-1-
PHẦN MỞ ĐẦU
Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã xác định
mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Để
tiến tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phấn đấu mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, bên cạnh việc chuyển
đổi cơ cấu kinh tế, chúng ta cần phải xây dựng một đội ngũ lao động có năng
lực cao: bao gồm cả hai mặt trí tuệ và thể chất. Để đáp ứng việc thực hiện
mục tiêu trên, trong đó TDTT, GDTC đóng vai trò quan trọng. Bởi lẽ TDTT,
GDTC là nhằm tăng cường sức khỏe và phát triển thể chất, tác động tích cực
đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người cũng như tố chất thể lực,
phẩm chất đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật, lối sống.
Trong cuộc sống con người, sức khoẻ đóng một vai trò hết sức quan
trọng. Nó là nguồn tài sản quí giá nhất của mỗi người và của mỗi quốc gia.
Chính vì vậy Bác Hồ đã kêu gọi toàn dân tập thể dục, trong đó có đoạn viết:
“Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có
sức khoẻ mới thành công. Mỗi người yếu ớt tức làm cho cả nước yếu ớt, mỗi
người dân khoẻ mạnh tức góp phần làm cho cả nước mạnh khoẻ…”
Xây dựng chiến lược phát triển con người về trí tuệ, cường tráng về thể
chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là mục đích của toàn
Đảng, toàn dân ta. Trong đó giáo dục cũng như giáo dục thể chất đóng vai trò
hàng đầu về đào tạo con người mới Xã Hội Chủ Nghĩa.
Chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội nói
chung, của giáo dục thể chất và thể thao học đường nói riêng. Thực tiễn trên
đòi hỏi ngành giáo dục và đào tạo phải tìm ra giải pháp, xây dựng chương
trình đồng bộ nhằm: “Cải tiến nâng cao chất lượng Giáo Dục Thể Chất, phát
triển và bồi dưỡng năng khiếu thể thao của học sinh trong nhà trường phổ
thông”.
-3-
tài: “Nghiên cứu ứng dụng một số bài tập trò chơi vận động nhằm phát
triển các tố chất thể lực cho học sinh nam khối 5 trường tiểu học “Trần
Quang Vinh, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh”.
Mục đích nghiên cứu
Nhằm lựa chọn, xác định một số bài tập trò chơi vận động để phát triển
thể lực, đồng thời nâng cao chất lượng giảng dạy thể dục cho các em học sinh
khối lớp 5 trường tiểu học Trần Quang Vinh, Quận Bình Thạnh, Thành phố
Hồ Chí Minh.
Để đạt được mục đích trên, chúng tôi tiến hành giải quyết các mục tiêu
sau:
MỤC TIÊU 1: Lựa chọn, xác định một số bài tập trò chơi vận động
nhằm phát triển thể lực cho học sinh nam khối 5 trường tiểu học Trần Quang
Vinh, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
MỤC TIÊU 2: Đánh giá hiệu quả ứng dụng của một số bài tập trò chơi
vận động nhằm phát triển thể lực của học sinh nam khối 5 trường tiểu học
Trần Quang Vinh, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
-4-
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1.
Sơ lược lịch sử các vấn đề nghiên cứu
Giáo dục thể chât là một bộ phận của nền văn hóa xã hội là di sản quý
thượng có ở cuối kỳ và cuối năm không biểu hiện ở các em có chế độ tập
luyện thể dục thể thao đầy đủ…”
Ở Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này như: PGSTS Trịnh Trung Hiếu, TS Nguyễn Ngọc Can và Bác sỉ Đinh Ký tại trường cấp
I, II, III Tân Thuật , Kiến Xương, Thái Bình cũng có kết luận như trên. Vị trí
và tác dụng của giáo dục thể chất rất lớn, nó không những đem lại sức khỏe
cho học sinh mà còn góp phần đào tạo con người phát triển toàn diện, cho nền
giáo dục thể chất không thể thiếu được trong trường học ở các nước.
Trong những năm qua có nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề:
Công trình nghiên cứu về thể chất cho học sinh (Bộ Giáo Dục năm (19651966).Đáng chú ý là công trình nghiên cứu về dạy thể dục của (PGS-TS Trịnh
Trung Hiếu, TS Vũ Huyên năm 1978-1985).
