Quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn trung tâm nuôi dưỡng và bảo trợ trẻ em tam bình, thành phố hồ chí minh - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ THU THỦY

QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM NUÔI DƯỠNG VÀ BẢO
TRỢ TRẺ EM TAM BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐỖ HẠNH NGA

HÀ NỘI - 2016

1


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài này là công trình nghiên cứu khoa học do chính
tôi thực hiện dƣới sự hƣớng dẫn của PGS.TS Đỗ Hạnh Nga - Trƣởng Khoa
Công tác xã hội Trƣờng Đại học xã hội và nhân văn.
Những số liệu, kết quả nêu trong đề tài là hoàn toàn trung thực và chƣa
từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trƣớc đây.


MỤC LỤC


3.3. Nâng cao nhận thức, vai trò và trách nhiệm của các tổ chức xã hội và các nhà
hoạch định chính sách, các cơ quan liên quan làm công tác bảo vệ trẻ em .............. 71
3.4. Nâng cao nhận thức của cộng đồng trong công tác chăm sóc trẻ mồ côi .......... 72
3.5. Giải pháp huy động nguồn lực ........................................................................... 74
KẾT LUẬN ............................................................................................................... 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 78
PHỤ LỤC .................................................................................................................. 81


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

CÁC BIỂU
Trang
Biểu đồ 2.1: Phân bố thời gian hoạt động, công việc ............................................... 31
Biểu đồ 2.2: Số lƣợng trẻ mồ côi tiếp nhận hàng tháng ............................................ 33
Biểu đồ 2.3: Trẻ em đƣợc tiếp nhận vào trung tâm từ các tỉnh, thành phố ............... 33
Biểu đồ 2.4: Phân bố giới tính trẻ mồ côi tại Trung tâm .......................................... 34
Biểu đồ 2.5: Phân bố trẻ mồ côi theo độ tuổi ............................................................ 34
Biểu đồ 2.6: Mức độ dinh dƣỡng trẻ đƣợc đáp ứng .................................................. 37
Biểu đồ 2.7: Nguồn nƣớc sử dụng ăn uống, sinh hoạt .............................................. 37
Biểu đồ 2.8 :Các vấn đề thƣờng nói chuyện với trẻ ................................................. 40
Biểu đồ 2.9 : Mức độ khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động xã hội .................. 42
Biểu đồ 2.10: Mức độ trẻ tự tin, thoải mái sau khi nói chuyện ................................. 51
Biểu đồ 2.11: Nhận xét mức độ hiệu quả của việc quản lý trƣờng hợp tại trung
tâm….. ....................................................................................................................... 54
Biểu đồ 2.12: Khả năng đáp ứng yêu cầu công việc đƣợc giao ................................ 54
Biểu đồ 2.13: Xử lý khi gặp trƣờng hợp phức tạp .................................................... 57
Biểu đồ 2.14: Mức độ hiểu rõ vai trò của nhân viên đối với việc quản lý với trẻ mồ
côi .............................................................................................................................. 58

phần lớn ở công học tập của các cháu”. Để khẳng định vai trò quan trọng của thế
hệ trẻ trong sự nghiệp xây dựng và phát triển cuộc sống tƣơng lai, tổ chức
UNESCO của Liên Hợp quốc đã đƣa ra khẩu hiệu nổi tiếng: "Trẻ em hôm nay thế
giới ngày mai”.
Trẻ em dễ bị tổn thƣơng do những tác động của môi trƣờng sống nên rất cần
đƣợc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục. Để tồn tại và phát triển, cũng nhƣ bảo đảm
quyền, thực hiện đƣợc bổn phận, trẻ em cần đƣợc bảo đảm các nhu cầu cơ bản,
đồng thời tránh đƣợc những nguy cơ làm tổn hại đến trẻ em. Theo số liệu thống kê
gần đây, ở Việt Nam có khoảng 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có
khoảng 176.000 trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi. Đây là những đối tƣợng xã hội không chỉ
là nỗi bất hạnh của bản thân các em mà còn là nỗi đau xót của gia đình, ngƣời thân
và là gánh nặng cho xã hội, cộng đồng. Trong đó có 88.000 em không còn nơi
nƣơng tựa, hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn và Nhà nƣớc đã giải quyết trợ cấp xã hội
thƣờng xuyên khoảng 60.000 em và số còn lại do họ hàng, cộng đồng cƣu mang
hoặc đƣợc nhận làm con nuôi [3], [12]. Hiện nay, sự gia tăng về số lƣợng trẻ mồ
côi, trẻ bị bỏ rơi làm nảy sinh hàng loạt vấn đề về sức khỏe - y tế, ăn mặc, đi lại, học
hành và các nhu cầu vật chất, tinh thần khác, đòi hỏi sự quan tâm giải quyết của
Nhà nƣớc và cộng đồng xã hội. Do đó, việc chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em cần

