Hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với NKT từ thực tiễn trung tâm dạy nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm cho người khuyết tật hà tĩnh, tỉnh hà tĩnh - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

THÁI NGỌC LÂM

HỖ TRỢ DẠY NGHỀ VÀ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƢỜI
KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM DẠY NGHỀ,
GIỚI THIỆU VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI
KHUYẾT TẬT HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS: VÕ KHÁNH VINH

HÀ NỘI, 2016


Lời cam đoan
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Những kết quả và số liệu
trong khóa luận chưa được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào và được thực hiện
dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Võ Khánh Vinh.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Học viện về sự cam đoan này.

Hà Nội, ngày.…..tháng 8 năm 2016
Tác giả


VÀ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƢỜI KHUYẾT TẬT TẠI TỈNH HÀ TĨNH ................... 60

3.1. Định hướng hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật tại tỉnh Hà
Tĩnh............................................................................................................................... 60
3.2. Các giải pháp tăng cường hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật
tại tỉnh Hà Tĩnh............................................................................................................. 60
KẾT LUẬN ......................................................................................................................... 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO… ....................................................................... 70
PHỤ LỤC ............................................................................................................................. 73


DANH MỤC VIẾT TẮT
WHO

Tổ chức y tế Thế giới

LHQ

Liên Hiệp quốc

ILO

Tổ chức Lao động quốc tế

CTXH

Công tác xã hội

NKT


37

Bảng 2.2. Thời gian đào tạo và cấp chứng chỉ cho NKT học nghề…

41

Bảng 2.3. Các giải pháp được khảo sát của đội ngũ giáo viên
2015……………………………………………..………………….
Bảng 2.4. Đánh giá khả năng tiếp thu của NKT học nghề………....

56
57

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Số lượng NKT các lớp học nghề năm 2014 - 2015

35

Biểu đồ 2.2. Số lượng NKT học nghề mù chữ năm 2014 - 2015

35

Biểu đồ 2.3. Số lượng NKT tìm được việc làm năm 2014 - 2015

36

DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1. Lớp học nghề Tin học văn phòng tại Trung tâm…….

46

và dự báo, số lượng người khuyết tật(NKT) trong những năm tới sẽ tiếp tục
tăng do già hóa dân số, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và tai nạn lao
động, tai nạn giao thông,…
Theo thống kê thì số lượng người khuyết tật(NKT) chưa được học nghề
chiếm hơn 90%, có khoảng 58% tham gia làm việc, có hơn 30% đang thất
nghiệp và những NKT đã có việc làm nhưng chủ yếu là những công việc đơn
giản bằng chân tay, có thu nhập thấp và có khoảng 70 - 80% NKT sống ở
vùng nông thôn với những điều kiện kinh tế khó khăn, cơ sở hạ tầng thấp
kém, gặp nhiều khó khăn trong việc hòa nhập với cộng đồng. trong khi đó thì
phần lớn NKT không thể sống độc lập, có khoảng 70% phải sống dựa vào gia
đình, người thân và từ trợ cấp xã hội, có trên 25% NKT tham gia làm việc
bằng các nghề thủ công truyền thống đơn giản.
Chúng ta đều biết bản thân NKT cũng như gia đình họ có hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn, số NKT sử dụng các phương tiện phục vụ cá nhân để đi lại,
sinh hoạt, hoạt động,…ví dụ, như đường tiếp cận cho xe lăn lên xuống nhà
cao tầng là rất thấp, chỉ chiếm khoảng 2%. Bên cạnh đó phương tiện xe lăn,
xe lắc đi lại cho họ được các doanh nghiệp, tổ chức Hội, các nhà hảo tâm
trong nước và quốc tế cấp chỉ được 50%. Mặc dù bị khiếm khuyết những
NKT vẫn có ước muốn, hoài bảo, cố gắng vươn lên để học tập, làm việc để tự
nuôi sống bản thân hòa nhập với cộng đồng, hiện nay có đến 58% NKT đến
độ tuổi lao động tham gia làm việc, trong đó, có đến 30% NKT chưa có việc
làm và mong muốn tìm được việc làm và các khoản thu nhập của họ chỉ
chiếm có 40% trong tổng thu nhập và còn lại từ trợ cấp của Nhà nước, gia
đình và xã hội, chiếm đến 60%. Trên cơ sở số liệu thống kê này, cho chúng ta