Từ công tác giáo dục thể chất ở các nước tiêu biểu có thể rút ra những
nhận xét như sau: Công tác giáo dục thể chất cho học sinh trong trường học
đều nhằm mục đích nâng cao sức khỏe, thể lực cho thế hệ trẻ và xem đây là
chiến lược của mỗi quốc gia. Chương trình giáo dục thể chất quy định nội
dung và thời lượng môn học, hình thức tổ chức giáo dục thể chất ở mổi nước
có đặc điểm riêng. Nhìn chung các nước đều chú trọng (1/3 dến 1/2 chương
trình quy định), hình thức tổ chức giáo dục thể chất ngoài giờ học đa dạng,
thiết thực cũng được quan tâm có tác dụng khuyến khích người tập.
1.2.
Cơ sở lý luận về giáo dục thể chất.
Giáo dục thể chất là một bộ phận của nền văn hóa xã hội, một di
sản quý giá của loài người và là sự tổng hòa những thành tựu xã hội trong sự
nghiệp sáng tạo và sử dụng những biện pháp chuyên môn để hoàn thiện thể
-6-
chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc kéo dài tuổi thọ cho con
trong giảng dạy, muốn cho ngưới học hiểu, biết và ham thích học môn học
của mình thì người dạy biết kích thích người học ham thích và phát huy hết
khả năng tự có của bản thân. Từ đó mới đạt mục tiêu giáo dục, mà muốn đạt
được như thế thì người dạy luôn thay đổi hình thức tập luyện cho thật phong
phu và đa dạng, nên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu một số trò chơi vận
động nhằm phát triển các tố chất thể lực cho học sinh nam khối 5 trường tiểu
học Trần Quang Vinh, Quận Bình Thạnh, Thành Phố Hồ Chí Minh.
1.3. Đặc điểm tâm, sinh lý và giải phẫu của học sinh tiểu học:
1.3.1 Đặc điểm tâm lý:
Ở lứa tuối này các em có những biến đổi quan trọng trong cuộc sống, lao
động, học tập, do đó những đặc điểm tâm lý thể hiện qua các hoạt động về
nhận thức, tình cảm, cảm xúc… có những thay đổi cơ bản.
So với lứa tuổi mẫu giáo, mối quan hệ giao tiếp, quan hệ xã hội của học
sinh tiểu học có những thay đổi và biểu hiện rõ các nội dung và hình thức
giáo dục khác nhau.
Đối với lứa tuổi học sinh tiểu học, học tập đã trở thành những hoạt động
chủ đạo. Sự say mê học tập chưa thể hiện đó là nhận thức trách nhiệm với
toàn xã hội, mà là chủ yếu các động cơ mang ý nghĩa tình cảm như: được
thầy, cô, ông bà, bố mẹ, anh chị khen ngợi và động viên. Do đó các em cố
gắng học tập vì tình yêu thương, chăm lo của ông bà, bố mẹ, anh chị…; học
tốt để được khen ngợi để trở thành “cháu ngoan Bác Hồ”.
Để hình thành các hiểu biết, kiến thức các em thường học thuộc lòng
từng câu, từng chữ. Để hình thành kỹ năng vận động các em thường bắt
chước, cố gắng làm theo các động tác, điệu bộ hành vi của giáo viên.
Trong giảng dạy TDTT, do tư duy của các em vẫn còn mang tính chất
hình ảnh cụ thể nên các em sẽ tiếp thu dễ dàng và nhanh chóng hơn đối với
các khái niệm có kèm theo hình ảnh trực quan. Do vậy khi giảng dạy TDTT,
-8-
-9-
Đặc điểm hệ hô hấp:
Ở lứa tuối học sinh tiểu học, hệ hô hấp đang ở thời kỳ hoàn thiện, các em
đang dần dần tạo nên thói quen chuyển từ thở kiểu bụng sang thở kiểu ngực,
lồng ngực phát triển chưa hoàn thiện.
Độ giãn nở của các phế nang (túi phổi) còn thấp nên nhịp thở còn nông.
Số lượng phế nang tham gia mỗi lần hô hấp còn ít, nên lượng oxi được đưa
vào máu không cao.
Lượng không khí chứa đựng trong phổi còn thấp (ở trẻ 8 tuổi là: 1.699
lít, ở người trưởng thành là: 4 lít), do vậy, phổi của các em phải thường xuyên
làm việc khẩn trương mới cung cấp đủ oxi cho cơ thể.
