VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THÙY DUNG
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG
PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH
(Nghiên cứu trường hợp huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI, 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THÙY DUNG
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG
PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH
(Nghiên cứu trường hợp tại huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM TẤT THẮNG
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 7 năm 2016
Học viên
Nguyễn Thị Thùy Dung
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ............... 17
1.1. Các khái niệm công cụ....................................................................... 17
1.2. Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu .......................................... 20
1.3 Cơ sở thực tiễn ...........................................................................................26
1.4. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu ............................................................ 32
Chương 2.THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT
TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI 38
2.1. Thực trạng vai trò phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế huyện
Chương Mỹ ............................................................................................... 38
2.2 Thực trạng vai trò phụ nữ tham gia phát triển kinh tế hộ ................... 48
Chương 3. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH ................................... 65
3.1. Đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước và của huyện Chương Mỹ 69
3.2. Nhận thức mang tính định kiến về giới ............................................. 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 79
PHỤ LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
HGĐ
Hộ gia đình
6
KHKT
Khoa học kỹ thuật
7
LLLĐ
Lực lượng lao động
8
LHPN
Liên hiệp phụ nữ
9
MTTQ
Mặt trận tổ quốc
Là dự án của FAO, thực hiện các cuộc
Bảng 2.10 : Nguồn tiếp cận thông tin của phụ nữ .......................................... 56
Bảng 2.11: Cơ cấu trình độ học vấn của phụ nữ ............................................. 58
Bảng 2.12 : Thời gian của phụ nữ trong công việc gia đình ........................... 63
Bảng 3.1: Số lượng phụ nữ quy hoạch nhiệm kì 2011 - 2016 ....................... 67
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Hình 1.1: Bản đồ hành chính huyện Chương Mỹ năm 2015 ......................... 33
Biểu đồ 2.1 :Tình hình sử dụng quỹ thời gian của phụ nữ tại vùng nghiên cứu.55
Biểu đồ 2.2 : Tỷ lệ nam, nữ tham gia các lớp tập huấn nâng cao kiến thức ...... 60
Biểu đồ 3.1 : Dự định đi học nghề của phụ nữ .............................................. 71
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phụ nữ có vai trò quan trọng trong lực lượng lao động xã hội. Bằng lao
động sáng tạo của mình, họ đã góp phần làm giàu cho xã hội, làm phong phú
cuộc sống con người. Phụ nữ luôn thể hiện vai trò của mình trong các lĩnh
vực đời sống xã hội, cụ thể là trong lĩnh vực hoạt động vật chất phụ nữ là một
lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người. Không chỉ sản
xuất ra của cải vật chất mà phụ nữ còn tái sản xuất ra con người để duy trì và
phát triển xã hội. Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần phụ nữ có vai trò sáng
tạo nền văn hóa nhân loại. Nền văn hóa dân gian của bất cứ nước nào cũng có
sự tham gia bằng nhiều hình thức của phụ nữ.
Ở Việt Nam phụ nữ chiếm trên 50% dân số cả nước, họ tham gia vào tất
cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng và ngày
càng thể hiện vị trí và vai trò của mình trong xã hội. Trong suốt chặng đường
đấu tranh dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước, lịch sử Việt Nam đã ghi
nhận những cống hiến to lớn của phụ nữ. Trong công cuộc đổi mới đất nước
họ luôn giữ gìn, phát huy và nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết, năng động,
nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn nói chung và các vùng miền núi
nói riêng. Ngoài ra, các nghiên cứu cũng đã chỉ ra những thuận lợi, khó khăn
của phụ nữ nông thôn trong việc thực hiện vai trò sản xuất, đặc biệt là những
khó khăn trong tiếp cận các nguồn lực.
Báo cáo đánh giá tình hình giới năm 2010 của Word Bank cho rằng tại
khu vực nông thôn tỷ lệ phụ nữ tham gia sản xuất trong các lĩnh vực nông
nghiệp cao hơn nam giới, và phụ nữ cũng thoát ra khỏi các hoạt động sản xuất
nông nghiệp chậm hơn nam giới.
