Nghiên cứu hội chứng chổi rồng trên cây nhãn (dimocarpus longan lour ) và biện pháp quản lý tổng hợp tại đồng bằng sông cửu long (TT) - Pdf 39

Chƣơng 1: GIỚI THIỆU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây nhãn (Dimocarpus longan Lour.) là một trong những loại cây ăn
trái chủ lực của Việt Nam với diện tích 88.227,5 ha, đứng hàng thứ ba, sau
cây xoài và cây chuối (Cục Trồng trọt, 2011). Nhãn đang có thị trường tiêu
thụ tại Trung Quốc, Mỹ và các nước châu Âu. Tuy nhiên, hiện nay sản xuất
nhãn đang gặp trở ngại lớn là dịch bệnh Chổi Rồng (CR) xuất hiện và gây
hại rất nghiêm trọng tại các vùng sản xuất nhãn trên cả nước, đặc biệt là các
tỉnh phía Nam với diện tích 39.181 ha, trong đó diện tích nhiễm bệnh
24.452 ha, chiếm 62,4% diện tích trồng nhãn (Trung tâm Bảo vệ thực vật
phía Nam, 2012).
Bệnh CR xuất hiện ở Trung Quốc từ năm 1955 và một số nước như Thái
Lan, Hồng Kông, Đài Loan, Brazil (Menzel và ctv., 1989), CR được xem là
một trong những dịch hại quan trọng nhất trên nhãn (Chen và ctv., 1992;
Coates và ctv., 2003). Tại Việt Nam, bệnh CR được ghi nhận tại miền Bắc
vào năm 1999 (Đặng Vũ Thị Thanh và Hà Minh Trung, 1999) và tại miền
Nam vào năm 2001 (Mai Văn Trị, 2004). Triệu chứng bệnh CR được ghi
nhận trên chồi non, lá và hoa (Chen và Xu, 2001; Menzel và ctv., 1989).
Zhang và Zhang (1999) đã mô tả triệu chứng bệnh CR là ngọn và phát hoa
co cụm lại, lá non và phát hoa trên chồi nhiễm CR sinh trưởng kém, biến
dạng, hoa phát triển bất thường và không thể hình thành trái hoặc phát triển
rất ít trái. Bệnh này lây lan rất nhanh làm cho diện tích nhiễm bệnh ngày
càng tăng, gây hại rất nghiêm trọng và gây thất thu năng suất nhãn từ 1080%, tùy theo mức độ gây hại, thậm chí có những vườn bị nhiễm bệnh
100%, không cho thu hoạch, gây thiệt hại rất lớn đến thu nhập và đời sống
của phần đông nhà vườn tại các vùng trồng nhãn tập trung như Vĩnh Long,
Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cần Thơ và Hậu
Giang. Ngoài ra, việc sử dụng nhiều thuốc BVTV hóa học ảnh hưởng đến
môi trường, sức khỏe của người sản xuất và để lại dư lượng trong sản phẩm
nhãn. Do sản xuất nhãn bị thiệt hại nghiêm trọng nên Bộ Nông nghiệp và
PTNT đã đưa CR vào danh mục dịch bệnh nguy hiểm được hưởng chính
sách hỗ trợ của Nhà nước (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2010), đã có 7 tỉnh

1.4. Những đóng góp mới của luận án
Luận án đã nghiên cứu được nhiều số liệu liên quan đến tác nhân gây
bệnh, phương thức lan truyền và cách gây hại của bệnh CR trên nhãn tại
các tỉnh ĐBSCL. Xác định được nhện lông nhung thuộc loài Eriophyes
dimocarpi (Acari: Eriophyidae) là môi giới truyền bệnh CR trên nhãn, cùng
đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái trên nhãn. Đề tài đã khẳng định
ong mật Apis mellifera không có vai trò trong việc phát tán NLN, xác định
được khả năng mẫn cảm hay chống chịu của các giống nhãn đối với bệnh
CR và xây dựng được quy trình cùng mô hình quản lý tổng hợp hiệu quả
NLN và bệnh CR trên cây nhãn tại ĐBSCL.
Chƣơng 3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Nội dung nghiên cứu
Nội dung gồm có: (1) Điều tra hiện trạng bệnh Chổi Rồng trên nhãn
Tiêu da bò tại Tiền Giang và Vĩnh Long, (2) Nghiên cứu tác nhân gây bệnh
Chổi Rồng và phương thức truyền bệnh trên nhãn, (3) Nghiên cứu đặc điểm
hình thái, sinh học và sinh thái của nhện lông nhung trên nhãn tại các tỉnh
ĐBSCL, (4) Nghiên cứu mức độ mẫn cảm đối với bệnh Chổi Rồng của các

2


giống nhãn và (5) Nghiên cứu biện pháp quản lý tổng hợp nhện lông nhung
và bệnh Chổi Rồng trên nhãn.
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 01/2011 đến tháng 11/2015.
Địa điểm: Công tác điều tra và thu mẫu nghiên cứu (tác nhân, đặc điểm
sinh học, phổ ký chủ, thiên địch, biện pháp quản lý của NLN cũng như
bệnh CR) và xây dựng mô hình quản lý tổng hợp được thực hiện trên các
vườn nhãn tại 4 tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre. Các thí
nghiệm trong phòng, nhà lưới và phân tích được thực hiện tại Bộ môn Bảo