1


đƣợc nghiên cứu, tiếp cận nhƣ là một vấn đề xã hội với hàng loạt nội dung quan
trọng, cấp bách chứ không chỉ ở góc độ nhân đạo và một hiện tƣợng xã hội.
Trẻ mồ côi là nhóm trẻ đặc thù của công tác xã hội, là nhóm trẻ dễ bị tổn
thƣơng và chịu nhiều thiệt thòi. Nhiều mô hình chăm sóc, giáo dục trẻ mồ côi đã
hình thành để giúp các em có một gia đình thay thế nhƣ: trung tâm bảo trợ xã hội,
mái ấm, nhà tình thƣơng… Việc chuẩn bị cho trẻ mồ côi bƣớc vào cuộc sống, thực
chất là quá trình đào tạo để hình thành kỹ năng sống và phát triển nhân cách toàn
diện. Công tác xã hội với trẻ em là việc tìm hiểu vấn đề trẻ em đang gặp phải, tìm ra

của các nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhằm tạo cơ sở khoa học cho việc ra
quyết định, các chiến lƣợc, chƣơng trình và kế hoạch hành động đáp ứng nhu cầu
đƣợc học tập của các trẻ em này. Qua khảo sát nhu cầu giáo dục của trẻ em mồ côi
không nơi nƣơng tựa cho thấy đa số các trẻ em này có mong muốn học nghề và đi
làm sớm trƣớc khi học hết Trung học cơ sở hoặc học bổ túc văn hóa, đồng thời học
nghề hoặc đi làm. Rất ít trẻ mong muốn học hết phổ thông và học lên. Nguyên nhân
chính là do sự thiếu chỗ dựa về tinh thần và vật chất. Mức trợ cấp hiện thời hoàn
toàn không đảm bảo điều kiện tối thiểu cho việc học tập của các em.
Đề tài“Nâng cao kỹ năng hòa nhập cộng đồng cho trẻ em mồ côi sống trong
Trung tâm bảo trợ Tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay” của Nguyễn Văn Nam năm 2014. Tìm
hiểu thực trạng khả năng hòa nhập cộng đồng của trẻ em mồ côi ở Trung tâm Bảo
trợ xã hội Tỉnh Vĩnh Phúc. Phân tích những yếu tố tác động đến khả năng hòa nhập
cộng đồng của các em, đồng thời chỉ ra những vai trò cơ bản của nhân viên Trung
tâm trong việc nâng cao kỹ năng hòa nhập cộng đồng cho các em. Xây dựng kế
hoạch và đƣa ra những biện pháp hỗ trợ nhằm nâng cao khả năng hòa nhập cộng
đồng cho trẻ em mồ côi ở Trung tâm Bảo trợ xã hội Tỉnh Vĩnh Phúc.
Tài liệu “Quản lý trường hợp bảo vệ trẻ em”, Nguyễn Quốc Phong. Tài liệu
đã nêu lên những nội dung cơ bản của việc quản lý trƣờng hợp đối với trẻ em nói
chung: thế nào là quản lý trƣờng hợp đối với trẻ em? Các đối tƣợng trẻ em? Các
bƣớc tiến hành quản lý trƣờng hợp đối với trẻ em, mục đích của việc quản lý trƣờng
hợp đối với trẻ em.
Tài liệu “Một cách tiếp cận quản lý ca trong công tác xã hội”. Bài trình bày
cho Hội thảo về Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, Hạ Long, Việt Nam,
3/4/2010. Bài trình bày nêu lên khái niệm, giá trị và các nguyên tắc của công tác xã
hội nói chung và quản lý trƣờng hợp nói riêng. Trong đó đi sâu vào việc tiếp cận