Nghiên cứu vai trò kinh tế của người phụ nữ trong gia đình nông thôn
Việt Nam hiện nay của Đặng Thị Ánh Tuyết (2002) tập trung nhận diện và
phân tích vai trò kinh tế của phụ nữ trong gia đình nông thôn qua phân công
lao động nam - nữ trong hoạt động kinh tế hộ gia đình, vai trò của phụ nữ
2
trong việc tạo thu nhập và quản lý chi tiêu, vấn đề nâng cao trình độ chuyên
môn và hiểu biết xã hội của phụ nữ nông thôn. Tác giả chỉ ra những yếu tố
khách quan và chủ quan tác động đến quá trình thực hiện vai trò kinh tế của
họ, từ đó rút ra những khuyến nghị cần thiết góp phần nâng cao địa vị người
phụ nữ trong sự nghiệp đổi mới, phát triển nông thôn.
Một số nghiên cứu đã chỉ ra vai trò quan trọng của phụ nữ nông thôn
trong sản xuất và công việc nội trợ. Phụ nữ đã thực hiện nhiều hoạt động sản
xuất và đã đóng góp đáng kể đến thu nhập gia đình. Họ không chỉ tham gia và
công việc sản xuất mà còn cả làm các công việc nội trợ. Vì vậy, vai trò nhân
đôi của họ rất nặng nhọc (Đỗ Thị Bình và Lê Ngọc Lân, 1996). Một cuộc
khảo sát ở đồng bằng sông Cửu Long đã chỉ ra rằng phụ nữ đã đóng góp 72%
công việc sản xuất nông nghiệp và 82% cho công việc nội trợ. Phụ nữ cũng
đảm nhiệm hầu hết công việc trồng trọt, chăn nuôi, phụ nữ có mặt ở tất cả các
khâu trong quá trình sản xuất nông nghiệp: chăm sóc cây lúa, tưới tiêu đồng
ruộng, gặt hái, phơi thóc lúa, xay giã gạo … hoặc trong những loại hình lao
nguyên đất và rừng. Phụ nữ còn là người quản lý thu nhập gia đình, vốn vay tốt
hơn nam giới, thanh toán tiền lãi ngân hàng đúng hạn. Trong công cuộc xóa đói
giảm nghèo tại địa phương có một phần đóng góp đáng kể của chị em phụ nữ
người Dao với hoạt động kinh tế nông nghiệp (Nguyễn Thị Lân, 2006). Một số
nghiên cứu phân tích các yếu tố cản trợ sự tham gia của nông dân nam và nữ
người dân tộc thiểu số trong các hoạt động khuyến nông; tài liệu hóa các kinh
nghiệm từ các chương trình và dự án liên quan đến dân tộc và bình đẳng giới
trong khuyến nông; đề xuất các thay đổi về chính sách, thực tiễn, ý tưởng và
niềm tin cho các nhà hoạch định chính sách và người làm thực tiễn khuyến
nông về lồng ghép giới và đa dạng dân tộc trong khuyến nông (Hoàng Xuân
Thành, Lê Thị Quý, Ngô Văn Hải, 2004).
Phụ nữ cũng gặp phải những khó khăn, trở ngại trong công việc sản
xuất kinh doanh cụ thể cũng như trong sự phát triển các ngành nghề ở khu
4
vực nông thôn như: dựa vào nguồn tài nguyên bản địa, quy mô hoạt động nhỏ,
vốn ít và lãi xuất không cao, không có sự trợ giúp từ phía Nhà nước … Dựa
trên những phân tích cụ thể, dẫn chứng thực tiễn, tác giả đã đề xuất những hỗ
trợ cần thiết cho phụ nữ trong phát triển kinh doanh, sản xuất ở nông thôn,
nhằm phát huy được thế mạnh để sản xuất kinh đoanh một cách có hiệu quả,
tăng cường phúc lợi cho gia đình và nâng cao vai trò, vị thế phụ nữ nông thôn
(Lê Thị Nhâm Tuyết, 2006).
