Dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh quảng ninh - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ NGOAN

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TỪ THỰC TIỄN
TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NINH

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số
: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHẠM HỮU NGHỊ

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu ghi
trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn

PHẠM THỊ NGOAN



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................69


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTXH

Công tác xã hội

DVXH

Dịch vụ xã hội

DVCTXH

Dịch vụ công tác xã hội

NCT

Người cao tuổi

TP

Thành phố

NVCTXH

Nhân viên công tác xã hội


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

được đào tạo một cách chính quy, có bài bản. Các nước phát triển trên thế giới xem
dịch vụ công tác xã hội như một phần quan trọng của sự phát triển cộng đồng, phát
triển xã hội và các nhân viên xã hội là người thực hiện trực tiếp. Dịch vụ công tác xã
hội phát triển mạnh sẽ góp phần phát triển và cải thiện hệ thống an sinh xã hội, trợ
giúp con người và cộng đồng giải quyết và đối phó với khó khăn trong cuộc sống.
Theo ước tính của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, hiện Việt Nam có
khoảng 28% dân số có nhu cầu sử dụng các dịch vụ công tác xã hội, trong đó bao
gồm khoảng 9,4 triệu người cao tuổi, 7,2 triệu người khuyết tật, 1,5 triệu trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt, khoảng 1,5 triệu lượt hộ gia đình cần được trợ giúp đột xuất
hằng năm, 5,97% hộ nghèo; khoảng 30.000 nạn nhân bị bạo lực, bạo hành trong gia
đình; 234.000 người nhiễm HIV được phát hiện; 204.000 người nghiện ma tuý; hơn
48.000 người bán dâm; khoảng 14,8% dân số có vấn đề về rối nhiễu tâm thần cũng
đang cần sự trợ giúp chuyên nghiệp.( Cục Bảo trợ xã hội, 2015a). Đây được coi là
nhu cầu cấp bách cần phát triển các dịch vụ công tác xã hội, một nghề mới đang
phát triển ở Việt Nam. Tuy nhiên câu hỏi đặt ra và cũng là thách thức cho Việt Nam
là làm thế nào để có thể phát triển các dịch vụ này theo hướng chuyên nghiệp đảm
bảo đáp ứng tốt nhất nhu cầu của đối tượng.

1


Công tác xã hội là một nghề mới ở Việt Nam, được ra đời căn cứ theo Quyết
định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề
án phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 (sau đây gọi tắt là Đề án
32). Sau khi Đề án 32 được phê duyệt, các hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã
hội đã được các cơ quan và các tổ chức xã hội quan tâm thực hiện dưới nhiều hình
thức khác nhau góp một phần hỗ trợ các đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương giải
quyết khó khăn và hòa nhập với cuộc sống của cộng đồng.
Quảng Ninh là một trong những tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế cao, 58%
dân số sống ở thành thị, cao thứ 3 toàn quốc nên cũng có nhiều vấn đề xã hội phức