1


thấy nhu cầu học nghề và việc làm của NKT là rất lớn vì nó sẽ tạo điều kiện,
giúp đỡ NKT có cơ hội việc làm bền vững, tham gia lao động tạo ra thu nhập,

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu ở trên thế giới
Theo số liệu thống kê của Tổ chức y tế Thế giới(WHO) thì hiện nay trên
thế giới có gần 1 tỷ NKT, chiếm từ 15% - 20% dân số thế giới. Số NKT nặng
chiếm hơn 345 triệu người, ở các nước phát triển có hơn 100 triệu người, ở
các nước đang phát triển có hơn 235 triệu NKT. Thống kê năm 2011 có
khoảng hơn 1 tỷ người trên thế giới có dấu hiệu khuyết tật, chiếm 15% dân
số; có khoảng từ 110 đến 190 triệu NKT có khó khăn về thực hiện chức năng;
tỷ lệ NKT có xu hướng gia tăng; ở các nước chậm phát triển có tỷ lệ khuyết
tật cao hơn các nước phát triển; khuyết tật phổ biến hơn ở trẻ em, nữ giới,
người già, người nghèo, người neo đơn...
Theo kết quả báo cáo thế giới về tình trạng khuyết tật hơn 40 năm qua và
một cái nhìn tổng quát về thực trạng khuyết tật, thì các chuyên gia nghiên cứu
mới chỉ ra rằng gần 1/5 tổng dân số ước tính trên toàn cầu sống chung với
khuyết tật, và có khoảng từ 110 đến 200 triệu NKT phải đối mặt với những
khó khăn thường xuyên như nạn đói, không có nhà ở, không được học tập,
không được chăm sóc, khám chữa bệnh, bị bóc lột sức lao động,...nhưng thực
tế cho thấy rằng những NKT đang gặp khó khăn có thể cao hơn rất nhiều. Số
lượng NKT được cung cấp dịch vụ y tế với những kỹ năng không đáp ứng
được nhu cầu của họ, cũng như dễ bị từ chối chăm sóc y tế cần thiết nhiều gấp
3 lần so với người bình thường.
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế(ILO) đã nêu: Người khuyết tật có
quyền hưởng những chương trình giáo dục - đào tạo, phục hồi chức năng,
nghề nghiệp, trợ giúp, tư vấn những dịch vụ về sắp xếp việc làm và các dịch
vụ khác để làm cho phát triển tối đa các khả năng, kỷ năng và thúc đẩy những
quá trình hòa nhập hay tái hòa nhập xã hội của họ[28].