3


PCR. Các cặp mồi sử dụng để khuyếch đại là các cặp mồi chung dùng để
phát hiện cho tất cả các phytoplasma đã được công bố. Cặp đoạn mồi
P1/P7, P1/Tint và R16mF2/R16mR1 được sử dụng trong giai đoạn đầu.
Sản phẩm của phản ứng PCR đầu tiên này được pha loãng từ 20-40 lần và
tiếp tục làm mạch khuôn cho phản ứng PCR tiếp theo. Các cặp mồi
fU5/rU3, f01/r01, R16F2n/R16R2, R16F1/R16R0, R16(X)F1/R16(X)R1 và
R16(V)F1/R16(V)R1, 16R758F/m23sR và R16(I)F1/R16(I)R1 được sử
dụng trong phản ứng PCR giai đoạn 2.
(ii) Giả thuyết tác nhân gây bệnh Chổi Rồng trên nhãn là vi khuẩn.
Các cặp mồi sử dụng để khuyếch đại là các cặp mồi chung dùng để phát
hiện các vi khuẩn được thiết kế trên trình tự 16S rRNA của vi khuẩn đã
được công bố (Bảng 3.3) như 27F/1492R, 27F/1489R, 27F/1525R, G1/L1,
P8FPL/P806R, 395F/871R, 395F/1492R, 799F/1492R, UNI-OL/UNI-OR
và UNI-IL/UNI-IR.
(iii) Giả thuyết tác nhân gây bệnh Chổi Rồng trên nhãn là vi rút.
Các cặp mồi được sử dụng là các cặp mồi chung của một số nhóm vi rút có
genome là ssRNA và có cấu trúc dạng hình sợi như Nib2-F/Nib3-R và
CN48/Oligo-dT cho nhóm EAPV/Potyvirus; A1/D1, B1/C1, A2/D2 và
B2/C2 cho nhóm Emaravirus; Tymorep-F/Tymorep-R cho nhóm
Tymovirus; CTV-F/CTV-R cho nhóm Closterovirus/CTV; TMV-F/TMV-R
cho nhóm Tobamovirus/CMV. Ngoài ra, một số vi rút có genome là ssDNA
được tiến hành trong thí nghiệm này như Begomo-F/Begomo-R cho nhóm
Begomovirus/PLCV và BBTV-R/BBTV-F cho nhóm Babuvirus.
* Giải trình tự, so sánh với ngân hàng gen và phân tích phả hệ: Sản
phẩm phản ứng PCR từ các cặp mồi P1/P7 và R16F2n/R16R2 của
phytoplasma, 395F/1492R và 799F/1492R của vi khuẩn được giải trình tự
theo quy trình của công ty Hóa Sinh (Việt Nam) và so sánh trên ngân hàng

bị bệnh và sạch. Thu thập mẫu nhãn TDB có và không triệu chứng CR và
mẫu nhãn Xuồng cơm vàng. Các mẫu lá được thu có cùng độ tuổi là giai
đoạn lá non, gửi mẫu đến Phòng thí nghiệm phân tích trung tâm của Trường
Đại học khoa học tự nhiên TP.HCM, Trung tâm dịch vụ phân tích thí nghiệm
TP.HCM để phân tích các chỉ tiêu về hàm lượng chất điều hòa sinh trưởng
trong cây nhãn như IAA, ABA, Polyphenol, Gibberelic acid (GA3).
* Nghiên cứu ảnh hƣởng của chất điều hoà sinh trƣởng IAA đến
bệnh Chổi Rồng trên nhãn. Thí nghiệm được bố trí trong nhà lưới theo kiểu
hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 nghiệm thức (NT1 (IAA 100 ppm), NT2 (IAA
200 ppm), NT3 (IAA 500 ppm), NT4 (đối chứng (phun nước sạch)) và 5 lần
lặp lại, mỗi lần lặp lại là 1 cây nhãn nhiễm CR. Tiến hành phun IAA lên cây
nhãn 3 tháng tuổi đã nhiễm CR hoàn toàn, phun 2 tuần/lần, bắt đầu phun vào
giai đoạn cây chuẩn bị ra đọt non (khoảng 3-5 ngày trước khi ra đọt non).
3.4.3. Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái của nhện
lông nhung trên nhãn tại các tỉnh ĐBSCL
3.4.3.1. Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học của nhện lông nhung.
Nhện được nuôi trên cây nhãn con có 2 lá thực ở trong lồng kính, theo dõi lá và
đọt nhãn để lấy trứng làm thí nghiệm. NLN được nuôi trên cây nhãn con có 2
lá thực ở trong lồng kính, theo dõi lá và đọt nhãn để lấy trứng làm thí nghiệm.
Lấy những trứng đẻ cùng 1 ngày làm vật liệu nghiên cứu vòng đời. Khi trứng
nở, ấu trùng được tách ra nuôi cá thể bằng cách chuyển qua đọt chồi nhãn mới.

5


Tiến hành theo dõi hàng ngày vào một giờ cố định (8 h sáng) để theo dõi các
chỉ tiêu. Theo dõi thí nghiệm ở mỗi lần với số lượng cá thể n = 30. Mẫu NLN
được phân loại dựa theo phương pháp của Kuang (1997) và Keifer (1962). Sau
khi được phân loại, tiến hành nhân nuôi cá thể và quần thể NLN trong phòng
thí nghiệm dựa theo phương pháp của Walter và Krantz (2009). Đo và tính

mellifera và ong dại A. dorsata (Hymenoptera: Apidae) trên lá và hoa của
cây nhãn, khi cây nhãn ở giai đoạn ra hoa. Đối với bọ xít nhãn Tessaratoma
sp. tiến hành thu thập 20 cá thể/vườn.