Về lượng thông khí phổi (thể tích khí mỗi lần hít vào hoặc thở ra bình
thường), dung tích sống (thể tích khí thở ra cố gắng, sau khi hít vào hết sức)
được tăng dần theo sự phát triển lứa tuổi của trẻ.
Tần số hô hấp (số lần thở ra-hít vào trong 1 phút) của học sinh tiểu học
tương đối cao. Do đó, khi hoạt động vận động (tập luyện TDTT) với lượng
vận động vừa phải thì nhịp thở đã tăng lên cao, các em dễ mệt mỏi sớm
chuyển sang thở gấp, đòi hỏi phải có thời gian nghỉ ngơi phù hợp với lứa tuổi
các em.
Đặc điểm hệ thần kinh:
Hoạt động phân tích và tổng hợp của học sinh kém nhạy bén, nhận thức
các hiện tượng biến đổi của xã hội còn mang tính chủ quan, cảm tính, bị
động…
Ở lứa tuổi này các em có khả năng bắt chước một cách máy móc, khả
năng phân biệt, tính sáng tạo còn hạn chế. Lứa tuổi này thường có một số loại
hình thần kinh sau:
- 10 -
hưởng không tốt tới sự phát triển của lồng ngực và cấu trúc tương đối của
toàn thân. Ở độ tuổi 20-25 xương sống mới được cốt hóa hoàn toàn.
1.4. Đặc điểm tố chất thể lực của học sinh lứa tuổi học sinh tiểu học:
Tố chất thể lực là sự biểu hiện tổng hợp của hệ thống chức năng các cơ
quan cơ thể. Tố chất thể lực tăng trưởng theo sự tăng trưởng của lứa tuổi, sự
tăng trưởng này gọi là sự tăng trưởng tự nhiên, khuynh hướng của sự tăng
trưởng có tốc độ nhanh, biên độ lớn trong thời kỳ dậy thì.
Tố chất thể lực là năng lực cơ bản của cơ thể con người, khi nghiên cứu
các tố chất thể lực: sức mạnh, sức nhanh, sức bền, sự mềm dẻo và khéo léo.
Chúng ta thấy rằng trong quá trình phát triển tự nhiên, các tố chất thể lực tăng
theo lứa tuổi. Ở học sinh nam chúng theo 3 giai đoạn : giai đoạn tăng nhanh,
giai đoạn tăng chậm và giai đoạn ổn định. Tố chất thể lực từ giai đoạn tăng
nhanh chuyển qua giai đoạn ổn định theo thứ tự phát triển như sau: tố chất
nhanh phát triển đầu tiên, sau đó tố chất mạnh và cuối cùng là tố chất bền,
quy luật này ở nam và nữ giống nhau.
Các tố chất thể lực thường thể hiện trong khi làm động tác và phụ thuộc
vào cấu trúc của động tác. Ngoài ra việc thể hiện đặc điểm của các tố chất còn
phụ thuộc vào trạng thái của người tập và điều kiện khi thực hiện động tác.
Rèn luỵên các tố chất thể lực cần phải thông qua quá trình tập luyện bằng một
hệ thống chuyên môn. Hệ phương pháp ấy phải xây dựng trên cơ sở hiểu biết
về phản ứng của cơ thể. Như vậy, để rèn luyện và phát triển các tố chất cho
học sinh trong môn học TDTT chúng ta cần phải quan tâm, vào việc phát triển
đầy đủ các tố chất nhanh, mạnh, bền và tố chất mềm dẻo – khéo léo.
Sức nhanh :
Sức nhanh là khả năng thực hiện một hành động trong khoảng thời gian
ngắn nhất. Biểu hiện của nó có 3 hình thức : thời gian tiềm phục (nhanh phản
ứng) đối với động tác, vận tốc của một động tác (nhanh vận tốc), và tần số
- 13 -
gọi là sức mạnh toàn thân; Sức mạnh với một trị số lớn trong một thời gian
ngắn nhất gọi là sức mạnh bột phát. Sức mạnh lớn nhất phụ thuộc vào những
đặc điểm sinh cơ học của động tác, mặt khác vào số lượng tham gia và sự cố
gắng của nhóm cơ bắp, sự điều tiết của hệ thần kinh đối với các nhóm cơ đó.