đó có Việt Nam. Nhận thức được tầm ảnh hưởng sâu sắc của vấn đề dịch vụ công
tác xã hội tới sự ổn định và phát triển xã hội, các nhà khoa học, các tổ chức nghiên
cứu ở Việt Nam và trên thế giới đã có nhiều cuộc khảo sát, đánh giá, đề tài nghiên
cứu liên quan đến vấn đề này.
Ths. Đặng Kim Chung và nhóm nghiên cứu năm 2011 với đề tài: “Đánh giá
nhu cầu về dịch vụ công tác xã hội và xây dựng công tác xã hội và xây dựng kế
hoạch thiết lập mô hình và hệ thống cung cấp dịch vụ từ trung ương đến cộng
đồng”. Nghiên cứu đã đánh giá nhu cầu dịch vụ công tác xã hội tại cộng đồng và
trong trung tâm, nghiên cứu việc phát triển những dịch vụ công tác xã hội trong
phạm vi tài nguyên có thể huy động, đề xuất kế hoạch xây dựng và vận hành mô
hình và hệ thống cung cấp dịch vụ công tác xã hội từ trung ương đến cộng đồng. Đề
tài đã phân tích và đánh giá nhu cầu của các đối tượng dựa trên hai khái cạnh: cung
và cầu dịch vụ cho từng nhóm đối tượng cụ thể: người cao tuổi, người khuyết tật,
trẻ em, người trưởng thành… Nhu cầu với dịch vụ công tác xã hội của các nhóm đối
tượng rất lớn nhưng vẫn còn đang tiềm ẩn trong xã hội. Hệ thống cơ sở cung cấp
dịch vụ còn manh mún và chất lượng còn kém. Nhận thức và hiểu biết của công
chúng và các nhà hoạch định chính sách về nghề công tác xã hội còn chưa sâu. Cán
bộ làm công tác xã hội còn thiếu và chưa được đào tạo chính quy, tổ chức cung cấp
dịch vụ công tác xã hội ở cộng đồng gần như chưa có. Đề tài đưa ra các giải pháp để
tuyên truyền, phổ biến chính sách, chế độ trợ cấp, các dịch vụ xã hội. Nâng cao
năng lực xây dựng và thực hiện của các trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội
đặc biệt là các cán bộ thực hiện ở cấp cơ sở. Giải pháp tuyên truyền vận động các tổ
chức, đoàn thể để có sự hiểu biết về các dịch vụ của công tác xã hội.

3


Cuốn sách “Đổi mới công tác xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và hội
nhập quốc tế - Lý luận và thực tiễn” do tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (2013) làm chủ
biên đã tập trung đánh giá thực trạng công tác xã hội ở Việt Nam trong điều kiện

nhân viên CTXH, cộng tác viên cung cấp dịch vụ CTXH tại cộng đồng gắn với đào
tạo, đào tạo lại, nâng cao trình độ, kỹ năng của đội ngũ cộng tác viên công tác xã
hội tại xã, phường là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đề án trong giai
đoạn tới.
Ngoài ra còn rất nhiều bài viết, đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học, nghiên
cứu sinh, học viên cao học về công tác xã hội đối với các đối tượng người cao tuổi,
người khuyết tật, nghiện ma túy, bạo lực...Các nghiên cứu này là những tài liệu
tham khảo quý giá, hỗ trợ hữu ích cho hệ thống lý thuyết của đề tài. Tuy nhiên, các
nghiên cứu về công tác xã hội ở Việt Nam thường chỉ nhấn mạnh đến việc xây
dựng, phát triển hệ thống cung cung cấp dịch vụ công tác xã hội chuyên nghiệp.
Đề tài “ Dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh
Quảng Ninh” đề cập cụ thể việc cung cấp các dịch vụ công tác xã hội tại một cơ sở
bảo trợ xã hội. Bên cạnh hướng đến việc trợ giúp các đối tượng yếu thế tại cộng
đồng, thực hiện nhiệm vụ này còn góp phần vào việc quảng bá hình ảnh, thay đổi
nhận thức của cộng đồng về nghề công tác xã hội, và tạo tiền đề cho việc cơ cấu lại
tổ chức và nhiệm vụ của các cơ sở bảo trợ xã hội trên cả nước. Đây chính là cơ sở
của một trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội chuyên nghiệp trong tương lai,
góp phần thúc đẩy các dịch vụ công tác xã hội phát triển tương xứng với sự phát
triển và nhu cầu của xã hội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn (thông
qua nghiên cứu thực tiễn tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh) về dịch vụ
công tác xã hội, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội.
Để đạt mục đích nói trên, các nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra là:
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của dịch vụ công tác xã hội.
- Đánh giá thực trạng dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ
xã hội tỉnh Quảng Ninh.