6


(ii) Khảo sát khả năng tự phát tán của nhện lông nhung. Thí nghiệm
được thực hiện trong nhà kính 16 m2. Thí nghiệm được thiết kế đặt các
chậu nhãn con theo đường tròn vườn tâm, sau đó đặt cây nhãn có chứa
NLN (100 con/lá chét) vào “tâm” của thí nghiệm.
(iii) Khảo sát khả năng phát tán của nhện lông nhung nhờ bọ xít
nhãn. Thí nghiệm được thực hiện tương tự thí nghiệm trên, có thả thêm 50
thành trùng bọ xít nhãn vào “tâm” của thí nghiệm.
e. Xác định cây ký chủ của nhện lông nhung tại ĐBSCL. Tiến hành
khảo sát vào thời điểm mật số NLN cao trong điều kiện tự nhiên trên các
chủng loại cây ăn trái quan trọng có trồng xen trong vườn nhãn TDB nhiễm
CR. Mỗi chủng loại cây khảo sát 10 vườn (theo Nguyễn Công Thuật,
1997). Khảo sát 2 đợt (đợt 1: tháng 4/2012 và đợt 2 tháng 4/2013). Theo
dõi vị trí xuất hiện, tần suất xuất hiện của NLN.
f. Khảo sát thành phần thiên địch của nhện lông nhung trên nhãn tại
ĐBSCL. Tiến hành khảo sát 20 vườn nhãn TDB, xác định thành phần loài côn
trùng và nhện nghi ngờ là thiên địch của NLN trên cây nhãn vào giai đoạn cây
ra đọt non và ra hoa, phân loại dựa vào tài liệu của Ren và ctv. (2007).
3.4.4. Nghiên cứu mức độ mẫn cảm đối với bệnh Chổi Rồng của các
giống nhãn
3.4.4.1. Đánh giá mức độ mẫn cảm với bệnh Chổi Rồng của các giống
nhãn được trồng phổ biến tại Tiền Giang. Tiến hành khảo sát 4 giống
nhãn được trồng phổ biến là TDB, Xuồng cơm vàng, Edor và Thạch kiệt.
Mỗi giống khảo sát 3 vườn. Chỉ tiêu theo dõi: (1) Tỷ lệ nhiễm CR (%), (2)

K2O+5 kg hữu cơ; NT2: 480 g N-240 g P2O5-480 g K2O+10 kg hữu cơ;
NT3: 480 g N-240 g P2O5-480 g K2O; NT4: 480 g N-240 g P2O5-960 g
K2O+5 kg hữu cơ; NT5: Đối chứng (nông dân) 460 g N-380 g P2O5-280 g
K2O) (công thức phân bón dựa theo quy trình của Bộ môn kỹ thuật canh
tác-VCAQMN có điều chỉnh lượng phân hữu cơ và kali) và 4 lần lặp lại. Tỷ
lệ chồi nhiễm bệnh CR (trên mỗi cây theo dõi 4 hướng, mỗi hướng chọn 1
cành cấp 3, đếm số chồi nhiễm trên tổng số chồi khảo sát tại mỗi hướng ở
các ngày lấy chỉ tiêu). Ghi nhận tỷ lệ chồi nhiễm bệnh CR; Mật số NLN
trên lá; Các yếu tố cấu thành năng suất.
c. Nghiên cứu thời điểm xử lý thuốc BVTV hợp lý trong quản lý
bệnh Chổi Rồng trên nhãn. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối hoàn
toàn ngẫu nhiên, gồm 5 nghiệm thức (NT1-NT5: 6-3 lần phun) với 4 lần
lặp lại, mỗi lần lặp lại là 1 cây nhãn. Ghi nhận mật số NLN trên lá; Tỷ lệ
nhiễm bệnh CR theo từng giai đoạn cây ra đọt non, ra hoa.
3.4.5.2. Biện pháp sinh học và dịch trích thảo mộc
a. Khảo nghiệm hiệu quả của dịch trích thảo mộc đến tỷ lệ chết của
nhện lông nhung
(i) Chọn lọc dịch trích có hiệu quả trong điều kiện phòng thí
nghiệm. Thí nghiê ̣m được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 7 nghiê ̣m thức
là dịch trích ớt đỏ, ớt xanh, củ gừng, rễ vạn thọ, củ hành, củ nghệ và thuốc
Prodife’s 6WDG) với 3 lầ n lă ̣p la ̣i, mỗi lần lặp lại là 1 cây nhãn con 2 tuần
tuổi. Tiến hành thí nghiệm bằng cách dùng cọ lông mịn thả 50 ấu trùng
NLN tuổi 2 trên đọt cây nhãn con để NLN ổn định trên đọt nhãn 2 giờ, rồi
phun các dịch thảo mộc và thuốc Emamectin benzoate lên tán lá. Hiệu lực
của thuốc được tính theo công thức Abbott (1925).
(ii) Chọn lọc nồng độ thích hợp của dịch trích củ hành, củ nghệ và
ớt xanh để phòng trừ nhện lông nhung ở điều kiện phòng thí nghiệm.

8


Paecilomyces sp. (1x109 bào tử/g); NT3: Nấm Metarhizium anisopliae (1x109
bào tử/g); NT4: Dịch trích củ hành (Allium sepa) (0,1%); NT5: Emamectin
benzoate (0,1%)) với 4 lầ n lă ̣p la ,̣i mỗi lần lặp lại là 2 cây nhãn.
c. Khảo nghiệm hiệu quả của các loại thuốc BVTV sinh học đối với
nhện lông nhung trên nhãn tại điều kiện ngoài vƣờn. Thí nghiê ̣m được
bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiê ̣m thức (các loại
thuốc BVTV được chọn làm thí nghiệm là các thuốc sinh học, thuộc nhóm
độc III, các hoạt chất này có khả năng diệt nhện) và 6 lầ n lă ̣p la ̣i , mỗi lần
lặp lại là 2 cây nhãn (theo TCN 522-2002).