Nhiệm vụ của giáo viên thể dục là thúc đẩy sự phát triển toàn diện và lâu bền
của sức mạnh, phát triển năng lực sử dụng sức mạnh một cách hợp lý, có hiệu
quả trong những hình thức, điều kiện hoạt động khác nhau. Trong khi tập
luỵên các môn, muốn nâng cao sức mạnh thì cần chú ý những đặc điểm sau :
- Tăng thêm vật nặng khi làm động tác như: bao cát, tạ tay, …
- Tạo ra điều kiện khó khăn yêu cầu học sinh khắc phục như: chạy ngược
chiều gió, chạy trên đường cát xốp dày, …
- Tập những động tác phải khắc phục trọng lượng cơ thể như : nằm sấp
chống đẩy, kéo tay xà đơn, …
- Tập những động tác có tính chất đối kháng như : kéo đẩy giữa 2 người,
các kiểu vật, …
Những vật nặng, động tác, điều kiện để tập luyện sức mạnh nên sử dụng
ở mức độ trung bình và trên trung bình, tức là với mức độ đó học sinh có thể
hoàn thành động tác tương đối nhiều lần.
Cần tập những động tác phát triển sức mạnh động lực, sức mạnh phối
hợp, tránh tập sức mạnh tĩnh lực và tập quá nhiều sức mạnh bộ phận.
Thay đổi tư thế cơ thể khi tập động tác sẽ ảnh hưởng tới nhiều nhóm cơ
bắp khi tập động tác đó và bài tập không đơn điệu dễ kích thích tính tích cực
tập luyện của học sinh.
Tập sức mạnh phải kết hợp với thở, giữ vững nhịp thở và thở sâu là yêu
cầu mà giáo viên cần luôn nhắc nhở học sinh thực hiện, tránh nín thở hoặc thở
không tự nhiên.
- 15 -
Tập sức bền đòi hỏi phải duy trì hoạt động đơn điệu trong thời gian dài.
Vì vậy, giáo viên cần chú ý giáo dục tính kiên trì chịu đựng, ý chí khắc phục
khó khăn cho học sinh. Có thể dùng phương pháp thi đấu, phương pháp trò
chơi để kích thích học sinh tập luyện.
Khéo léo :
Sức khéo léo là loại năng lực tổng hợp phức tạp của con người khi hoàn
thành động tác. Sự khéo léo phụ thuộc vào tính linh hoạt của hệ thần kinh, sự
hoạt động của các cơ quan phân tích, nhất là cơ quan phân tích vận động.
Năng lực phân tích càng chính xác càng hoàn thiện thì khả năng tiếp và biến
đổi động tác càng cao. Muốn rèn luyện tố chất khéo thì phải tập luyện chính
xác các bài tập mà người tập sẽ sử dụng trong thi đấu và kiểm tra. Vì tố chất
khéo léo rất kém khả năng “chuyển”. Cho nên trong quá trình tập người tập
cần tập lặp lại nhiều lần các động tác mang tính chất khéo léo. Vì thế, trong
quá trình giảng dạy chúng ta nên căn cứ vào các đặc điểm phát triển các tố
chất thể lực để dùng phương pháp tập luyện thích hợp và khoa học giúp học
sinh có cơ hội được tập luyện và phát triển các tố chất thể lực.
Để phát triển nhanh và kịp thời sức khéo léo ở lứa tuổi này cần chú trọng
các điểm sau đây :
Làm phong phú thêm những kỹ năng mới một cách thường xuyên, nên
sắp xếp các giờ học đều có nội dung mới hoặc tập động tác có những yếu tố
mới. Khi đã nắm được động tác cần thay đổi luôn hoặc thay đổi đột ngột
những tình huống thực hiện.
Chỉ dẫn kịp thời và chính xác mức độ hoàn thành động tác của học sinh
làm cho các em có cảm giác động tác tốt, phân biệt động tác đúng hay sai,
mức độ đúng sai và tự điều chỉnh.
- 17 -
chính sinh mạng của mình, nhưng cũng nhờ đó con người đã có những bài
học quý giá. Thông thường sau một ngày lao động và đấu tranh vất vả vì cuộc
sống, mọi người thường tụ tập nhau để đón mừng những thành quả lao động
của mình. Trong những cuộc vui chơi như vậy những người tạo ra những
thành quả đó thường diễn tả lại những công việc chính đã làm bằng lời và
những động tác quyết định mà nhờ đó con người đã thắng thiên nhiên, thắng
động vật để đem lại những thành quả. Ví dụ như những thao tác chạy rượt
đuổi các con vật rồi dùng đá và vũ khí thô sơ đã chuẩn bị trước, hoặc mới tìm
được để ném vào con vật, hoặc những thao tác leo từ cành cây này sang cành
cây khác để hái quả; hoặc lội, bơi, lặn để bắt các động vật dưới nước.v.v..