3



4


hiện đề án trợ giúp NKT giai đoạn 2012-2020, dự kiến có khoảng 300.000
NKT được hỗ trợ học nghề miễn phí và kinh phí do Ngân sách Nhà nước cấp.
Trong những năm qua, một số địa phương đã tích cực tổ chức dạy nghề,
tư vấn và tạo việc làm cho NKT, xây dựng mô hình việc làm của NKT có
hiệu quả, hỗ trợ bằng phương pháp thông qua các chương trình, các hoạt động
như hỗ trợ mua con giống, chăn nuôi, trồng trọt, phát triển nhóm, mô hình sản
xuất quy mô vừa, nhỏ, nghề thủ công,...Có thể nói, trong 5 năm triển khai
Luật NKT, việc thực hiện chính sách pháp luật về NKT đã tạo ra những
chuyển biến tích cực, rõ nét đối với cuộc sống của NKT. Cùng với đó, sự thay
đổi về nhận thức xã hội đã giúp cho NKT ngày càng tự tin hơn, hòa nhập với
đời sống xã hội.
Hiện nay theo số liệu điều tra đến nay ở Hà Tĩnh, số NKT trên địa bàn
toàn tỉnh là 69.466 người, chiếm khoảng 5,2 dân số. Như vậy so với cả nước
thì Hà Tĩnh là tỉnh có tỷ lệ người khuyết tật tương đối cao[30].
Tuy Hà Tĩnh là một tỉnh nghèo, các nguồn thu không đủ chi và chi ngân
sách hàng năm chủ yếu do TW hỗ trợ, nhưng với sự quan của Tỉnh về triển
khai thực hiện các chính sách an sinh xã hội nói chung và NKT nói riêng rất
đúng đắn, đảm bảo và kịp thời. Hàng năm Tỉnh đã trích kinh phí phục vụ các
chương trình như làm nhà cho NKT, hỗ trợ dạy nghề, cho vay vốn ưu đãi, xây
dựng các công trình công cộng,...nhằm giúp đỡ NKT khắc phục những khó
khăn vươn lên trong cuộc sống.
Chúng ta hãy quan niệm và khẳng định rằng "Nếu chúng ta cho người ta
một con cá, có thể người ta sống được một ngày. Nếu chúng ta dạy cho họ
nghề cầu cá thì người ta có thể sống cả đời người".
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng về kết quả đạt được, hạn chế, khó khăn và các

khoa học. Phải nói rằng con người là một thể thống nhất giữa các yếu tố sinh
vật và xã hội, đồng thời bản chất con người không phải là một cái trừu tượng
cố hữu của cá nhân riêng biệt, do vậy bản chất của con người là tổng hòa của
các mối quan hệ xã hội và bản chất của con người theo quan điểm của Mácxit
được hình thành và thể hiện ở những con người hiện thực.
Việt Nam là nước đang phát triển và để phát triển kinh tế, xã hội, xây
dựng con người văn hóa, văn minh thì luôn phải quan tâm đến vấn đề an sinh

6


xã hội để nhằm ổn định xã hội, vì thế trong những năm qua Đảng và Nhà
nước ta luôn quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần cho những
người nghèo, đối tượng chính sách, người có công với cách mạng, người có
hoàn cảnh khó khăn,… và NKT nói riêng, đây là truyền thống tốt đẹp, mang
tính nhân văn sâu sắc của người dân Việt Nam "lá lành đùm lá rách", truyền
thống do ông, cha ta để lại từ ngàn đời.
Tất cả những chính sách của Nhà nước ta đã đề cập đến những vấn đề ưu
tiên, trợ giúp, ưu đãi, khuyến khích đó như hỗ trợ kinh phí học nghề, đi lại, hỗ
trợ thuê đất, hỗ trợ miễn, giảm thuế, hỗ trợ vay vốn quỹ quốc gia giải quyết
việc làm,…hỗ trợ những nhu cầu thiết yếu nhất cho NKT nhằm mục tiêu nâng
cao năng lực hỗ trợ dạy nghề và việc làm cho NKT.
Như vậy, qua các thời kỳ phát triển đất nước đều có các chính sách rất
quan trọng đã đóng góp tích cực, tạo mọi thuận lợi giúp đỡ và có hiệu quả
thiết thực nhằm trợ giúp cho NKT giảm bớt những khó khăn trong đời sống
học tập, lao động,…và tỉ lệ NKT được học nghề hàng năm tăng, năm sau cao
hơn năm trước, số NKT có việc làm nhiều hơn và thu nhập ổn định, hòa nhập
cộng đồng xã hội đạt kết quả tích cực, góp phần ổn định xã hội.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp thu thập thông tin và phân tích tài liệu

