong phú, đề tài
này tập trung về nhu cầu của các đối tượng trong nhóm yếu thế (hay còn gọi là
những cá nhân có nhu cầu đặc biệt) trong đó phân tích kỹ về nhu cầu của người cao
tuổi- đối tượng được cung cấp dịch vụ được đề cập trong chương II của Đề tài.
Nhóm yếu thế (hay nhóm thiệt thòi) là những nhóm xã hội đặc biệt, có hoàn cảnh
khó khăn hơn, có vị thế xã hội thấp kém hơn so với với các nhóm xã hội “bình
thường” có những đặc điểm tương tự. Họ gặp phải hàng loạt thách thức, ngăn cản
khả năng hòa nhập của họ vào đời sống cộng đồng. Hàng rào đó có thể liên quan
18
đến thể chất, liên quan đến khả năng, nghề nghiệp, hoàn cảnh sống, sự đánh gía, kỳ