9


3.4.5.3. Biện pháp hóa học. Thí nghiê ̣m được bố trí theo kiểu khối hoàn
toàn ngẫu nhiên với 13 nghiê ̣m thức (các loại thuốc BVTV được chọn làm
thí nghiệm là các thuốc hóa học ít độc thuộc nhóm độc III, các hoạt chất
này có khả năng diệt nhện) và 3 lầ n lă ̣p la ̣i , mỗi lần lặp lại là 2 cây nhãn
(theo TCN 522-2002).
3.4.5.4. Xây dựng quy trình và mô hình quản lý tổng hợp hiệu quả bệnh
Chổi Rồng trên nhãn. Từ kết quả đạt được của các thí nghiệm trên tiến
hành xây dựng quy trình và làm mô hình quản lý tổng hợp hiệu quả bệnh
CR trên nhãn.
a. Mô hình 1: Xã Dƣỡng Điềm của huyện Châu Thành (Tiền
Giang). Mô hình được bố trí trên vườn nhãn TDB 10 năm tuổi, nhiễm bệnh
CR 80% với diện tích 5.000 m2 được chia làm 2 lô. Lô thí nghiệm áp dụng
biện pháp quản lý bệnh CR theo quy trình quản lý bệnh, còn lô đối chứng
được thực hiện theo nông dân.
b. Mô hình 2: Xã Hiệp Đức của huyện Cai Lậy (Tiền Giang). Mô
hình được bố trí trên vườn nhãn TDB 15 năm tuổi, nhiễm bệnh CR 100%
với diện tích 4.000 m2 được chia làm 2 lô. Lô thí nghiệm áp dụng biện pháp

tượng phát huỳnh quang, xuất hiện các điểm nhỏ tập trung gần vách tế bào
trong các tế bào của mô dẫn, nhưng các điểm này không thấy trong cây
không có triệu chứng bệnh. Kết quả này cũng tương tự như DAPI nhuộm
trên cây Ugni molinae và Gaultheria phillyreifolia nhiễm bệnh CR
(Nolberto và ctv., 2013). Như vậy, phương pháp nhuộm DAPI chỉ ra rằng
bệnh CR trên nhãn có hiện diện của vi sinh vật.
b. Xác định tác nhân gây bệnh Chổi Rồng trên nhãn bằng phƣơng
pháp sinh học phân tử
(i) Giả thuyết tác nhân gây bệnh là phytoplasma
Bảng 4.9: Kết quả PCR/nested-PCR trên nhãn khi sử dụng các cặp mồi của
phytoplasma
Mồi (Primers)

P1/Tint
R16mF
2/R16
mR1

P1/P7

R16F2n/R16R2
R16F1/R16R0
R16(X)F1/R16(X)R1
16R758F/m23sR
R16(I)F1/R16(I)R1
R16(V)F1/R16(V)R1
f01/r02
fU5/rU3
M1/M2
NPA2F/R

1097 bp
1187
550
1248 bp

11

Kết quả nested-PCR và kích thước
đoạn DNA khuyếch đại
CR nhãn
Nhãn Đối chứng
sạch
dương
+
-

-

NA
NA
NA
NA
NA
+
+
+
+

+ (˜ 950 bp)


phẩm có kích thước khoảng 950 bp và không có từ mẫu nhãn sạch. Khi giải
trình tự theo quy trình của Công ty Hóa Sinh và so sánh chuỗi ký tự trên ngân
hàng gen NCBI, kết quả đọc trình tự gen của các mẫu nhãn nhiễm bệnh CR
cho thấy tất cả các sản phẩm đều có chất lượng tốt và có chiều dài 950 bp,
trong khi mẫu mía nhiễm bệnh chồi cỏ có kích thước khoảng 1200 bp.
Phân tích cây phả hệ cho thấy mẫu nhãn nhiễm bệnh CR nằm gần với
nhóm vi khuẩn không thể nuôi cấy trên môi trường nhân tạo proteobacteria
thuộc nhóm phụ gramma. Phytoplasma, tác nhân gây bệnh chồi cỏ mía,
tách thành một nhóm riêng biệt trên cây phát sinh loài. Điều này cho thấy
chưa phát hiện được sự hiện diện của phytoplasma trên mẫu nhãn nhiễm
bệnh CR, phù hợp với kết quả của Sdoodee và ctv. (1999). Tuy nhiên, theo
kết quả của Thuy và ctv. (2012), khi sử dụng 2 cặp mồi R16mR2/R16mR1
và R16(V)F1/R16(V)R1, cho kết quả dương tính của mẫu nhãn nhiễm bệnh
CR, nên các tác giả này bước đầu ghi nhận tác nhân của bệnh CR là do
phytoplasma nhóm phụ V. Mặc dù vậy, tác giả không thực hiện PCR trên
mẫu nhãn sạch bệnh để đối chứng và kết quả cũng chưa được lặp lại, nên
kết quả này cần được chứng minh bệnh bằng dịch tể học.
Chụp ảnh dưới kính hiển vi điện tử của lát cắt siêu mỏng của mẫu nhãn
nhiễm bệnh CR đã không tìm thấy sự hiện diện của phytoplasma ở bất kỳ
hình dạng nào, trong khi cũng với phương pháp này ảnh chụp phytoplasma
gây bệnh trên bắp cho hình ảnh rất rõ (Trần Thị Thanh Bình và ctv., 2011).
Chen và ctv. (1989) và Nguyễn Văn Hòa và ctv. (2008) cho biết khi sử
dụng kháng sinh Oxytetracylin 10% đã không hiệu quả trong việc điều trị
bệnh CR trên nhãn. Đồng thời, khảo sát ở điều kiện ngoài vườn nhãn cho
thấy bệnh CR xuất hiện không theo hệ thống mạch dẫn như: trên cùng một
cây bệnh chỉ có một vài cành thể hiện triệu chứng, ngay cả trên cùng một
cành chỉ một số chồi non thể hiện triệu chứng, thậm chí trên một lá kép chỉ

12


+
-/+
+
3
27F/1525R
1500
+
-/+
+
4
395F/817R
500
+
-/+
+
5
G1/L1
600
6
P8FPL/P806R
1500
7
UNI-OL/UNI-OR
739
8
UNI-IL/UNI-IR
319
9
395F/1492R
1000