hỗ trợ các phương pháp khác trong việc xử lý phân tích và đưa ra kết luận
khách quan, Chúng tôi đàm thoại với 5 cán bộ giáo viên và 10 người NKT tại
Trung tâm. Nội dung đàm thoại là những hoạt động đang triển khai trợ giúp
cho NKT, đánh giá kết quả đạt được thông qua can thiệp với các nhóm đối
tượng, nhu cầu về trợ giúp của Trung tâm hiện nay, những khó khăn, hạn chế
trong hoạt động cung cấp, hỗ trợ học nghề và việc làm.
5.2.6. Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
Nguyên tắc cơ bản về việc xây dựng bảng hỏi, trên cơ sở trưng cầu ý
kiến những yêu cầu chi tiết, dễ hiểu để làm sao cho tất cả cán bộ, giáo viên và
NKT trả lời theo các nội dung yêu cầu và cung cấp thông tin chính xác.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu đề tài hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với NKT từ thực tiễn
Trung tâm dạy nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm cho NKT Hà Tĩnh, tỉnh
Hà Tĩnh có ý nghĩa hết sức quan trọng. Đề tài mang ý nghĩa lý luận sâu sắc,

8


có thể nhìn nhận công tác hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với NKT từ góc độ
khoa học, mô tả và đánh giá vấn đề bằng nhiều lý thuyết khác nhau, những
kiến thức từ thực tiễn được bổ sung làm phong phú thêm kho tàng kiến thức,
để phục vụ nghiên cứu, xây dựng chính sách hỗ trợ, đề ra các giải pháp có
hiệu quả,…về công tác hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với NKT.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài đã nghiên cứu thực trạng hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với
NKT từ thực tiễn Trung tâm, từ đó chúng ta thấy được vấn đề cốt lõi, có cái
nhìn tổng quát hơn, sâu sắc hơn, quy chuẩn hơn, dễ tiếp cận hơn và từ kết quả
nghiên cứu có thể đưa ra những khyến nghị nhằm giúp các cơ quan chức
năng, tổ chức, các cơ sở dạy nghề, các cơ sở sản xuất kinh doanh,…có những

thống tiên phong trong quá trình hiểu và đưa ra định nghĩa về khuyết tật. Theo
cách hiểu của WHO các thuật ngữ suy giảm chức năng, khuyết tật, tàn tật có
nội hàm khác nhau: Suy giảm chức năng chỉ những người có vấn đề về thể
chất; khuyết tật là những hạn chế trong hoạt động do suy giảm chức năng gây
nên; tàn tật là hạn chế hay hao hụt(do khuyết tật) khả năng thực hiện vai trò
trong xã hội.
Theo người dân Việt Nam, thì từ "khuyết tật" và "tàn tật" là hai từ để chỉ
cùng một khái niệm, từ năm 2009 trở về trước người ta vẫn dùng song song
chúng trên cả phương tiện truyền thông đại chúng và văn bản pháp quy.
Trong các pháp lệnh trước đây của Nhà nước Việt Nam thì "Tàn tật" là cụm
từ được chính thức sử dụng.
Chẳng hạn từ “khuyết”có nghĩa là không đầy đủ, thiếu mất một bộ phận,
một phần, “tật” nghĩa là có “điều gì đó không được bình thường, ít nhiều khó
chữa ở vật liệu, dụng cụ, máy móc. Còn ở người là sự bất thường, nói chung

10


không thể chữa được, của một cơ quan trong cơ thể do bẩm sinh mà có hoặc
do tai nạn hay bệnh gây ra”.
Năm 2010 Quốc hội (QH) Việt Nam đã chính thức sử dụng cụm từ
khuyết tật thay cho tàn tật trong các Bộ Luật ban hành có liên quan, cụ thể là
Luật NKT số 51/2010/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/01/2011[21] nó phù hợp
với khái niệm và xu hướng nhìn nhận của thế giới về vấn đề NKT.
NKT là đối tượng nhận được nhiều sự quan tâm của tất cả cộng đồng xã
hội. Cộng đồng quốc tế đã có nhiều chương trình dành cho đối tượng này
nhằm giúp họ có thể sống, học tập, làm việc và hòa nhập. Xác định thế nào là
người khuyết tật là vấn đề rất quan trọng bởi có xác định chính xác thì mới
không bỏ sót đối tượng thụ hưởng các chương trình, chính sách của Nhà
nước. Quan niệm về NKT không giống nhau tùy thuộc vào nhận thức, chế độ