5



6


pháp phỏng vấn sâu là phương pháp thu thập thông tin cụ thể của xã hội học thông
qua việc tác động vào tâm lý xã hội trực tiếp giữa người đi hỏi và người được hỏi
nhằm thu thập được những thông tin phù hợp với mục đích và đề tài nghiên cứu. Đề
tài phỏng vấn những người cao tuổi được hưởng các dịch vụ công tác xã hội tại
trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh. Số lượng là 30 người.
Phương pháp quan sát: Là thu thập thông tin thực nghiệm thông qua nghe,
nhìn để thu thập thông tin về các dịch vụ công tác xã hội và các hoạt động can thiệp,
trợ giúp của nhân viên công tác xã hội trong cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại
Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh. Đối với đề tài này tôi quan sát qua các
hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi tại Trung tâm
trong vòng 3 tháng.
Bên cạnh đó, đề tài nghiên cứu còn sử dụng các phương pháp như: thống kê,
lịch sử, xã hội học, tâm lý học.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn xác định khung lý thuyết dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn Trung
tâm Bảo trợ xã hội như: Các khái niệm, nguyên tắc, đặc điểm cơ bản của dịch vụ
công tác xã hội, các khái niệm, đặc điểm, vấn đề của các đối tượng được cung cấp các
dịch vụ công tác xã hội, các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề này. Luận văn bổ sung một
số vấn đề lý luận cơ bản về dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn một trung tâm.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đã phân tích được thực trạng dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn
Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh. Nghiên cứu đã đưa ra một số kiến nghị
và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội tại Trung tâm Bảo
trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh. Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
người làm công tác xã hội khi tiếp cận về vấn đề dịch vụ công tác xã hội. Tiếp tục

khái niệm, định nghĩa về dịch vụ nhưng để có hình dung về dịch vụ trong luận văn
này, tôi tham khảo một số khái niệm cơ bản.
Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như
hàng hoá nhưng phi vật chất [Từ điển Wikipedia]. Theo quan điểm kinh tế học, bản
chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang,
chăm sóc sức khoẻ…và mang lại lợi nhuận.
Philip Kotler định nghĩa dịch vụ: Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung
ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở
hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền với sản phẩm vật chất.
Tóm lại, có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu dưới những góc độ
khác nhau nhưng tựu chung thì: Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng
nhu cầu nào đó của con người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản
phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định
của xã hội.
- Khái niệm công tác xã hội
Trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về công tác xã hội. Dưới đây là
một số khái niệm về CTXH và nghề CTXH được đông đảo các nhà nghiên cứu và
những người thực hành CTXH trên thế giới tham khảo, sử dụng:
9


Theo định nghĩa của Hiệp hội quốc gia các nhân viên CTXH Mỹ (NASW 1970): "Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng
đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo
những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó”.
Luật an sinh-xã hội Phillipines giải thích: Công tác xã hội là một nghề bao
gồm các hoạt động cung cấp các dịch vụ nhằm thúc đẩy hay điều phối các mối quan
hệ xã hội, điều chỉnh sự hoà hợp giữa cá nhân và môi trường để có xã hội tốt đẹp.
Tháng 7 năm 2000 tại Montréal, Canada, Hiệp hội Nhân viên Công tác xã
hội Quốc tế (IFSW, 2000) đã thông khái niệm nghề CTXH. "Nghề CTXH thúc đẩy
biến đổi xã hội, giải quyết vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ giữa con người với

trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình,
cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề về xã hội góp phần đảm bảo an
sinh xã hội.” [20, tr. 4].
Như vậy, có thể hiểu công tác xã hội là một nghề chuyên nghiệp, áp dụng
những nguyên tắc, kỹ năng để trợ giúp có hiệu quả cho cá nhân, gia đình và cộng
đồng giải quyết vấn đề góp phần xây dựng xã hội công bằng, hạnh phúc.
- Khái niệm dịch vụ công tác xã hội
Có thể hiểu dịch vụ công tác xã hội như là dịch vụ xã hội
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), dịch vụ xã hội (DVXH) là các hoạt
động cung cấp dịch vụ, đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân, nhóm người nhất định
nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội [1]. Ngoài ra còn có một số cách hiểu
khác về dịch vụ xã hội nhìn từ vai trò của người cung cấp dịch vụ và người tiếp nhận
dịch vụ. Theo cách nhìn này, dịch vụ xã hội là các hoạt động có chủ đích của con
người nhằm phòng ngừa hạn chế và khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu
cơ bản và thúc đẩy khả năng hoà nhập cộng đồng, xã hội cho nhóm đối tượng yếu
thế. Dịch vụ xã hội là các sáng kiến can thiệp nhằm vào các nhu cầu và các vấn đề
của các nhóm người dễ bị tổn thương, bao gồm cả việc phòng ngừa bạo lực, tan vỡ
gia đình, xóa đói giảm nghèo và hỗ trợ người khuyết tật, trẻ em và người già.
Tác giả Trần Hậu, Đoàn Minh Tuấn (2012) cho rằng dịch vụ xã hội là những
dịch vụ đáp ứng nhu cầu cộng đồng và cá nhân nhằm phát triển xã hội, có vai trò
đảm bảo hạnh phúc, phúc lợi và công bằng xã hội, đề cao tính nhân văn và vì con