CR nằm cùng nhóm với vi khuẩn thuộc nhóm phụ Grammaproteobacterium. Điều này cho thấy sự không trùng khớp giữa các kết quả,
nên chưa có thể khẳng định vi khuẩn là tác nhân gây bệnh CR. Ngoài ra
trình tự của mẫu nhãn nhiễm bệnh CR còn tương tự với trình tự lạp thể (lục
lạp-chloroplast) của cây. Kết quả này cũng tương tự với Sagaram và ctv.
(2009) đã cho rằng các cặp mồi này có thể bắt cặp với vùng 16Sr RNA
chloroplast của cây. Tóm lại, kết quả này cũng chưa phát hiện được sự hiện
diện của vi khuẩn trong mẫu nhãn nhiễm bệnh CR.
(iii) Giả thuyết tác nhân gây bệnh Chổi Rồng trên nhãn là vi rút.
Trong nghiên cứu này, các cặp đoạn mồi chung cho một số nhóm vi rút
(Bảng 4.11) được sử dụng để kiểm tra sự hiện diện của vi rút trong mẫu
lá/chồi nhãn nhiễm bệnh CR. Kết quả cho thấy không có bất cứ sản phẩm
DNA/RNA nào được ly trích từ mẫu lá/chồi nhãn nhiễm bệnh CR được
khuyếch đại từ phản ứng PCR/RT-PCR đối với 11 cặp mồi sử dụng cho
từng nhóm vi rút khác nhau.
Bảng 4.11: Kết quả PCR/RT-PCR trên nhãn khi sử dụng các cặp mồi của các nhóm Potyvirus,
Closterovirus, Tobamovirus, Emaravirus, Begomovirus và Babuvirus
Stt
Mồi
Loài/nhóm
Kết quả PCR/RT-PCR
vi rút
Nhãn
Nhãn
Đối chứng
bệnh
sạch
dương
1
Nib2-F/Nib3-R
EAPV/Potyvirus

Tymorep-F/Tymorep-R
Tymorvirus
NA
10 Begomo-F/Begomo-R
PLCV/Begomovirus
+
11 BBTV-R/VBBTV-F
BBTV/Babuvirus
+
Ghi chú: +: kết quả dương tính; -: kết quả âm tính; NA: không áp dụng; EAPV: East Asian
passiflora virus (trên chanh dây); CTV: Citrus Tristeza virus (trên cam sành); CMV: Cucumber
mosaic virus (trên chuối); PLCV: Papaya leaf curl virus (trên chanh dây); BBTV: Banana
bunchy top virus (trên chuối

c. Quan sát sự hiện diện của tác nhân gây bệnh Chổi Rồng trong lát
cắt siêu mỏng của mẫu nhãn dƣới kính hiển vi điện tử. Kính hiển vi
điện tử được dùng để quan sát lát cắt siêu mỏng của mẫu nhãn nhiễm bệnh
CR và mẫu nhãn sạch bệnh ở độ phóng đại 40.000-100.000 lần. Sau 4 lần
lặp lại với tổng số 20 mẫu nhãn nhiễm bệnh (200 lát cắt) và 10 mẫu nhãn
sạch bệnh (100 lát cắt), vật thể giống như dạng bó sợi được quan sát và ghi
nhận rải rác trong các lát cắt siêu mỏng của mẫu nhãn nhiễm bệnh có tỷ lệ

14


69% với trung bình số lượng vật thể là 2,5 vật thể/lát cắt với chiều dài từ
385-1860 nm và đường kính từ 393-472 nm. Ngược lại, cấu trúc hình bó
sợi như trên không được tìm thấy trong các mẫu nhãn sạch bệnh. Kết quả
này cũng tương tự với So và Zee (1972) đã phát hiện có tinh thể vi rút hình
sợi đường kính 12 nm và dài 1000 nm.


15


nhãn con ở nghiệm thức lây nhiễm bằng NLN nhiễm bệnh bị nhiễm bệnh
CR với tỉ lệ 100% sau 10 tháng theo dõi. Vì vậy, NLN chính là tác nhân
truyền bệnh CR trên nhãn.
b. Xác định cách truyền bệnh Chổi Rồng bằng phƣơng pháp ghép. Kết
quả thí nghiệm cho thấy vào 6 tháng sau khi ghép ở nghiệm thức 1 (Ghép mắt:
Gốc ghép sạch bệnh, mắt ghép nhiễm bệnh) thì tỷ lệ bệnh ở mắt ghép là
96,9±6,3% trong khi gốc ghép vẫn không xuất hiện triệu chứng bệnh CR. Ở
nghiệm thức 2 (Ghép mắt: Gốc ghép nhiễm bệnh, mắt ghép sạch bệnh) thì trên
gốc ghép có tỷ lệ nhiễm bệnh 18,8±37,5%, giảm hơn so với các tháng trước là
do các chồi non mới ra có chồi không thể hiện triệu chứng CR, còn ở mắt ghép
thì vẫn không nhiễm bệnh CR ở các cây nhãn thí nghiệm. Ở nghiệm thức 3
(Ghép áp: Cây sạch bệnh ghép trên cây nhiễm bệnh) thì vẫn không có biểu
hiện của triệu chứng CR trên cây sạch bệnh, trong khi trên cây nhiễm bệnh tỷ
lệ bệnh ở gốc ghép là 100% và đọt ghép có tỷ lệ nhiễm 25,4±10,3%. Ở nghiệm
thức (Đối chứng 1: Cây sạch bệnh) không có triệu chứng bệnh CR trên cây
nhãn con. Ở nghiệm thức 5 (Đối chứng 2: Cây nhiễm bệnh) thì có tỷ lệ chồi
nhiễm bệnh là 66,4±7,3%. Kết quả này cho thấy bệnh CR có thể không có khả
năng lưu truyền qua mắt ghép trong nghiệm thức 1, 2 và 3, bệnh không mang
tính hệ thống mà chỉ mang tính cục bộ. Vũ Triệu Mân (2010) cho rằng bệnh do
vi rút gây hại cũng được xếp vào 2 nhóm là bệnh cục bộ và bệnh hệ thống, nên
bệnh CR có thể chỉ lưu truyền từ trên xuống dưới là chủ yếu (hiện diện chủ yếu
trong mô libe). Như vậy, qua kết quả thí nghiệm ghép cho thấy bệnh CR trên
nhãn không có khả năng lưu truyền qua mắt ghép, bệnh CR không mang tính
hệ thống mà chỉ mang tính cục bộ.
c. Hàm lƣợng các chất điều hoà sinh trƣởng trong cây nhãn bệnh và
sạch bệnh. Qua phân tích cho thấy hàm lượng Polyphenol trong mẫu nhãn