Theo đạo luật số 7277 với tên gọi là “Đạo luật tạo nên sự phục hồi chức
năng, tự phát triển, tự tin cho NKT và hòa nhập NKT vào xã hội và các mục
đích khác” được thông qua bởi Thượng nghị viện và Hạ nghị viện của Quốc
hội Phillipines vào ngày 12/7/1991 quy định: NKT là người có sự khác biệt
về khả năng và hạn chế do khiếm khuyết về giác quan, vận động và tâm thần
để thực hiện một hoạt động được coi là bình thường. Với khái niệm về người
khuyết tật thì Đạo luật 7277 của Philippin còn giải thích một số thuật ngữ
khác có liên quan đến NKT, cụ thể: Sự khiếm khuyết là sự mất, giảm hay rối
loạn về chức năng hay cấu trúc cơ thể, tâm lý và hành vi.
Khuyết tật có nghĩa là sự khiếm khuyết về vận động hay trí não có ảnh
hưởng đáng kể đến một hoặc nhiều chức năng vận động, tâm thần của một cá
nhân hay các hoạt động của cá nhân hoặc được coi là có khiếm khuyết.
Theo quan niệm ở Việt Nam
Trước đây Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy định về giáo dục
hòa nhập dành cho NKT số 23/2006/QĐ-BGD&ĐT, nội dung của quy định
này bao gồm: Những quy định về tổ chức, hoạt động giáo dục hòa nhập cho
NKT; giáo viên, giảng viên, nhân viên; NKT trong giáo dục hòa nhập và cơ
sở vật chất, trang thiết bị và đồ dùng dạy học. Theo Quyết định này NKT

12


được định nghĩa là “NKT không phân biệt nguồn gốc gây ra khuyết tật, là
người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức
năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm giảm khả năng hoạt động,
khiến cho việc sinh hoạt, học tập, lao động gặp nhiều khó khăn”.
Ngày 17/6/2010, Quốc hội(QH) Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
(XHCN) Việt Nam đã thông qua Luật Người khuyết tật số 51/2010/QH/12 và
có hiệu lực từ 01/01/2011[21], hình thức sử dụng khái niệm “người khuyết
tật” thay cho khái niệm “tàn tật” hiện hành, phù hợp với khái niệm và xu

Khái niệm về "hỗ trợ dạy nghề là các hoạt động trợ giúp người học nghề
một cách đầy đủ về tất cả các mặt nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ
nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự
tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học".
Theo góc độ Công tác xã hội(CTXH) thì hỗ trợ dạy nghề cho NKT chính
là sự hỗ trợ về một số mặt, như sau:
- Đội ngũ giáo viên dạy nghề cho NKT cần có trình độ chuyên môn đạt
yêu cầu, tâm huyết với nghề, cần có những kiến thức riêng về NKT như đặc
điểm, nhu cầu, tâm sinh lý của NKT,...Ngoài ra phải tận tụy, trách nhiệm,
chịu khó, nhiệt tình, biết hy sinh,…thậm chí phải hiểu các chính sách, pháp
luật, biết ngôn ngữ NKT nghe nói,…
- Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật: phải được thiết kế đặc biệt phù hợp
với người khuyết tật như có đường đi riêng giành cho xe lăn, bàn ghế trang
thiết bị phù hợp với dạng khuyết tật,...Đồng thời có đầy đủ các phương tiện
dạy học, máy móc trang thiết bị phù hợp, cũng như nguyên vật liệu phục vụ
cho quá trình thực hành học nghề của NKT.
- Kinh phí hỗ trợ dạy nghề phải cấp đảm bảo, đáp ứng phục vụ dạy nghề
và cần được huy động từ các cấp, các ngành, các địa phương, các tổ chức và
cá nhân trong và ngoài nước.
- Chương trình dạy nghề cho NKT, gồm: Chương trình, giáo trình dạy
nghề, giáo án, thời gian, các loại sổ sách, hồ sơ khác của quá trình học nghề,