11


người. DVXH là hoạt động mang bản chất kinh tế, xã hội do Nhà nước, thị trường
hoặc xã hội dân sự cung ứng tùy theo tính chất thuần công, không thuần công hay tư
của từng lĩnh vực dịch vụ, bao gồm các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, khoa
học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao và các trợ giúp xã hội khác.
Dịch vụ công tác xã hội cho các nhóm đối tượng yếu thế chính là việc cung

giúp đối tượng trở lại mức ban đầu và hoà nhập cuộc sống xã hội.
- Chức năng phát triển: Chức năng phát triển của dịch vụ công tác xã hội thể
hiện qua các hoạt động nhằm tăng năng lực, tăng khả năng ứng phó với các tình
huống có vấn đề, những sự việc có nguy cơ cao. [20, tr. 5].
- Các nhiệm vụ cơ bản của dịch vụ CTXH:
+ Nâng cao năng lực, thúc đẩy khả năng tự giải quyết vấn đề của cá nhân,
gia đình và cộng đồng.
+ Nối kết con người với hệ thống nguồn lực, dịch vụ và những cơ hội trong
xã hội.
+ Thúc đẩy sự hoạt động có hiệu quả và tính nhân văn của các hệ thống
cung cấp nguồn lực và dịch vụ xã hội.
+ Phát triển và cải thiện chính sách xã hội [20, tr. 5].
1.1.2. Vai trò của dịch vụ công tác xã hội
Thứ nhất, với tính chất là phục vụ con người thì dịch vụ công tác xã hội đã
góp phần vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người, đặc biệt là nhóm
người yếu thế, giúp họ thay đổi cuộc sống, vượt qua khó khăn về thể chất, tinh thần
và xã hội để hoà nhập cuộc sống.
Thứ hai, dịch vụ công tác xã hội góp phần thực hiện, triển khai các chính sách
xã hội về trợ giúp xã hội, chính sách công tác xã hội, đảm bảo công bằng và tiến bộ
xã hội như bình đẳng giới, chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em, người
nghèo.. Việc thúc đẩy các dịch vụ công và tư nhân trong lĩnh vực công tác xã hội
đóng vai trò tạo nhiều cơ hội cho nhóm người yếu thế được tiếp cận các dịch vụ xã
hội khác.
Thứ ba, dịch vụ công tác xã hội góp phần ổn định xã hội và tạo ra nhiều cơ hội
giáo dục, việc làm…cho các đối tượng yếu thế, góp phần giảm đi các vấn đề để lại
do nghiện ma tuý, bạo lực, giảm tỉ lệ nghèo đói, thất nghiệp, vô gia cư…gây ra.

