Đánh giá và giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro cho công ty viễn thông viettel - Pdf 39

ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Viện Kinh tế và Quản lý

NGUYỄN THANH SỬ

ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA, GIẢM THIỂU RỦI RO
CHO CÔNG TY VIỄN THÔNG VIETTEL

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

HÀ NỘI - 2013


ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Viện Kinh tế và Quản lý

NGUYỄN THANH SỬ

ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA, GIẢM THIỂU RỦI RO
CHO CÔNG TY VIỄN THÔNG VIETTEL

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS,TS ĐỖ VĂN PHỨC

HÀ NỘI - 2013



CÔNG TY VIỄN THÔNG VIETTEL TRONG 5 NĂM TỚI ......................... 96
3.2. GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA, GIẢM THIỂU RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG
CỦA CÔNG TY VIỄN THÔNG VIETTEL TRONG 5 NĂM TỚI ................ 97
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 112
PHỤ LỤC............................................................................................................. 113

2


LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn này là do tự bản thân thực hiện và không sao
chép các công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình.
Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ
ràng. Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận
văn.

Tác giả

NGUYỄN THANH SỬ

3


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.2. Bảng mô tả rủi ro .................................................................................... 24
Bảng 1.3. Hậu quả của các rủi ro ............................................................................ 25
Bảng 1.4. Khả năng xảy ra của rủi ro xuôi .............................................................. 26
Bảng 1.5. Khả năng xảy ra của rủi ro ngược ........................................................... 26

Hình 2.4. Hệ thống kênh phân phối của Công ty Viễn thông Viettel ....................... 92
Hình 3.1. Quy trình hoạch định kinh doanh .......................................................... 100
Hình 3.2. Ba cơ sở, căn cứ cho hoạch định kinh doanh ......................................... 105
Hình 3.3. Nội dung các giai đoạn hoạch định kinh doanh ..................................... 106
Hình 3.4. Sơ đồ quá trình của chính sách quản lý ................................................. 108
Hình 3.5. Sơ đồ quy trình hoạch định chính sách quản lý ..................................... 108
Hình 3.6. Mối quan hệ giữa chất lượng của hệ thống chính sách và khả năng cạnh
tranh của DN ....................................................................................... 109

5


MỞ ĐẦU
1.

Lý do chọn đề tài
Lý do 1: Trong quá trình học các môn của chương trình đào tạo Cao học

Quản trị kinh doanh của Trường Đại học Bách Khoa Hà nội đôi lúc thầy, cô có nói
đến tuy không được nhiều về một vấn đề mới của doanh nghiệp khi có cạnh tranh từ
đáng kể trở lên. Đó là rủi ro của doanh nghiệp. Vấn đề rủi ro của doanh nghiệp đã
hấp dẫn tôi từ khi đó.
Lý do 2: Là một cán bộ công tác ở công ty Viễn thông Viettel vào giai đoạn
cạnh tranh khốc liệt, phát triển kinh doanh mạnh cả theo chiều rộng lẫn theo chiều
sâu học viên đã nhận thấy rủi ro xuất hiện đáng kể và nếu không phòng ngừa kịp
thời, hữu hiệu tình hình rủi ro sẽ xấu đi nhanh chóng.
Ra đời và kinh doanh chính thức từ ngày 15/10/2004, trải qua 07 năm hoạt
động, mạng Viễn thông Viettel được đánh giá là mạng có tốc độ phát triển nhanh
nhất Việt Nam và Châu Á. Từ thuở ban đầu, chưa có thuê bao nào đến nay, Viettel
đã sở hữu khoảng 35 triệu thuê bao đang hoạt động (thuê bao có hoạt động thu tiền


Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
­ Đối tượng nghiên cứu: Rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh Công

ty Viễn thông Viettel.
­ Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Công ty Viễn thông Viettel
+ Thời gian: Trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2012, đề xuất giải pháp
4.

Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin,

phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng, Nhà nước và
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.
Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu khoa học truyền thống như phương pháp phân tích, phương pháp so
sánh, phương pháp tổng hợp và phương pháp thực tiễn.
5.