kính trung bình 19,46±0,12 µm, lúc mới đẻ có hình giọt nước màu trắng
trong, sau đó chuyển sang màu trắng đục và tròn lại cho đến khi trứng nở.
(2) Ấu trùng có 2 tuổi: (a) tuổi 1 màu trắng trong, thân mình bầu tròn, có 2
cặp chân, phần đầu nhỏ, ngắn; phần lưng không có lông, phần bụng có 3
cặp tua dài; trung bình chiều dài giai đoạn đầu của tuổi 1 là 33,91±0,07 µm
và giai đoạn cuối của ấu trùng tuổi 1 là 62,35±6,18 µm; (b) tuổi 2 ít khác
biệt so với ấu trùng tuổi 1, có màu trắng trong, thân mình thon dài về phía
đuôi và hơi cong, có 2 râu đầu; cơ thể ấu trùng tuổi 2 có nhiều vòng bụng
và có 2 cặp chân; trung bình chiều dài giai đoạn đầu của tuổi 2 là
69,93±0,52 µm và giai đoạn cuối của ấu trùng tuổi 2 là 97,65±11,78 µm.
(3) Trƣởng thành đực có kích thước nhỏ hơn con cái, có chiều dài cơ thể
trung bình là 81,23±0,31 µm, phần rộng nhất của cơ thể trung bình là
25,55±0,20 µm, màu trắng trong và có nhiều lông dài xung quanh cơ thể;
đầu giả phía trước nhỏ hơn so với cơ thể, khiên lưng không có ngấn trán, có
2 lông khiên 2 bên, phía trên đầu lõm 2 bên và có 2 rãnh ở giữa đầu; chiều
dài cơ thể trung bình là 120,00±8,43 µm và phần rộng nhất của cơ thể trung
bình là 40,00±0,86 µm với các vòng lưng bụng gần bằng nhau; lông sc nằm
trên khiên lưng, lông c2, lông d, lông e hiện diện, không có lông h1. (4)
Nhện trƣởng thành cái có 2 cặp chân ở phía trước, dài khoảng 17,70 µm,
bàn chân có 5 đốt (đốt chuyển, đốt đùi, đốt đầu gối, đốt ống và đốt bàn
chân); có lông đầu gối (ags) gắn vào đốt đầu gối, có lông đốt bàn chân
(tase) gắn vào đốt bàn chân và lông vuốt bàn chân (taso) gắn vào vuốt bàn
chân và vuốt bàn chân có 5 tia với cấu trúc đơn giản; nhện có 2 lông đuôi
dài (Hình 4.21).

17


Các kết quả này cho phép xác nhận đây là loài Eriophyes dimocarpi
Kuang (Acari: Eriophyidae) với các đặc điểm phân biệt chính như vuốt bàn

a. Ảnh hƣởng của nhiệt độ đến sự gia tăng quần thể của nhện lông
nhung. Kết quả thí nghiệm cho thấy sự gia tăng quần thể của NLN cao ở
nhiệt độ 20-350C khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức ở nhiệt
độ 100C ở các thời điểm 3 đến 28 ngày sau bố trí.
b. Sự phân bố tự nhiên của nhện lông nhung trên cây nhãn. Kết quả
khảo sát cho thấy rằng mật số của NLN phân bố theo 4 hướng khác nhau
trên cây nhãn không khác biệt về ý nghĩa thống kê. Mật số NLN phân bố
không khác nhau theo các hướng trên cây nhãn ở cả mùa nắng và mùa mưa.

18


Nhện phân bố trên đọt non, lá thành thục chưa hoàn chỉnh, lá thành thục
hoàn chỉnh nhiều hơn trên lá non.
c. Diễn biến mật số của nhện lông nhung trên nhãn Tiêu da bò. Diễn
biến mật số của NLN E. dimocarpi trên nhãn TDB cho thấy mật số NLN khác
nhau giữa các tháng trong năm: cao từ tháng 1 đến 5 dương lịch và rất thấp từ
tháng 6 đến 10 dương lịch, sau đó tăng dần từ tháng 11 đến 12 dương lịch.
d. Khả năng phát tán của nhện lông nhung trên cây nhãn. Kết quả
điều tra và khảo sát cho thấy NLN không hiện diện trên cơ thể của ong dại
Apis dorsata, ong mật A. mellifera, nhưng có trên cơ thể của bọ xít nhãn
Tessaratoma sp. và có khả năng tự phát tán trên cây nhãn.
e. Cây ký chủ của nhện lông nhung tại ĐBSCL. Kết quả cho thấy E.
dimocarpi xuất hiện và gây hại trên 3 chủng loại cây trồng là nhãn
Dimocarpus longan, chôm chôm Nephelium lappaceum và khoai mì
Manihot esculenta. Trên cây nhãn, NLN hiện diện rất phổ biến (đặc biệt là
trên giống TDB), còn trên cây chôm chôm thì phổ biến, và ít phổ biến trên
cây khoai mì ở các vườn khảo sát tại các tỉnh ĐBSCL.
f. Thành phần thiên địch của nhện lông nhung trên nhãn tại ĐBSCL.
Kết quả khảo sát cho thấy loài nhện Amblyseius sp. (Acari: Phytosiidae) và