13



14


Thứ hai, tạo điều kiện để thân chủ tham gia giải quyết vấn đề.
Nguyên tắc để thân chủ tham gia giải quyết vấn đề là một trong những
nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của NVCTXH. Vấn đề là của thân chủ, họ hiểu
hoàn cảnh và khả năng của mình hơn ai hết nếu được sự trợ giúp. Vì vậy, họ cần là
người tham gia chủ yếu từ khâu đánh giá vấn đề tới ra quyết định, lựa chọn giải
pháp, thực hiện giải pháp cũng như lượng giá kết quả của giải pháp đó. Người
NVCTXH chỉ đóng vai trò xúc tác, vai trò định hướng trong quá trình trợ giúp thân
chủ thực hiện giải pháp cho vấn đề của họ mà không làm thay, làm hộ chủ yếu
khích lệ họ có niềm tin để tự giải quyết vấn đề.
Thứ ba, tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ.
Mỗi cá nhân có quyền quyết định về các vấn đề thuộc về cuộc đời, những
quyết định của người khác hướng dẫn họ nhưng không nên áp đặt trên họ. Nguyên
tắc tự quyết định, giống như sự tự do, cũng có những giới hạn của nó, nó không
mang nghĩa tuyệt đối. Thực hiện nguyên tắc này cũng là cách mà NVCTXH giúp
cho thân chủ trở nên tự tin, nâng cao khả năng đưa ra quyết định đúng đắn trong
cuộc sống.
Thứ tư, đảm bảo tính cá nhân hóa.
Việc cá biệt hoá trường hợp của thân chủ (cá nhân, gia đình hay cộng đồng)
giúp NVCTXH đưa ra phương pháp giúp đỡ thích hợp với từng trường hợp cụ thể.
Việc đảm bảo tính khác biệt trong trợ giúp thân chủ thể hiện ở việc tìm hiểu và phát
hiện những nét đặc thù của trường hợp đó, linh hoạt trong giải quyết vấn đề, không
áp dụng cách giải quyết giống nhau cho các trường hợp. Giải pháp cho mỗi trường
hợp cần được cân nhắc trên cơ sở nhu cầu, đặc điểm, khả năng và nguồn lực mà họ
có. Thực hiện nguyên tắc này trong hoạt động của mình sẽ cho phép NVCTXH đảm
bảo lợi ích thiết thực của các nhóm thân chủ, đáp ứng đúng nhu cầu của thân chủ và
rèn luyện khả năng ứng phó linh hoạt trong giải quyết vấn đề, khắc phục sự bảo thủ,
quan liêu, cứng nhắc trong quá trình trợ giúp.

Thứ bảy, đảm bảo mối quan hệ nghề nghiệp
Công cụ chính trong các hoạt động công tác xã hội là mối quan hệ giữa
NVCTXH và thân chủ. Do thân chủ tác động của NVCTXH là con người,
NVCTXH cần có phẩm chất đạo đức, tác phong nghề nghiệp. Mối quan hệ giữa
NVCTXH và thân chủ cần đảm bảo tính thân thiện, tương tác hai chiều, song khách

16


quan và đảm bảo yêu cầu của chuyên môn. Nguyên tắc này giúp cho NVCTXH
đảm bảo tính khách quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đảm bảo sự công bằng
trong giúp đỡ mọi thân chủ.
1.2. Đối tƣợng, nhu cầu của các đối tƣợng cung cấp dịch vụ công tác xã hội
1.2.1. Đối tượng cung cấp dịch vụ công tác xã hội
Công tác xã hội hướng đến các đối tượng đa dạng về lứa tuổi, dân tộc, trình
độ học vấn, mức sống, tôn giáo, cũng như có những năng lực cá nhân và XH khác
nhau. Đối tượng trợ giúp của công tác xã hội là cá nhân, gia đình, nhóm người hay
cộng đồng đang trong hoàn cảnh có vấn đề.
Cá nhân có thể là người già hay người trẻ, người giàu hay người nghèo... Khi
họ gặp phải khó khăn trong cuộc sống và không tự giải quyết được họ mong muốn
có sự trợ giúp. Người nghèo cần có sự trợ giúp về vật chất và tinh thần để vượt qua
nghèo khó. Người giàu khi rơi vào hoàn cảnh khủng hoảng tinh thần (như phá sản,
thua lỗ, sức ép công việc hay sự cạnh tranh trong kinh doanh...) đều có thể cần tới
sự can thiệp trợ giúp của nhân viên xã hội. Tuy nhiên, đối tượng thường được
hướng tới trong hoạt động trợ giúp của CTXH là những nhóm người yếu thế như
người nghèo, người lang thang cơ nhỡ, những người bị HIV/AIDS hay những người
mại dâm ma tuý...
Có thể liệt kê một số nhóm đối tượng yếu thế thường được công tác xã hội
chú trọng trợ giúp: Phụ nữ, Trẻ em, người cao tuổi, người thất nghiệp, các nạn nhân
của bạo lực gia đình; Trẻ em lang thang, bị bỏ rơi, mồ côi, trẻ bị lạm dụng; Các nạn