14


hình thức giảng dạy lý thuyết, thực hành (phù hợp với từng loại khuyết tật khi
được học nghề).
Để hiểu rõ khái niệm và bản chất của việc làm ta phải liên hệ đến phạm
trù lao động vì giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Lao động trước hết là một hành động diễn ra giữa con người với giới tự

thực hiện trong từng lĩnh vực, từng công việc cụ thể. Hoạt động hỗ trợ dạy
nghề cho NKT cũng có những nguyên tắc riêng quan trọng buộc các nhà quản
lý, cán bộ giáo viên chúng ta phải hiểu và nắm rõ khi làm việc, tiếp xúc và
dạy nghề NKT có hiệu quả, đó là:
- Chấp nhận sự cá biệt, đây là nguyên tắc quan trọng khi làm việc với
NKT bởi bản thân NKT đã là sự cá biệt, chúng ta cần phải biết chấp nhận sự
cá biệt của mỗi cá nhân NKT. Người khuyết tật có hoàn cảnh sống, nhu cầu,
cảm xúc, mong muốn và cả những ưu điểm, nhược điểm, kể cả dạng tật cũng
khác nhau. Do đó trong quá trình hỗ trợ NKT học nghề đòi hỏi ta luôn cần
sáng tạo trong cách tiếp cận giúp đỡ từng NKT. Ngay cả khi có thể NKT gặp
những khó khăn như nhau về học nghề thì cách giúp đỡ giải quyết cũng khác
nhau do mỗi cá nhân có hoàn cảnh, tâm tư, tình cảm, suy nghĩ, cảm xúc,
những điểm mạnh, điểm yếu khác nhau. Ví dụ trong vấn đề lựa chọn ngành
nghề để theo học nhưng việc hỗ trợ NKT lựa chọn ngành nghề học phù hợp
thì có cách thức khác nhau, có em tự chọn nghề để học, có em lại do gia đình
NKT chọn nghề, tức là tùy thuộc vào điều kiện, nguyện vọng, hoàn cảnh, sở
thích, khả năng của NKT.
- Tôn trọng NKT, bởi vì được tôn trọng là một trong những nhu cầu thiết
yếu của con người nó giống như các nhu cầu ăn, mặc, ở,… Hơn ai hết người
khuyết tật cần được tôn trọng trong xã hội. Tôn trọng NKT là thái độ không
phán xét, không xem thường miệt thị hoặc quá chú tâm đến sự khuyết tật của
họ. Bằng thái độ chân thành và niềm mong ước sâu sắc để hỗ trợ NKT học
nghề giúp họ phát triển hòa nhập cộng đồng tìm kiếm được công việc phù hợp

16


với ngành nghề đã học. Trong quá trình hỗ trợ dạy nghề cho NKT thì tôn
trọng người khuyết tật cần được thể hiện ở việc để NKT tự quyết định ngành
nghề mình sẽ theo học đồng thời hỗ trợ đầy đủ về cơ sở vật chất kỹ thuật,