3


“lấy thân chủ làm trọng tâm” trong việc quản lý ca công tác xã hội và coi đây là một

4


đề cập tới. Đây là một trong những lý do chính tôi tập trung nghiên cứu về “Quản
lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi tại Trung tâm Nuôi dưỡng và Bảo trợ trẻ em
Tam Bình, thành phố Hồ Chí Minh”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng quản lý trƣờng hợp đối với trẻ em mồ côi tại Trung tâm
Nuôi dƣỡng và Bảo trợ trẻ em Tam Bình, thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đƣa ra giải
pháp nhằm khắc phục khó khăn và nâng cao hiệu quả công tác quản lý trƣờng hợp
đối với trẻ em mồ côi tại Trung tâm.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số lý luận về trẻ em và trẻ em mồ côi, lý luận về quản lý
trƣờng hợp đối với trẻ em mồ côi.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý trƣờng hợp đối với trẻ em mồ côi tại
Trung tâm Nuôi dƣỡng và Bảo trợ trẻ em Tam Bình, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý trƣờng hợp
đối với trẻ em mồ côi tại Trung tâm Nuôi dƣỡng và Bảo trợ trẻ em Tam Bình, thành
phố Hồ Chí Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Quản lý trƣờng hợp đối với trẻ mồ côi tại Trung tâm Nuôi dƣỡng và Bảo trợ
trẻ em Tam Bình, thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Tìm hiểu và đánh giá hoạt động quản lý trƣờng
hợp đối với trẻ em mồ côi tại Trung tâm Nuôi dƣỡng và Bảo trợ trẻ em Tam Bình,
thành phố Hồ Chí Minh.
- Địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu trẻ em mồ côi tại Trung tâm Nuôi dƣỡng
và Bảo trợ trẻ em Tam Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

thông tin.
5.2.4. Phương pháp thống kê toán học: Sau khi kết thúc khảo sát, chúng tôi
tiến hành thống kê và xử lý kết quả từ phiếu điều tra. Các số liệu thu thập đƣợc
phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0. Kết quả phân tích định tính đƣợc sử dụng để
hỗ trợ và minh họa cho kết quả của nghiên cứu định lƣợng.

6


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài vận dụng kiến thức công tác xã hội cũng nhƣ tiến trình quản lý trƣờng
hợp với trẻ em mồ côi. Luận văn góp phần làm phong phú thêm hệ thống cơ sở dữ
liệu cho việc phân tích quản lý trƣờng hợp đối với trẻ mồ côi từ thực tiễn.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Qua quá trình nghiên cứu, tìm tài liệu, tìm hiểu thực tế, nhà nghiên cứu có cơ
hội áp dụng những lý thuyết trong công tác xã hội vào thực tiễn, có sự hiểu biết sâu
sắc về đặc điểm tâm lý, sinh lý, nhu cầu của trẻ mồ côi. Từ đó, giúp nhà nghiên cứu
nắm vững kiến thức, kỹ năng và có nhiều kinh nghiệm cho những nghiên cứu tiếp
theo.
Kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ thực trạng quản lý trƣờng hợp đối với trẻ
em mồ côi tại Trung tâm Nuôi dƣỡng và Bảo trợ trẻ em Tam Bình, thành phố Hồ
Chí Minh. Trên cơ sở đó giúp Ban Giám đốc tại Trung tâm có những giải pháp tổ
chức nhân sự, cơ sở vật chất và các hoạt động của trung tâm phù hợp hơn. Ngoài ra
các nhà hoạch định chính sách có thêm góc nhìn về thực trạng quản lý trƣờng hợp
đối với trẻ em mồ côi tại Trung tâm, để đƣa ra những điều chỉnh về chế độ chính
sách, bồi dƣỡng nguồn nhân lực phù hợp hơn.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài các phần nhƣ: mục lục, danh mục, các bảng, hình vẽ, mở đầu, kết luận,
danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng.