Một số nghiên cứu khác đã đề cập đến việc tiếp cận nguồn lực của
những gia đình có nữ làm chủ hộ đối với các nguồn tín dụng, nguồn tài
nguyên đất (Báo cáo nguồn lực đảm bảo bền vững cuộc sống gia đình nữ chủ
hộ, Bộ NN&PTNT, 2002). Mô tả được sự sôi động của phụ nữ trong việc
tham gia vào các hoạt động tín dụng, tiết kiệm tại địa phương, những yếu tố
tác động và khó khăn, thuận lợi của phụ nữ khi tham gia chương trình này (Bộ
NN&PTNT, 1998).
nghiên cứu chủ yếu tập trung tìm hiểu vai trò, vị thế của phụ nữ trong các cơ
quan Đảng, cơ quan dân cử, cơ quan quyền lực Nhà nước, cơ quan quản lý
nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội và sự tham gia của phụ nữ trong việc
thực hiện quy chế dân chủ cơ sở … (Lê Phương Thành, 2002; Nguyễn
Phương Thảo, 1999; Lê thị Vinh Thi, 2002; Trung tâm Nghiên cứu khoa học
lao động nữ thuộc Viện Khoa học lao động và các vấn đề xã hội, 1997; Ngô
Thị Tuấn Dung và cộng sự, 2010).
Một số nghiên cứu quan tâm đến sự tham gia của phụ nữ trong các tổ
chức đoàn thể, chính trị xã hội mà chủ yếu là Hội LHPN Việt Nam và Đoàn
Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Các nghiên cứu của cho thấy, phụ nữ là
lực lượng nòng cốt trong nhiều đoàn thể cũng như tham gia ban lãnh đạo của
những đoàn thể (Phạm Ngọc Anh, 2003; Nguyễn Đức Hạt, 2007; Nguyễn
Phương Thảo, 1999; Ngân hàng phát triển châu Á, 2002).
Các nghiên cứu, báo cáo đánh giá đã chỉ ra rằng: phụ nữ ngày càng thể
hiện vai trò quan trọng của mình trong nhiều lĩnh vực xã hội, chẳng hạn như
6
trong tiếp cận nguồn nước sạch và các công trình thủy lợi ở nông thôn. Mặc dù
phụ nữ và nam giới ở nông thôn có những vai trò khác nhau trong việc quản lý
cung cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường cũng như quản lý khai thác và
bảo vệ các hệ thống thủy nông (Như việc phân công các hoạt động cụ thể có
khác nhau) nhưng trong Chiến lược Quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh
môi trường nông thôn đã khẳng định vai trò quan trọng của phụ nữ trong việc
quản lý, duy trì nguồn nước sạch, các điều kiện vệ sinh và sức khỏe của gia đình
(Bộ NN&PTNT, 2008). Bởi lẽ chính phụ nữ là người có vai trò quan trọng trong
việc sản xuất nông nghiệp (nhu cầu về nước), trực tiếp tham gia sản xuất nên họ
xứng đáng là người được hưởng lợi và tham gia như là chủ thể trong thực hiện
và triển khai các dự án, chương trình phát triển. Thực tiễn đã chứng minh phụ nữ
đã tích cực tham gia vào quá trình xây dựng dự án, lập kế hoạch, giám sát và
biến và tiếp thị sản phẩm.
Sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng với nữ giới, tuy nhiên
khả năng tiếp cận các nguồn lực và dịch vụ sản xuất của nữ giới như đất đai,
chăn nuôi, nguồn nhân lực, dịch vụ khuyến nông, dịch vụ tài chính và các
công nghệ tiên tiến bị hạn chế hơn so với nam giới. Đầu tiên tăng cường việc
tiếp cận của nữ giới đến tài nguyên đất thông qua việc tăng cường vị thế và
ảnh hưởng của nữ giới trong các hộ gia đình có tác động tích cực đối với việc
cải thiện phúc lợi của HGĐ. Ở hầu hết các nước đang phát triển , nữ giới ít có
khả năng tiếp cận tới quyền sở hữu đất cũng như với đất thuê. Họ thường làm
việc trong những lô đất nhỏ hơn so với nam giới. Thứ hai chăn nuôi là một
lĩnh vực quan trọng ở nông thôn. Ở nhiều nước chăn nuôi được xem như tài
sản nông nghiệp có giá trị và là nguồn thu nhập chính. Qua khảo sát cho thấy,
các hộ gia đình có nam giới là chủ hộ có cổ phần chăn nuôi trung bình lớn
hơn các hộ gia đình có nữ giới làm chủ hộ. Thứ ba, những hạn chế về nguồn
nhân lực theo giới do trách nhiệm đối với xã hội và gia đình cũng như các yêu
cầu lao động về giới, cái mà cho rằng nữ giới không thể làm công việc trồng
8
trọt hiệu quả hơn nam giới, điều đó khiến cho họ phải đối mặt với những khó
khăn khi giá nông sản tăng. Hộ gia đình nữ giới làm chủ hộ thường hạn chế
lao động nghiêm trọng so với những hộ nam giới làm chủ hộ do họ có ít thành
viên và nhiều người phụ thuộc. Vốn nhân lực sẵn có trong mỗi hộ gia đình có
liên quan chặt chẽ tới các biện pháp tăng năng suất nông nghiệp, thu nhập hộ
gia đình, tất cả điều này ảnh hưởng tới phúc lợi hộ gia đình và tăng trưởng
kinh tế ở cấp quốc gia. Bên cạnh đó dịch vụ khuyến nông cung cấp thông tin
hữu ích và kịp thời về các công nghệ và kỹ thuật mới giúp nông dân tăng
năng suất sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên việc cung cấp các dịch vụ khuyến
nông ở các nước đang phát triển vẫn còn thấp ở cả hai giới và nữ giới có xu
hướng ít sử dụng dịch vụ khuyến nông hơn so với nam giới. Các dịch vụ tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ thực trạng về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia
đình tại nông thôn, tìm ra các nhân tố ảnh hưởng từ đó đưa ra giải pháp nhằm
nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại địa bàn
nghiên cứu.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài có các nhiệm vụ sau:
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữ trong phát
triển kinh tế hộ nông thôn.