đổi về tuổi tác. Nhận thức của NCT có suy giảm ví dụ như trí nhớ thay đổi rõ rệt, trí
nhớ ngắn hạn giảm sút, trí nhớ dài hạn vẫn ở mức cao, họ sống nặng về nội tâm; tư
duy kém năng động và linh hoạt; NCT thường khó chấp nhận cái mới và không
thích phải thay đổi thói quen.
Bên cạnh đó NCT cũng có giảm sút về chức năng hoạt động của một số cơ quan
trong cơ thể dẫn đến mắc một số bệnh về hô hấp, tim mạch. Việc thay đổi hình dáng bên
ngoài cũng là một đặc điểm thay đổi về sinh học có thể gây ra những khó khăn cho NCT.
Tiếp theo là những thay đổi về đặc điểm tâm lý. Về tình cảm, NCT có phản
ứng cảm xúc nhạy bén, vui buồn dễ dàng. NCT cũng thường có tâm lý tiêu cực như
tự ti, có cảm giác mất mát, cô độc và suy giảm khả năng giao tiếp.

18


Xét về nhu cầu của NCT, NCT cần được quan tâm, chăm sóc, yêu mến; nhu
cầu chăm sóc sức khỏe; nhu cầu thấy mình có ích cho xã hội; nhu cầu được học hỏi
thêm và vui hưởng tuổi thọ quây quần bên con cháu.
NCT thường phải đối phó với sự giảm sút về sức mạnh trên nhiều cấp độ:
 Sức khỏe thể chất có xu hướng giảm khi có tuổi, vì vậy người cao
tuổi phải phụ thuộc vào sự hỗ trợ để tồn tại.
 NCT thường duy trì sức khỏe tâm thần, tuy nhiều nhiều người trong số họ
trải qua mất trí nhớ tạm thời trong ngắn hạn, giảm tốc độ trong học tập, phản ứng
chậm chạp, và sự đãng trí ở mức độ nhẹ.”
 Mất các hệ thống hỗ trợ ví dụ như sức khỏe của các bạn của họ bị suy giảm.
 Việc nghỉ hưu cũng có thể khiến NCT tập thích ứng, đòi hỏi họ phải tìm ra
cách khác để giết thời gian rảnh rỗi, cảm giác vô dụng khi không còn đi làm nữa.
 Phân biệt đối xử về mặt tuổi tác thể hiện ở các khuôn mẫu gây phương
hại, chẳng hạn như nhấn mạnh vào điểm yếu về thể chất, tâm thần và kinh tế.
Nói tóm lại, một số đặc điểm xã hội đặc thù của NCT:
Thứ nhất, NCT là người đã kết thúc giai đoạn lao động chính thức. Nhiều

1.3. Vai trò, yêu cầu về đạo đức, kiến thức, kỹ năng đối với nhân viên
công tác xã hội trong cung cấp dịch vụ công tác xã hội
1.3.1. Vai trò đối với nhân viên công tác xã hội trong cung cấp dịch vụ
công tác xã hội
Khi nhân viên xã hội ở những vị trí khác nhau thì vai trò và các hoạt động của
họ cũng rất khác nhau, tùy theo chức năng và nhóm đối tượng họ làm việc. Theo
quan điểm của Feyerico (1973) người nhân viên xã hội có những vai trò sau đây:
Vai trò là người vận động nguồn lực:
Vai trò là người kết nối các dịch vụ, chính sách và giới thiệu cho đối tượng
các chính sách, dịch vụ, nguồn tài nguyên đang sẵn có
Vai trò là người biện hộ: là người bảo vệ quyền lợi cho đối tượng để họ được
hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ đặc biệt trong những trường hợp
họ bị từ chối.
Vai trò là người vận động/hoạt động xã hội: là nhà vận động xã hội tổ
chức các hoạt động xã hội để biện hộ, bảo vệ quyền lợi cho đối tượng, cổ vũ
tuyên truyền.

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status