đó, sự phát triển thể chất, xã hội, tình cảm và việc thực hiện chức năng sẽ bị ảnh
hƣởng. Đồng thời, các em còn gặp phải những căng thẳng trong cuộc sống, có hành
vi đối phó không phù hợp do thiếu mạng lƣới hỗ trợ xã hội (bạn bè, ngƣời thân,
láng giềng, bạn đồng nghiệp...). Những trẻ mồ côi khi trƣởng thành cũng có nhiệm
vụ là tìm cho mình một chỗ đứng trong xã hội, để đƣợc mọi ngƣời nể trọng và đạt
đƣợc cảm giác ổn định về bản thân. Thực hiện đƣợc điều này, bên cạnh sự giúp đỡ
từ những ngƣời xung quanh, chính bản thân các em cũng phải nỗ lực rất nhiều. Do
đó, cần đánh giá đúng vấn đề của trẻ mồ côi để lên kế hoạch can thiệp, cần xem xét
tác động hỗ tƣơng giữa trẻ mồ côi với môi trƣờng sống để có những nhận định

8


chính xác. Từ đó, nhân viên công tác xã hội có các biện pháp phù hợp để giúp trẻ
mồ côi hòa nhập cộng đồng.
Trung tâm Nuôi dƣỡng và Bảo trợ trẻ em Tam Bình, thành phố Hồ Chí Minh
là một hệ thống bao hàm các thành tố nhƣ cán bộ lãnh đạo, nhân viên chăm sóc,
nhân viên cấp dƣỡng, cơ sở vật chất, nội quy. Các thành tố đó có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau. Bên cạnh đó, hoạt động bảo vệ trẻ em mồ côi tại trung tâm nằm trong
hệ thống bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của Thành phố Hồ Chí Minh.
Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
Abraham Maslow là nhà tâm lý học nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu
cầu của con ngƣời vào những năm 1950. Lý thuyết của ông nhằm giải thích những
nhu cầu nhất định của con ngƣời cần đƣợc đáp ứng nhƣ thế nào, để một cá nhân
hƣớng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần. Theo thuyết
nhu cầu của A.Maslow thì các nhu cầu cơ bản của con ngƣời đƣợc hình thành trong
một hệ thứ bậc các nhu cầu. A.Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con ngƣời thành
5 cấp bậc:
- Nhu cầu cơ bản: Nhu cầu này còn đƣợc gọi là nhu cầu cơ thể hoặc nhu cầu
sinh lý, bao gồm các nhu cầu cơ bản của con ngƣời nhƣ ăn, uống, ngủ, không khí để

hội. Trẻ mồ côi cũng mong muốn có đƣợc một vị trí trong xã hội, đƣợc thực hiện
những vai trò với tƣ cách là thành viên của xã hội. Các em không chỉ khao khát đến
trƣờng để học chữ, vui chơi cùng bạn bè, mà còn muốn thông qua học hành để khẳng
định bản thân mình, để đƣợc ngƣời khác tin tƣởng cũng nhƣ những trẻ bình thƣờng
khác.
1.1.2. Thuyết nhận thức - hành vi
Mọi hành vi đều xuất phát từ sự nhận thức của con ngƣời. Nhận thức đúng sẽ
dẫn tới hành vi đúng và ngƣợc lại, nhận thức chi phối hành vi. Vì vậy, để thay đổi
hành vi, chúng ta phải thay đổi nhận thức. Để thay đổi hành vi, nhân viên công tác xã
hội cần tiến hành trò chuyện, động viên các em, đồng thời đƣa ra những lời khuyên
hữu ích. Phƣơng pháp trị liệu hành vi trong công tác xã hội có mục đích làm cho đối
tƣợng cải thiện đƣợc các chức năng cần có trong sinh hoạt hàng ngày, làm tăng các
hành vi mong muốn, đồng thời giảm thiểu các hành vi không cần thiết. Quá trình
quan sát hành vi của đối tƣợng sẽ làm rõ vấn đề và hoàn cảnh môi trƣờng sống của
thân chủ, tạo điều kiện đƣa ra các phƣơng pháp hỗ trợ, kỹ thuật hỗ trợ thích hợp.
1.1.3. Thuyết vai trò