Kết cấu luận văn
Nội dung luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có 3 chương
7


Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro trong hoạt động của doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trường.
Chương 2: Thực trạng đánh giá và phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro trong hoạt
động của Công ty Viễn thông Viettel.
Chương 3: Một số giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động

9


Từ lâu trong quá trình nghiên cứu nhằm phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro người
ta đã đưa ra nhiều khái niệm về rủi ro.
Trong cuộc sống người ta hiểu: rủi ro là sự không may mắn, hết sức đa dạng,
phức tạp luôn gắn liền với môi trường hoạt động của con người. Trên thế giới và ở
Việt Nam có nhiều nhà kinh tế, nhà kinh doanh bảo hiểm nghiên cứu và đưa ra khái
niệm về rủi ro:
Nói tới rủi ro bất định không thể không nhắc tới: Frank Knight (1895 -1973)
nhà khoa học, nhà kinh tế học người Mỹ, ông đã đóng góp quan trọng vào phương
pháp luận của kinh tế học cũng như đối với việc định nghĩa và giải thích chi phí xã
hội. Đóng góp lớn nhất của ông là tác phẩm Rủi ro,” Sự không chắc chắn và lợi
nhuận” (1921). Mục tiêu của ông là giải thích sự điều tiết lợi nhuận trong kinh
doanh dưới dạng của sự rủi ro bất định. Vào thời kỳ của ông, đây không phải là một
vấn đề mới mà ngược lại nó đã được một nhà khoa học trước đó nói tới khi nghiên
cứu về mối quan hệ trong sở hữu đất đai. Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế hiện
đại phát triển, sự nghiên cứu của Frank Knigh đã có tác dụng gắn kết về mặt nền
kinh tế vĩ mô và vi mô. Ban đầu khi đưa ra những khái niệm giữa rủi ro và bất định
ông đã nhận được sự phản đối gay gắt của các nhà khoa học thời đó (do bối cảnh
của nền kinh tế lúc đó) nhưng dần dần các nghiên cứu của ông đã có sức thuyết phục
lớn và được thừa nhận do giải thích được mối quan hệ về mặt lý thuyết giữa thị
trường và các xí nghiệp kinh doanh [1], [2].
Allan Willett, một học giả người Mỹ khác cho rằng, “Rủi ro là sự bất trắc cụ
thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi” [3]. Như vậy, theo
ông rủi ro liên quan đến thái độ của con người, những biến cố ngoài sự mong đợi là
sự rủi ro, còn những biến cố mong đợi không phải là rủi ro.
Irving Pfeffer (Mỹ) lại cho rằng “Rủi ro là một tổ hợp của sự ngẫu ngẫu
nhiên có thể đo lường được bằng xác suất” [4].Theo ông rủi ro gắn với sự hiện



Phải
chấp
nhận

Hạn
chế

Ở đây, tác giả nghiên cứu rủi ro với các kết quả xấu và tìm kiếm giải pháp để
giảm thiểu chúng. Do vậy, rủi ro có hai đặc trưng cơ bản sau: 1- Sự thay đổi; 2- Kết
quả của sự thay đổi là không lường trước (nó không chắc chắn sẽ xảy ra như thế
nào).
Qua các khái niệm như trên về rủi ro nêu lên cho thấy dường như giữa chúng
có mối liên hệ với nhau ở ba vấn đề [12]:
Một là, các khái niệm đều đề cập đến sự không chắc chắn mà chúng ta coi đó
là mối ngờ vực đối với tương lai.
Hai là, ở cấp độ hay mức độ rủi ro là khác nhau.
Ba là, các khái niệm đều nói đến hậu quả do một hoặc nhiều nguyên nhân gây
ra và sự không chắc chắn về hậu quả cho con người trong một tình huống cụ thể.
12


Như vậy, rủi ro không những chỉ mối ngờ vực về tương lai mà còn ám chỉ cả một
thực tế là hậu quả có thể xảy ra.
Tuy nhiem, các khái niệm chưa giúp phân biệt rõ là sự kiện nguy hiểm đã xảy
ra hay chưa. Chính vì vậy, chúng tôi đặt trọng tâm vào nghiên cứu đánh giá chung
kết định lượng tình hình rủi ro cùng với các nguyên nhân yếu kém về quản lý
chiến lược và quản lý điều hành làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp phòng
ngừa, giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp trong tương lai. Nghĩa là tập trung vào
những rủi ro có thể sẽ xảy ra, các biện pháp phòng ngừa. Còn những rủi ro đã xảy ra