Phân tích và đánh giá thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển
kinh tế hộ gia đình nông thôn tại huyện Chương Mỹ.
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đóng góp, vai trò của phụ
nữ trong phát triển kinh tế hộ nông thôn. Qua đó đề xuất các giải pháp chủ
yếu nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên
địa bàn nghiên cứu.
10
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là phụ nữ nông thôn trong độ tuổi lao động tại
các HGĐ trên địa bàn huyện Chương Mỹ - TP Hà Nội.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò của phụ nữ nông
thôn trong phát triển kinh tế HGĐ.
Phạm vi không gian và thời gian: Đề tài được tiến hành tại huyện
Chương Mỹ, thành phố Hà Nội trong khoảng thời gian từ tháng 10/2015 đến
tháng 6/2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
thu nhập
Vai trò của người phụ nữ
trong phát triển kinh tế
hộ
Vai trò sản xuất
Tham gia công tác xã hội
5.4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài sẽ lựa chọn 04 xã có sự khác
biệt về trình độ và mức độ phát triển kinh tế xã hội để so sánh, đối chiếu về
mức độ tham gia của phụ nữ trong sản xuất và xã hội. Các hộ gia đình, đối
tượng thu thập thông tin đa dạng trong hoạt động sản xuất tham gia các ngành
nghề nông nghiệp và phi nông nghiệp khác nhau ( hộ thuần nông, hộ phi nông,
hỗn hợp nông – phi nông,…) và tham gia xã hội (công tác quản lý, lãnh đạo,
tham gia các hoạt động cộng đồng ở các mức độ khác nhau).
Tổng số 04 xã: 200 bảng hỏi cấu trúc
Thị trấn Chúc Sơn: là trung tâm chính trị - văn hóa – xã hội của huyện
Xã Trần Phú: là một xã thuần nông miền núi có dân tộc thiểu số.
Xã Quảng Bị: xã chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp.
12
Xã Mỹ Lương: xã thuần nông và phần lớn dân cư theo công giáo
Thu thập thông tin thứ cấp
Phân tích những tài liệu sẵn có liên quan đến nội dung nghiên cứu
nhằm xây dựng cơ sở lý luận, khung nghiên cứu, góp phần bổ sung làm rõ
người trả lời. Đây là một trong những phương pháp đang được sử dụng rộng
rãi trong các cuộc điều tra xã hội học và là công cụ chủ yếu để thu thập thông
tin cho đề tài nghiên cứu. Dựa trên kế thừa những thông tin, số liệu có sẵn
mẫu bảng hỏi bao gồm các dạng câu hỏi như: câu hỏi đóng, câu hỏi mở, câu
hỏi vừa đóng vừa mở, câu hỏi xác định mức độ, câu hỏi chọn một hoặc nhiều
ý. Tại mỗi xã nghiên cứu chọn 50 cá nhân (đang trong độ tuổi lao động) để
khảo sát (thuộc các gia đình có nam giới và phụ nữ làm chủ hộ, các hộ hiện
đang làm nghề truyền thống, doanh nghiệp, hoạt động lĩnh vực phi nông
nghiệp, hộ gia đình hỗn hợp gồm cả nông nghiệp và phi nông nghiệp, hộ gia
đình thuần nông).