10


Thuyết vai trò ra đời với sự đóng góp lớn của các nhà xã hội học và tâm lý học
(Strean, 1971, Davis, 1986). Thuyết vai trò đƣợc đánh giá là phƣơng pháp tiếp cận
hiệu quả đối với việc hiểu biết con ngƣời và xã hội. Thuyết cho rằng mỗi cá nhân
chiếm giữ các vai trò nào đó trong xã hội, tƣơng ứng với các vị trí đó là các vai trò.
Vai trò chỉ ra cụ thể cách thức nhằm đạt đƣợc mục tiêu và hoàn thành nhiệm vụ,
đồng thời cũng chỉ ra những nội dung hoạt động cần thiết đòi hỏi trong một bối
cảnh, một tình huống nhất định. Khi con ngƣời thực hiện tốt các vai trò của mình thì
sẽ đem lại những mặt tích cực, nhƣ sự tự tin, niềm vui, niềm phấn khởi, phát huy
khả năng của bản thân mình, ngƣợc lại, con ngƣời sẽ có thể bị dẫn đến mơ hồ vai
trò, xung đột vai trò, sự sợ hãi vai trò, từ đó ảnh hƣởng tiêu cực lên những hệ thống

nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển
con ngƣời. Đó là những ngƣời chƣa trƣởng thành, còn non nớt về thể chất và trí tuệ,
dễ bị tổn thƣơng, cần đƣợc bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp
về mặt pháp lý trƣớc cũng nhƣ sau khi ra đời. Về vị thế xã hội, trẻ em là một nhóm
thành viên xã hội ngày càng có khả năng hội nhập xã hội với tƣ cách là những chủ
thể tích cực, có ý thức, nhƣng cũng là đối tƣợng cần đƣợc gia đình và xã hội quan
tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục. Theo điều 1 của Công ƣớc Liên hiệp quốc về
quyền trẻ em, "Trẻ em có nghĩa là ngƣời dƣới 18 tuổi, trừ trƣờng hợp Luật pháp áp
dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn" [35,2]
Theo các tài liệu từ Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em Việt Nam (2005): Trẻ
em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi, trong giai
đoạn đầu của sự phát triển con ngƣời. Đó là những ngƣời chƣa trƣởng thành, còn
non nớt về thể chất và trí tuệ, dễ bị tổn thƣơng, cần đƣợc bảo vệ và chăm sóc đặc biệt,
kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trƣớc cũng nhƣ sau khi ra đời. Về vị thế xã
hội, trẻ em là một nhóm thành viên xã hội ngày càng có khả năng hội nhập xã hội với
tƣ cách là những chủ thể tích cực, có ý thức, nhƣng cũng là những đối tƣợng cần
đƣợc gia đình và xã hội quan tâm, bảo vệ, chăm sóc, giáo dục. Theo Luật Trẻ em của
Việt Nam năm 2016, trẻ em là ngƣời dƣới 16 tuổi. [34,1]
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh không bình thƣờng về thể
chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà nhập với
gia đình, cộng đồng (Khoản 1, Điều 3, Luật Trẻ em);
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt gồm: trẻ em mồ côi không nơi nƣơng tựa, trẻ em
bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học; trẻ em

12


nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải lao động nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc
hại; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ



- “Đánh giá nhu cầu của thân chủ và gia đình thân chủ, sắp xếp, phối hợp,
giám sát và biện hộ một gói nhiều dịch vụ để đáp ứng những nhu cầu phức tạp của
thân chủ cụ thể” (US National Association of Social Workers, 1992, tr. 5).
Tóm lại, quản lý trường hợp là một quá trình trợ giúp của công tác xã hội, bao
gồm các hoạt động đánh giá nhu cầu đối tượng (cá nhân, gia đình, xác định, kết nối
và điều phối các nguồn lực, dịch vụ nhằm giúp đối tượng tiếp cận với các nguồn lực
để giải quyết vấn đề của họ một cách hiệu quả [15, tr 6].
Khái niệm quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi
Từ các khái niệm trên, quản lý trƣờng hợp đối với trẻ em mồ côi đƣợc hiểu
nhƣ sau: Quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi là một hoạt động công tác xã
hội nhằm trợ giúp cho trẻ em mồ côi phát triển đầy đủ về mặt thể chất, tâm lý và xã
hội thông qua thực hiện các nhiệm vụ tiếp nhận thông tin đánh giá nhu cầu của trẻ,
lập kế hoạch và triển khai kế hoạch, đánh giá trẻ em mồ côi.
Trong phạm vi của đề tài, nhóm trẻ trong phạm vi nghiên cứu là những em có
hoàn cảnh mồ côi không nơi nƣơng tựa, bị bỏ rơi dƣới 18 tuổi tại Trung tâm Nuôi
dƣỡng và Bảo trợ Trẻ em Tam Bình, thành phố Hồ Chí Minh.
Trẻ em trong các cơ sở chăm sóc, giáo dục trẻ mồ côi, bị bỏ rơi
Trung tâm bảo trợ xã hội và Làng trẻ mồ côi hiện đang là hai mô hình chăm
sóc, giáo dục trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi nói riêng và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn nói chung phổ biến nhất ở Việt Nam.
Nhìn chung, theo quy định của Luật Trẻ em tại Việt Nam, các Trung tâm Bảo
trợ xã hội và Làng trẻ mồ côi có chức năng, nhiệm vụ là chăm sóc, quản lý, giáo
dục các nhóm trẻ em dƣới đây:
(1) Trẻ mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dƣỡng;
(2) Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhƣng ngƣời còn lại là cha hoặc mẹ mất tích
theo quy định tại Điều 78 Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng nuôi
dƣỡng theo quy định của pháp luật;
(3) Ngoài ra, trong một số trƣờng hợp trung tâm chăm sóc, giáo dục trẻ có thể

Không đƣợc sống cùng cha mẹ, các em đƣợc sự quan tâm, chăm sóc của cán
bộ, nhân viên, ngƣời lao động tại Trung tâm - những ngƣời mà các em gọi là cha, là
mẹ. Do đó, cách ứng xử của ngƣời nuôi dƣỡng có ảnh hƣởng quan trọng đến sự
hình thành và phát triển nhân cách của các em.

15


Từ các cách ứng xử của cha mẹ đối với con cái nhiều nhà tâm lí học đã nghiên
cứu các phong cách ứng xử và thử đƣa ra các mẫu hình cha mẹ chung có hiệu quả.
Có thể chia thành năm phong cách ứng xử của cha mẹ đối với con cái.
- Cách ứng xử yêu thương - khích lệ, cha mẹ yêu thƣơng và thể hiện sự yêu
thƣơng trẻ bằng những hành động cụ thể. Khi trẻ gặp khó khăn trong cuộc sống, cha
mẹ sẵn sàng lắng nghe, chia sẻ với trẻ. Đặc biệt, những cha mẹ này tin tƣởng vào
cách hành xử của trẻ cũng nhƣ biết cách khen ngợi trẻ, giúp cho trẻ biết yêu quý, tự
hào về giá trị của bản thân.
- Cách ứng xử hà khắc, các bậc cha mẹ này thƣờng đƣa ra nội quy và chờ đợi
con em họ thực hiện mà không cần thảo luận với trẻ. Làm việc nhiều, tôn trọng và
vâng lời là những gì mà các cha mẹ hà khắc muốn phát triển ở con em họ. Ở đây,
giữa cho và nhận giữa cha mẹ và con cái ít bởi vì các cha mẹ hà khắc không cân
bằng các yêu cầu của họ với các nhu cầu hay mong muốn của trẻ.
- Cách ứng xử quan tâm – chăm sóc, luôn cố gắng để chăm sóc trẻ tốt nhất về
dinh dƣỡng cũng nhƣ sự quan tâm. Cha mẹ kịp thời hỏi thăm, quan tâm khi trẻ gặp
điều gì đó vƣớng mắc trong cuộc sống và sẵn sàng trợ giúp trẻ vƣợt qua khó khăn.
- Cách ứng xử ghét bỏ, các bậc cha mẹ này có xu hƣớng không thừa nhận,
không yêu thích trẻ. Cách ứng xử của cha mẹ ghét bỏ không đem lại sự yêu thƣơng
đối với trẻ mà ngƣợc lại, làm cho trẻ cảm thấy khó chịu và bị tổn thƣơng. Những
đứa trẻ trong gia đình này thƣờng có sự mặc cảm, tự ti và tự đánh giá tiêu cực về
bản thân.
- Cách ứng xử kiểm soát, muốn kiểm soát mọi diễn biến trong cuộc sống của