suất và giá thị trường, môi trường chính trị, môi trường xã hội và kinh doanh. Hơn
nữa, xác suất xảy ra sự kiện đó thường được xác định một cách chủ quan hoặc
không thể xác định được càng làm tăng tính bất định của rủi ro.
Trong kinh doanh khi phải đối mặt với rất nhiều rủi ro như vậy doanh nghiệp
nên nhận thức các vấn đề đó ra sao? Trên cơ sở khảo sát các ý kiến của các doanh
nghiệp của các nền kinh tế phát triển, người ta đã rút ra một số luận điểm cơ bản
giúp doanh nghiệp chuẩn bị đương đầu với những rủi ro sau:
a) Rủi ro là thách thức, vật cản
Chấp nhận rủi ro là cách tốt nhất để khám phá năng lực của chủ thể. Doanh
nghiệp nhờ chấp nhận rủi ro có thể tự kiểm soát tương lai của doanh nghiệp vững
chắc hơn. Nếu doanh nghiệp không sẵn sàng chấp nhận rủi ro thì doanh nghiệp sẽ
khó tự thể hiện mình.
b) Văn hóa chấp nhận rủi ro
Những kinh nghiệm hững chịu rủi ro trong quan hệ cá nhân với gia đình và
bạn bè sẽ giúp doanh nghiệp có những kinh nghiệm phán xét những gì là bất lợi hay
mạo hiểm không cần thiết và tránh những mạo hiểm có khả năng tạo ít thành quả. Ở
đây “Văn hóa chấp nhận rủi ro” không có nghĩa là biến doanh nhân trở thành các
con bạc. Các con bạc thường luôn hy vọng thu lợi lớn mà không phải bỏ nhiều công
sức; Khi thất bại thường đổ lỗi cho vận đen hoặc các lý do nằm ngoài tầm kiểm soát
14


của họ mà không muốn tự nhận trách nhiệm. Còn đã là một doanh nhận thì phải biết
đánh giá một cách hệ thống và tỉ mỷ một cách thành công của doanh nghiệp, mức độ
tác động của các cá nhân đến thành quả cuối cùng. Chủ doanh nghiệp phải là người
dám nhận trách nhiệm cá nhận trước quyết định của mình bất kể quyết định đó mang
lại kết quả tốt hay xấu. Hơn nữa “Văn hóa chấp nhận rủi ro” không coi những người
làm ăn phi pháp hay đầu cơ là các loại doanh nhân. Đạo đức và trung thực là hai đức
tính cơ bản của doanh nhân, doanh nhân là người tạo ra giá trị và lợi ích cho xã hội.
c) Rủi ro phải được coi như một bộ phận tự nhiên và không thể tách rời

xấu (với xác xuất b%, trong đó a+b xấp xỉ bằng 1).
c) Theo cách sử lý rủi ro được chia thành hai loại:
Rủi ro tập trung (Concentrated risk): là rủi ro mà mọi nguyên nhân gây ra
cũng như mọi kết quả thu nhận được đều quy về một mối.
Rủi ro phân tán (Scatter risk): là rủi ro xảy ra theo chiều hướng ngược lại,
các nguyên nhân gây ra rủi ro được phân tách nhỏ ra và kết quả nhận được nhận
được cũng trải rộng ra.
d) Theo tác động dẫn xuất rủi ro được chia thành hai loại:
Rủi ro trực tiếp là rủi ro do chính nguyên nhân gây ra tác động.
Rủi ro gián tiếp là rủi ro do hậu quả của rủi ro trực tiếp tạo ra. Ví dụ do chiến
tranh vùng Vịnh và tác động thiên tai kéo dài tới rủi ro giá dầu tăng cao.
Đ) Theo đối tượng nhận rủi ro doanh nghiệp có thể có rủi ro về:
- Tài sản
- Con người
- Thông tin
- Trách nhiệm pháp lý, v.v…
e) Theo tốc độ xảy ra tổn thất rủi ro có thể chia thành hai loại:
Rủi ro tức thời là rủi ro xảy ra ngay trong hiện tại và tương lai gần của chủ
thể.
16


Rủi ro trong tương lai là rủi ro xảy ra sau một vài chu kỳ kinh doanh.
f) Theo mức độ cảm nhận được rủi ro được chia thành hai loại:
Rủi ro có khả năng dự đoán là rủi ro mà chủ thể có thể ước lượng, tính toán
được sẽ xảy ra với xác suất nhất định.
Rủi ro không thể dự đoán được là rủi ro hoàn toàn bất ngờ mà chủ thể không
thể nào đón nhận trước được. Ví dụ như: thiên tai, thay đổi cơ chế, thay đổi chính
trị…
Hình 1.2: Phân loại rủi ro

sản, con
người
v.v...)