và cả ý nghĩa phía sau lời nói của NKT.
- Phản hồi để hiểu thêm thông tin, ý kiến và cảm xúc, đặt câu hỏi khuyến
khích NKT cung cấp thêm thông tin, lật lại vấn đề từ góc nhìn của người
nghe.
- Đặt niềm tin vào khả năng tự giải quyết của NKT trong hỗ trợ dạy nghề
cho NKT, tin vào tính tự quyết của Người thụ hưởng dịch vụ(Thân chủ) là
nguyên tắc rất quan trọng bởi hơn ai hết chính bản thân họ mới hiểu về hoàn
cảnh, suy nghĩ, cảm xúc những ưu khuyết điểm của mình, vì vậy họ chính là
người tự giải quyết vấn đề của mình. Tuy nhiên, không phải bỏ mặc người
khuyết tật, mà chúng ta cần giúp đối tượng nhận ra điểm mạnh của mình,
phân tích, tìm ra những giải pháp, những nguồn hỗ trợ khác nhau để đối tượng
có thể tự mình quyết định giải quyết vấn đề của mình. Đồng thời cần chú ý
trước khi để họ tự quyết định hãy nói rõ những khó khăn, thuận lợi, cơ hội và
thách thức để họ tự quyết định vấn đề của mình.
Quá trình thực hiện nguyên tắc này, cần cân nhắc và can thiệp trong
những trường hợp xét thấy quyết định của thân chủ gây tổn thương nghiêm
trọng cho chính thân chủ hoặc cho người khác hoặc thân chủ không có khả
năng tự đưa ra quyết định, chẳng hạn NKT trí tuệ, tâm thần thì cần sự giúp đỡ
rất nhiều từ chúng ta để quyết định các vấn đề của chính bản thân họ.
Ngoài những nguyên tắc làm việc trên thì nguyên tắc rất quan trọng khi
làm việc với NKT đó là sự trung thực, nhất là trong vấn đề hỗ trợ dạy nghề
cho NKT. Trong quá trình học nghề NKT sẽ được hỗ trợ về cở sở vật chất kỹ
thuật, nguyên vật liệu, kinh phí học nghề,... nếu không trung thực liệu rằng
những hỗ trợ đó có đến với NKT một cách đầy đủ không? Để giúp NKT có
điều kiện học nghề tốt nhất, mang lại hiệu quả thiết thực nhất như thế nào?.

18


1.1.2.2. Nguyên tắc hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật


- Nguyên tắc hỗ trợ, điều chỉnh hợp lý đối với NKT trong lĩnh vực việc
làm. NKT là một trong những đối tượng lao động đặc thù, do những đặc điểm
về thể chất nên họ gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm cũng như duy
trì việc làm, hơn thế họ cần được làm việc trong một môi trường đặc thù,
riêng biệt phù hợp với sức khỏe. Chính vì vậy cần phải có sự hỗ trợ, điều
chỉnh hợp lý cho NKT có việc làm và có việc làm bền vững, tức là thực hiện
quyền việc làm của mình. Để NKT bình đẳng như người khác về cơ hội việc
làm cũng như duy trì nó thì cần phải có sự hỗ trợ, điều chỉnh hợp lý cho NKT
để họ có thể tìm kiếm được việc làm và có được việc làm bền vững, được
thực hiện quyền việc làm của mình. Những hỗ trợ đặc biệt nhằm tạo cơ hội
bình đẳng và đối xử bình đẳng giữa lao động khuyết tật với lao động không
khuyết tật không bị coi là phân biệt đối xử mà chỉ là việc làm nhằm tạo điều
kiện để NKT được bình đẳng ngang bằng với những người lao động khác,
như nam - nữ, giàu - nghèo, thành thị - nông thôn,…giúp họ vươn lên trong
cuộc sống và hòa nhập với cộng đồng.
Để việc hỗ trợ, điều chỉnh này được đảm bảo thực thi trên thực tế thì Nhà
nước với tư cách là chủ thể quyền lực phải giữ vai trò chủ đạo trong việc hỗ
trợ, điều chỉnh phù hợp. Bản thân NKT cũng phải có những cố gắng, xóa bỏ
mặc cảm, tự ti nhất định và người sử dụng lao động cũng phải có trách nhiệm
hỗ trợ một phần. Tuy nhiên sự hỗ trợ điều chỉnh này không có nghĩa làm gánh
nặng cho các đơn vị sử dụng lao động có sử dụng lao động là NKT, Nhà nước
sẽ chịu trách nhiệm chính trong việc hỗ trợ điều chỉnh nói trên và bản thân
NKT cũng phải tự cố gắng vươn lên, vượt qua chính mình.
1.1.3. Vai trò của hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật
1.1.3.1.Vai trò của hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật
Hỗ trợ dạy nghề đối với NKT có vai trò hết sức quan trọng nó bao gồm
rất nhiều vấn đề và nó có mối quan hệ khăng khít, đan xen, bền chặt với nhau,
và tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung cho nhau, cũng có lúc mâu thuẫn nhau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status