Nội dung chính của phiếu thu thập ý kiến bao gồm những khối lượng
thông tin sau:
+ Thông tin cơ bản về đối tượng được phỏng vấn: bao gồm các câu hỏi
về giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp,….
+ Thông tin về hoạt động chính trị - xã hội: bao gồm các câu hỏi về sự
tham gia các tổ chức đoàn thể, mối quan hệ xã hội,…
+ Thông tin về vai trò của người phụ nữ trong gia đình: bao gồm các
câu hỏi về quyền quyết định, thời gian dành cho các công việc không tên.
Đơn vị khảo sát của đề tài: các cá nhân là chủ hộ hoặc vợ/ chồng chủ
hộ gia đình với số lượng mẫu khảo sát là 200 mẫu.
Bảng 1: Địa điểm và số lượng mẫu điều tra
STT
Mẫu điều tra
Tên xã
1
Thị trấn Chúc Sơn
chọn ra 1 đơn vị vào mẫu, cứ như thế cho đến khi chọn đủ số đơn vị của mẫu.
Ví dụ : Dựa vào danh sách phụ nữ tại xã Trần Phú, ta có danh sách theo thứ tự
vần của tên chủ hộ, bao gồm 100 hộ. Ta muốn chọn ra một mẫu có 50 hộ.
Vậy khoảng cách chọn là : k= 100/50 = 2, có nghĩa là cứ cách 2 hộ thì ta
chọn một hộ vào mẫu. Tại các hộ gia đình được chọn, tiến hành phỏng vấn
bằng bảng hỏi với chủ hộ hoặc vợ/chồng chủ hộ (theo cơ cấu giới tính).
Phương pháp phân tích thống kê
Đề tài sử dụng phương pháp này nhằm phân tích các số liệu, biểu mẫu
thống kê về tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa phương nơi khảo sát.
Phương pháp phân tích thống kê cũng được sử dụng để đánh giá các mô hình
về mối quan hệ của các nhân tố ảnh hưởng đến thực trạng huy động sự tham
gia của phụ nữ vào các hoạt động sản xuất và xã hội.
Phương pháp xử lý số liệu
Toàn bộ số liệu điều tra sẽ được tổng hợp, làm sạch, mã hóa và sẽ được
nhập và xử lý bằng các chương trình thống kê chuyên dụng trong khoa học xã
hội SPSS.
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
6.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài nghiên cứu vận dụng một số lý thuyết xã hội học vào trong
quá trình nghiên cứu để tìm hiểu vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển
kinh tế hộ.
15
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đưa ra những nhận xét và đánh giá
về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế trên địa bàn nghiên cứu, từ đó
giúp chính quyền địa phương, những nhà quản lý hoạch định chính sách xã
hội của địa phương có cái nhìn đúng đắn, tổng thể về thực trạng vai trò của
phụ nữ trong phát triển kinh tế của địa phương mình, để thấy được mặt mạnh
Vai trò là những khuôn mẫu ứng xử khác nhau do xã hội áp đặt cho
mỗi chức vị của con người trong xã hội đó. Ví dụ: bố phải thương con, mẹ
phải hiền, chồng phải biết chăm sóc vợ, vợ phải đảm đang, con cái phải nghe
lời bố mẹ, trò phải chăm chỉ, thầy phải nghiêm túc… Có hai loại vai trò khác
nhau: vai trò hiện và vai trò ẩn. Vai trò hiện là vai trò bên ngoài mọi người
đều có thể thấy được. Vai trò ẩn là vai trò không biểu lộ ra bên ngoài mà có
khi chính người đóng vai trò đó cũng không biết. Vì một người có thể có
nhiều vai trò khác nhau, những khuôn mẫu ứng xử do xã hội áp đặt có thể
mâu thuẫn với nhau, tạo ra khó khăn (Trích từ Tập tài liệu: Công tác xã hộiLý thuyết và thực hành, Trần Đình Huấn).
Khái niệm Giới:
Chỉ sự khác biệt về xã hội và quan hệ (về quyền lực) giữa trẻ em trai và
trẻ em gái, giữa phụ nữ và nam giới, được hình thành và khác nhau ngay
17