Theo tốc Theo mức
độ xảy ra
độ cảm
tổn thất
nhận
(rủi ro tức được (rủi
thời, rủi
ro hữu
ro tương hình, rủi
lai)
ro vô
hình)

1.2. PHƯƠNG PHÁP NHẬN BIẾT VÀ ĐÁNH GIÁ CHUNG KẾT ĐỊNH
LƯỢNG TÌNH HÌNH RỦI RO CỦA DOANH NGHIỆP
Từ trước đến nay nhiều người đánh ngía tình hình rủi ro theo cảm tính cá nhân
hoặc theo một vài chỉ số rời rạc nên kém sức thuyết phục.
Muốn đánh giá tình hình rủi ro cần sử dụng phương pháp đánh giá. Kết quả
đánh giá tình hình rủi ro chỉ có sức thuyết phục cao khi nó dưới dạng chung kết định
17


lượng. Kết quả đánh giá tình hình rủi ro chỉ có được dưới dạng chung kết định lượng
khi phương pháp được chọn dùng hoặc thiết lập hoàn toàn khoa học. Theo chúng tôi
một phương pháp đánh giá chung chung kết định lượng tình hình rủi ro của doanh
nghiệp được thiết lập hoàn toàn khoa học khi nó hội tụ đầy đủ các yếu tố cấu thành

ánh tình hình rủi ro cụ thể sau khi tính toán cần so sánh với mức chuẩn chấp nhận
được. Tình hình rủi ro cụ thể thường rất đặc thù, khó hoặc chưa có chuẩn mực thống
nhất nên có thể lấy chuẩn là kết quả xin ý kiến các chuyên gia hoặc chuẩn là mức độ
sử dụng của nhóm doanh nghiệp cùng loại thành đạt.

18


Về đánh giá định lượng, chung kết – Luôn có nhu cầu nhận biết một cách
chung kết định lượng, cần có kết luận cuối cùng về tình hình rủi ro: tốt hay xấu, đến
mức độ nào. Đánh giá rời rạc theo các tiêu chí không thoả mãn được nhu cầu đó. Do
vậy cần có ba rem điểm cho từng tiêu chí phân biệt trọng số ở điểm tối đa; cần có
cách cho điểm đối với trường hợp thực tế cụ thể. Tổng điểm của các tiêu chí so với
điểm tối đa là kết quả đánh giá định lượng tình hình rủi ro.
Tình hình rủi ro của doanh nghiệp bình quân trong 5 năm gần đây được đánh
giá chung kết định lượng như sau:
Bảng 1.1: Đánh giá định lượng rủi ro của doanh nghiệp
Điểm tối đa (xấu nhất)

STT

Tiêu chí

1

Tỷ lệ tổn thất do rủi ro so với doanh thu bình
quân trong 5 năm gần đây

2


nguyên nhân của rủi ro của doanh nghiệp.

19


Theo cách tiếp cận 1: rủi ro của doanh nghiệp chủ yếu, trực tiếp do sai lầm
trong quản lý hoạt động của doanh nghiệp. Quản lý hoạt động của doanh nghiệp là
thực hiện 4 loại công việc: hoạch định hoạt động của doanh nghiệp; Đảm bảo tổ
chức bộ máy và tổ chức cán bộ; Điều phối và Kiểm tra.
Trong hoạch định hoạt động của doanh nghiệp các phần việc như: lựa chọn
các cặp sản phẩm – khách hàng chiến lược và cụ thể; lập kế hoạch thực hiện các
cặp sản phẩm – khách hàng cụ thể đó: xác định sản lượng, địa điểm và thời gian…;
hoạch định các chính sách huy động các nguồn lực cho hoạt động của doanh nghiệp
có mức độ phức tạp cao và dễ có rủi ro.
Quyết định lựa chọn các cặp sản phẩm – khách hàng với sản lượng tiêu thụ dự
kiến nhiều và rất nhiều khi nhu cầu thực sự của thị trường mục tiêu không nhiều;
hoặc nhu cầu của thị trường mục tiêu còn nhiều nhưng đã, đang và sắp ở pha
suy giảm;
hoặc nhu cầu của thị trường mục tiêu nhiều nhưng các đối thủ cạnh tranh
mạnh hơn hẳn
mà sau đó khi triển khai bản thân doanh nghiệp không có mức độ khác biệt,
độc đáo đáng kể; thua kém đối thủ cạnh tranh đáng kể về chất lượng, giá chào bán,
thời gian, thuận tiện sẽ rơi vào tình trạng tiêu thụ chậm, tồn kho nhiều…Doanh
nghiệp chịu tổn thất lớn do hàng tồn kho như: phí lưu kho, tiền trả lãi vay vốn…Sau
đó là tổn thất do phải chuyển sang các cặp sản phẩm - khách hàng khác, thay đổi
công nghệ… và tổn hại đến thương hiệu.
Trong hoạch định các chính sách huy động các nguồn lực rất dễ để xảy ra
nguy cơ rủi ro do chưa lường trước hết những thay đổi tiêu cực. Đó là
-