vàng, Long và Super chưa nhiễm CR sau 11 tháng bố trí thí nghiệm, nên
được đánh giá là có tính “kháng cao” đối với bệnh CR. Kế đến là các giống
nhãn Sài Gòn, Giồng và nhãn lai NL1-23 có tỷ lệ nhiễm bệnh thấp nên
được đánh giá là giống có tính “kháng trung bình”, trong khi các giống
nhãn Xuồng cơm trắng, Cùi, Lồng Hưng Yên và nhãn lai NL1-19 thì có
tính “nhiễm trung bình”, còn nhãn Vũng Tàu, Edor và Thạch Kiệt được
đánh giá là có tính “Nhiễm”. Giống nhãn TDB vẫn có tỷ lệ nhiễm bệnh cao
nhất và được đánh giá là giống “nhiễm nặng” đối với bệnh CR trong điều
kiện ngoài vườn. Như vậy, các giống nhãn được trồng tại các tỉnh ĐBSCL,
các giống nhãn sưu tập và các giống nhãn lai cho thấy có sự khác biệt về
tính chống chịu/mẫn cảm giữa các giống với bệnh CR. Giống nhãn Xuồng
cơm vàng, nhãn Long, nhãn Super có tính “kháng cao” với bệnh CR.
4.5. Các biện pháp quản lý tổng hợp nhện lông nhung và bệnh Chổi
Rồng trên nhãn
4.5.1. Biện pháp canh tác
a. Hiệu quả của việc tỉa cành ở các mức độ khác nhau đối với quản lý
bệnh Chổi Rồng trên nhãn. Kết quả cho thấy cắt tỉa cành sau thu hoạch ở độ
sâu 35-40 cm góp phần giảm tỷ lệ nhiễm bệnh CR trên cây nhãn.
b. Hiệu quả của các mức phân bón đối với quản lý bệnh Chổi Rồng
trên cây nhãn. Kết quả cho thấy khi bổ sung gấp đôi lượng phân K2O và phân
hữu cơ 5 kg/cây hay bổ sung phân hữu cơ 10 kg/cây (nghiệm thức 2) có khả
năng giảm tỷ lệ nhiễm bệnh CR trên cây nhãn so với đối chứng của nông dân
không có bổ sung phân hữu cơ và hàm lượng phân K2O thấp.
Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của cây nhãn thí
nghiệm. Mức phân bón ở nghiệm thức 2 (480g N-240gP2O5480gK2O+10kgHC) có tỷ lệ chồi nhiễm CR thấp nhất, do đó năng suất lý
thuyết và năng suất thực tế ở nghiệm thức 2 đạt cao nhất, nên có thể sử
dụng liều lượng phân bón này cho cây nhãn.
c. Thời điểm xử lý thuốc BVTV hợp lý trong quản lý bệnh Chổi Rồng
trên nhãn. Kết quả trình bày ở Bảng 4.38 cho thấy tỷ lệ nhiễm bệnh CR
tăng dần khi thời điểm xử lý thuốc bảo vệ thực vật giảm dần. Do đó, nông

3
NT3 (4 lần phun/vụ) 52,55
3,95
10,35
14,74
15,13b
a
a
4
NT4 (3 lần phun/vụ) 51,49
3,34
14,62
20,74
21,24ab
5
NT5 (2 lần phun/vụ) 47,51
3,92
15,58a
23,68a
26,37a
Mức ý nghĩa
ns
ns
**
**
**
CV (%)
16,71
28,32
18,64


21


4.5.4. Xây dựng quy trình và mô hình quản lý tổng hợp hiệu quả bệnh
Chổ i Rồ ng trên nhãn
a. Quy trình quản lý tổng hợp bệnh Chổi Rồng trên nhãn. Từ kết
quả của các thí nghiệm đã thực hiện ở trên, đề tài đã xây dựng được một
quy trình quản lý tổng hợp bệnh CR trên nhãn có hiệu quả.
b. Mô hình quản lý tổng hợp bệnh Chổi Rồng trên nhãn
(i) Mô hình 1: Tại xã Dƣỡng Điềm-huyện Châu Thành-tỉnh Tiền
Giang. Kết quả ở Bảng 4.57 cho thấy rằng tỷ lệ nhiễm bệnh CR của mô
hình ở thời điểm trước xử lý và các thời điểm cơi đọt non thứ nhất và cơi
đọt non thứ 2 khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê với lô đối chứng.
Đến thời điểm tháng 6 dương lịch, cây sang giai đoạn cơi đọt 3, ở lô mô
hình có kiểm soát NLN kết hợp biện pháp cắt tỉa, tỷ lệ nhiễm bệnh CR tăng
rất ít (18,05%), khác biệt rất có ý nghĩa về mặt thống kê so với lô đối chứng
(53,89%). Đến thời điểm cây ra hoa, tỷ lệ nhiễm bệnh CR trên mô hình rất
thấp (8,94%), khác biệt rất có ý nghĩa về mặt thống kê so với lô đối chứng
(75,73%). Tỷ lệ cây ra hoa trên mô hình đạt 95%.
Bảng 4.17: Tỷ lệ nhiễm bệnh CR trên các giai đoạn sinh trưởng của cây nhãn ở mô hình 1 tại
huyện Châu Thành-tỉnh Tiền Giang, 2012-2013
Nghiệm thức
Tỷ lệ nhiễm (%) vào các giai đoạn sinh trưởng của cây
TXL
Cơi 1
Cơi 2
Cơi 3
Ra hoa
Lô mô hình