lớn, cố ý nói dối để tránh câu chuyện, không muốn tiếp xúc với ngƣời khác hoặc để
gây sự chú ý của ngƣời nghe.
Các giai đoạn phát triển của trẻ
Lý thuyết phân tâm học do S. Fred (1856-1939) sáng lập cho rằng có thể phân
chia sự phát triển của nhân cách con ngƣời thành 5 giai đoạn nhƣ sau:
- Giai đoạn miệng (Oral stage): từ sinh ra đến dƣới 1 tuổi
- Giai đoạn hậu môn (Anal stage): từ 1 đến 2 tuổi
- Giai đoạn cơ quan sinh dục (Penital stage): từ 3 đến 5 tuổi
- Giai đoạn tiềm tàng (Latent stage): từ 6 tuổi đến tuổi dậy thì
- Giai đoạn tính dục (Genital stage): từ tuổi dậy thì đến hết đời.

17


Trong 5 giai đoạn phát triển nhân cách trên thì đã có 3 giai đoạn đƣợc phân
chia cho lứa tuổi từ 0 đến 5 tuổi. Freud khẳng định rằng với những trải nghiệm tuổi
thơ trong 5 năm đầu đời có ý nghĩa quyết định đối với sự hình thành nhân cách.
Bên cạnh đó, cũng có quan điểm tổng hợp các trƣờng pháp tƣ tƣởng của các
nhà tâm lý học nhƣ E. Erikson (1902-1994), của J.Piaget (1896-1980)... phân chia
sự phát triển của con ngƣời thành 7 giai đoạn phát triển.
- Từ 0 đến 1 tuổi: đây là thời kỳ cảm giác vận động. Trẻ thay đổi về sinh lý
nhanh (biết đi, biết ngồi, biết đứng...), tìm hiểu thế giới xung quanh. Do quan hệ xã
hội chủ yếu với bố mẹ, nên việc thỏa mãn các nhu cầu cũng đƣợc thỏa mãn qua sự
quan tâm chăm sóc của bố mẹ, tạo cảm giác an toàn, tin tƣởng. Nếu không đƣợc
cảm giác đó thì sẽ tạo ra sự sỡ hãi, đó chính là một trong những nguyên nhân gây
nhiễu tâm sau này.
- Từ 1-3 tuổi: Hình thành tính tự chủ, ý muốn độc lập ở trẻ, thể hiện rõ nét
qua các câu nói thƣờng gặp ở bé nhƣ “của con”..., thời kỳ này vẫn là thời kỳ cảm
giác vận động. Trẻ tò mò tìm hiểu, hay bƣớng bỉnh theo ý kiến của bản thân. Nếu
không đƣợc khích lệ, khen tặng hay sự quan tâm của bố mẹ, trẻ dễ sinh cảm giác

các em là thanh niên. Các em bắt đầu quan tâm đến tình yêu, nghề nghiệp tƣơng lai
và lối sống, cách sống của mình.
1.2.3. Cơ sở pháp lý đối với trẻ em mồ côi
Pháp luật quốc tế
- Điều 20, Công ƣớc quốc tế về quyền trẻ em:
+ Những trẻ em tạm thời hay vĩnh viễn bị tƣớc đi môi trƣờng gia đình của mình,
hoặc vì lợi ích tốt nhất của chính bản thân mình mà không đƣợc phép tiếp tục ở trong
môi trƣờng ấy, có quyền đƣợc hƣởng sự bảo vệ và giúp đỡ đặc biệt của Nhà nƣớc
+ Các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho các trẻ em nhƣ thế đƣợc hƣởng
sự chăm sóc thay thế tƣơng ứng phù hợp với luật pháp quốc gia.
+ Sự chăm sóc nhƣ thế có thể bao gồm nhiều hình thức, gồm việc gửi nuôi,
hình thức Kafala của luật đạo Hồi, nhận làm con nuôi hoặc nếu cần thiết gửi vào các
cơ sở chăm sóc trẻ em thích hợp. Khi cân nhắc các giải pháp, phải quan tâm thích
đáng đến việc mong muốn liên quan đến xuất xứ dân tộc, tôn giáo, văn hóa và ngôn
ngữ của trẻ em
Pháp luật Việt Nam

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status