Tán đồng quan điểm “quản lý rủi ro toàn diện” của Kloman, Haimes và các
tác giả khác, chúng tôi cho rằng: Quản lý rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách
khoa học, toàn diện, liên tục và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát đi đến
phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro.
Cùng với quản lý chiến lược và quản lý hoạt động của doanh nghiệp, quản lý
rủi ro ngày càng được tách lập và có các vai trò cơ bản sau:
- Nhận dạng những nguyên nhân của rủi ro kinh doanh; tạo dựng môi
trường bên trong và góp phần tạo dựng môi trường bên ngoài an toàn cho doanh
nghiệp.

21


- Hạn chế và sử lý một cách tốt nhất các tổn thất và những hậu quả
không mong muốn khi rủi ro xảy ra (mà doanh nghiệp không thể né tránh được),
nhanh chóng phục hồi, ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh.
- Tạo nguồn lực cho các chương trình giảm thiểu rủi ro.
Đối với doanh nghiệp ở các nước phát triển, trong thời kỳ đầu phát triển, hoạt
động quản lý rủi ro không được tiến hành một cách hệ thống như hiện nay, nó được
thực hiện riêng lẻ tại các bộ phận cảu các công ty và chủ yếu phục vụ mục đích giảm
chi phí. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của thị trường và sự lệ thuộc quan hệ kinh
tế ngày càng tăng giữa các nước thì rủi ro ngày càng trở nên phức tạp và tác động
lẫn nhau, đòi hỏi quản lý rủi ro phải thực hiện trên bình diện toàn công ty. Khái
niệm “quản lý rủi ro trong doanh nghiệp” (enterprise risk management) ra đời diễn
tả công việc này và đang được áp dụng ngày càng phổ biến tại các doanh nghiệp [*].
Hình 1.3: Các bước thực hiện công việc quản lý rủi ro trong DN
Xác
định
bối
cảnh

thường diễn ra theo trình tự như Sơ đồ 4.
Xác định bối cảnh doanh nghiệp: Đây là việc xác định môi trường tồn tại

22


và hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm các bối cảnh bên ngoài, bên trong và bối
cảnh quản lý rủi ro trong doanh nghiệp.
- Bối cảnh bên ngoài: Việc phân tích bối cảnh này bắt đầu bằng việc
xác định quan hệ giữa các doanh nghiệp với môi trường, bao gồm việc xác định các
điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và đe dọa. Quá trình này còn làm rõ những người chịu
ảnh hưởng (môi trường kinh tế - xã hội, cạnh tranh, cổ đông, nhân viên, khách hàng,
cộng đồng) cũng như các chính sách giao tiếp với những người chịu ảnh hưởng này.
- Bối cảnh bên trong: quá trình này bắt đầu bằng việc tìm hiểu các mục tiêu
chung của doanh nghiệp, định hướng chiến lược để đạt được các mục tiêu đó và các
chỉ tiêu đánh giá kết quả. Phần này thể hiện cơ cấu kiểm tra, kiểm soát và điều hành
doanh nghiệp.
- Bối cảnh quản lý rủi ro của doanh ngiệp: xác định các loại rủi ro tương
thích với doanh nghiệp và mức độ kết nối trong toàn bộ doanh nghiệp.
Xác định rủi ro
Bước này nhằm lập tài liệu về hoàn cảnh rủi ro và sự việc có thể gây đe dọa
hữu hình hoặc vô hình cho việc đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp. Các
phương pháp xác định rủi ro phổ biến là:
 Xác định rủi ro dựa vào các mục tiêu riêng. Bất cứ sự kiện nào có thể
gây ảnh hưởng xấu đến việc đạt được mục tiêu thì bị coi là rủi ro.
 Xác định rủi ro từ các nhân tố tác động, …
Mô tả rủi ro
Ở bước này, doanh nghiệp có thể sử dụng một số kỹ thuật xác định rủi
ro như đưa nhanh ý tưởng, phân tích tình huống, hội thảo đánh giá rủi ro. Mô tả rủi
ro để có thể hình dung rõ hơn về các loại rủi ro. Bước này sẽ hỗ trợ tích cực cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status