TXL
Cơi 1
Cơi 2
Ra hoa
Đậu trái
Lô mô hình
77,34
8,47
14,75
21,58
24,43
Lô đối chứng
81,80
32,69
53,00
63,71
70,80
Mức ý nghĩa
Ns
**
**
**
**
±4,46
±24,22
±38,25
±42,13
±45,58
T tính
Ghi chú: TXL: trước xử lý; ns: khác biệt không có ý nghĩa; **: khác biệt thống kê ở mức 1%

và lô đối chứng tại mô hình 1 cho thấy rằng tỉ suất lợi nhuận của lô mô hình
đạt 6,69 lần, cao hơn so với lô đối chứng (2,07 lần) (Bảng 4.63). Tương tự,
ở mô hình 2 cho thấy tỉ suất lợi nhuận của lô mô hình đạt 6,73 lần, nhưng
lại thấp hơn so với lô đối chứng (8,26 lần). Còn ở mô hình 3 tỉ suất lợi
nhuận của lô mô hình đạt 4,61 lần, cao hơn so với lô đối chứng (-1 lần).
Bảng 4.63: Hiệu quả đầu tư của 3 mô hình quản lý bệnh CR trên nhãn tại tỉnh Tiền Giang (quy ra 1
ha, giá bán 20.000 đ/kg)
Mô hình
Chi phí sản
Năng suất
Thu nhập
Lợi nhuận
Tỷ suất
xuất (1000đ)
(kg/ha)
(1000đ/ha) (1000đ/ha) lợi nhuận
(lần)
1 Lô mô hình
31.110
11.956
239.120
208.010
6,69
Lô đối chứng
21.500
3.302
66.040
44.540
2,07
2 Lô mô hình



cường phân hữu cơ cho cây nhãn. Ngoài ra, có thể ứng dụng biện pháp sinh
học như sử dụng dịch trích củ hành ở nồng độ 0,1% và nấm Paecilomyces
sp. 1x109 bào tử/g trong điều kiện mùa mưa trong công tác quản lý bệnh CR
trên nhãn.
Chƣơng 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
5.1. Kết luận
Chẩn đoán tác nhân gây bệnh CR bằng phương pháp PCR, nested-PCR
và RT-PCR trên mẫu nhãn nhiễm bệnh và kết quả giải trình tự cho thấy
chưa phát hiện có sự hiện diện chắc chắn của phytoplasma, vi khuẩn hay vi
rút. Quan sát lát cắt siêu mỏng của mẫu nhãn bệnh cho thấy có hiện diện rải
rác của một dạng giống như bó sợi của nhóm vi rút hình sợi.
Mặc dù chưa xác định được tác nhân gây bệnh nhưng kết quả nghiên
cứu vai trò của NLN đã cho thấy NLN là tác nhân truyền bệnh CR trên
nhãn. Bệnh không lưu truyền qua mắt ghép và không lan truyền qua hạt.
Khảo sát đặc điểm hình thái và sinh học đã xác định được NLN trên nhãn là
loài Eriophyes dimocarpi (Acari: Eriophyidae). Nhện xuất hiện và gây hại
trên 3 chủng loại cây trồng là nhãn Dimocarpus longan, chôm chôm
Nephelium lappaceum và khoai mì Manihot esculenta. Nhện Amblyseius
sp. (Acari: Phytosiidae) và ấu trùng của muỗi Arthrocnodax sp. (Diptera:
Cecidormyiidae) được ghi nhận là hai loài thiên địch của E. dimocarpi.
Về khả năng chống chịu bệnh CR của các giống nhãn, giống nhãn TDB
được đánh giá là có tính “nhiễm nặng”, kế đến là các giống nhãn Edor,
Vũng Tàu và Thạch kiệt được đánh giá là “nhiễm”, tiếp theo là các giống
nhãn Xuồng cơm trắng, Cùi, Lồng Hưng Yên và nhãn lai NL1-19 được
đánh giá là “nhiễm trung bình”, các giống nhãn Giồng, Sài Gòn và nhãn lai
NL1-23 được đánh giá là có tính “kháng trung bình”, giống nhãn Xuồng
cơm vàng, Long và Super chưa thể hiện triệu chứng bệnh CR ở điều kiện
ngoài vườn sau 11 tháng thí nghiệm.

(mô hình 2) và 10.120 kg/ha (mô hình 3) cao hơn so với lô đối chứng đạt
tương ứng là 3.302 kg/ha (mô hình 1), 5.498 kg/ha (mô hình 2) và không
cho năng suất ở mô hình 3. Do đó lợi nhuận đạt được của lô mô hình là
208,01 triệu đồng/ha ở mô hình 1, 248,91 triệu đồng/ha ở mô hình 2 và
166,33 triệu đồng/ha ở mô hình 3 cao hơn so với lô đối chứng đạt lần lượt
là 44,54 triệu đồng/ha ở mô hình 1, 98,08 triệu đồng/ha ở mô hình 2 và lỗ
18,50 triệu đồng/ha ở mô hình 3.
5.2. Đề nghị
Chọn các giống nhãn ít mẫn cảm với bệnh CR như giống Xuồng cơm
vàng và nhãn lai NL1-23 để thay thế một số vùng trồng nhãn TDB bị nhiễm
bệnh rất nặng. Chọn các giống nhãn Xuồng cơm vàng, nhãn Long và nhãn
Super để làm vật liệu lai tạo ra giống nhãn mới chống chịu tốt với bệnh CR,
có năng suất và chất lượng cao phục vụ sản xuất.
Áp dụng quy trình quản lý tổng hợp bệnh CR vào các giống nhãn được
trồng phổ biến tại các tỉnh ĐBSCL như giống nhãn TDB, Edor, Thạch kiệt...
Tiếp tục nghiên cứu về tác nhân gây bệnh CR trên nhãn qua sự tiếp tục
tăng cường trao đổi, hợp tác quốc tế, tranh thủ sự hỗ trợ của các nước phát
triển về công nghệ và nhân lực như Anh, Mỹ,...

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status