những thao tác đó được nhiều người vui mừng bắt chước, trong quá trình đó,
người này thêm một chút, người kia bớt một chút, biến thành những trò chơi,
những điệu múa, đó chính là sự ra đời của trò chơi vận động. Sự ra đời này
bắt nguồn tư lao động một cách tự nhiên, con người cũng không biết rằng sự
vui chơi đó chính là hình thức tập luyện sơ khai nhất để chuẩn bị cho lao
động. Như vậy có thể nói, trò chơi cận động bắt nguồn từ lao động và sau đó
lại phục vụ cho lao động. Khi khả năng tư duy, khả năng trừu tượng và ngôn
ngữ cũng như những kinh nghiệm tích lũy trong cuộc sống và trong lao động
phát triển đến mức nhất định, người ta thấy rằng không nhất thiết phải tập
luyện những động tác y như những thao tác lao động mà chỉ cần tập luyện
mang tính tượng trưng, đó chính là sự ra đời của những trò chơi vận động
mang tính mô phỏng.
Ngay từ những ngày đầu, trò chơi vận động đã mang tính giáo dục rõ
rệt, người ta sử dụng trò chơi dạy cho con cháu, dạy lớp người trẻ để chuẩn bị
cho họ tiếp bước cha ông tham gia vào công cuộc lao động kiếm sống và đấu
tranh để sinh tồn, phát triển.
phát triển trí tuệ, năng lực, thể chất của chúng. Gieo nhu cầu và đáp ứng nhu
- 19 -
cầu phát triển mọi mặt của trẻ là trách nhiệm của giáo dục. Vì vậy, trong giáo
dục và hoạt động vui chơi ở trường, ở cộng đồng hay ở nhà. Thầy cô giáo, cha
mẹ, người lớn cần nắm vững mục tiêu giáo dục từng cấp, tạo ra những điều
kiện thuận lợi và một môi trường tốt nhất, an toàn nhất để em có hứng thú
hoạt động. Từ đó, mới có điều kiện phát triển thể chất, trí tuệ, thói quen, kỹ
năng về mọi mặt. Vì học sinh tiểu học là trẻ em ở lứa tuổi từ 6đến 11 tuổi, còn
thiếu kinh nghiệm sống, cơ thể phát triển chưa đầy dủ về mọi mặt nên vai trò
tổ chức, hướng dẫn trẻ em hoạt động của thầy cô giáo là vô cùng quan trọng.
Điều thứ hai cần lưu ý trong mục tiêu giáo dục tiểu học là hình thành
những cơ sở ban đầu cho một sự phát triển đúng dắn và lâu dài.
Những cơ sở ban đầu nên hiểu là những yếu tố nền tảng đầu tiên, đó là
những tố chất cơ bản về trí lực, tâm lực, thể lực, kỹ ăng học tập, hoạt
độnggiao tiếp…phát triển toàn diệm nhân cách là mục tiêu của giáo dục của
tất cả các cấp học, ngành học.
Giáo dục ở bậc tiểu học cũng phải đạt mục tiêu toàn diện, nhưng tạm
thời chỉ đòi hỏi những nền tảng đầu tiên của nhân cách. Những giá trị đạo đức
cơ bản đầu tiên được xác định là những chuẩn mực hành vi.
Trong số những nhu cầu tự nhiên của con người có cả nhu cầu rèn luyện
cơ bắp và các cơ quan nội tạng, nhu cầu nhận các thông tin bên ngoài. Khi có
sắc thái cảm súc tốt, nhu cầu này sẽ được bộc lộ. Như ở trẻ em là những trò
chơi, giúp các em hiểu rõ bản thân và thế giới xung quanh một cách tốt hơn.
Khi chơi, các em rèn luyện thể chất của mình, làm phong phú thêm sự
hiểu biết bằng những biểu tượng mới. Nhưng phải chăng điều này chỉ có ở trẻ
em. Nếu lấy lại lời của nhà thơ Nga A.X. Puskin ta có thể nói một cách không
quá đáng rằng “Mọi tuổi tác đều ngoan ngoãn trước trò chơi”. Nói riêng, điều
Vậy là, chỉ một biểu tượng về trò chơi đã đủ khả năng gợi lên trong con
người những cảm xúc tốt, cảm giác mong muốn, hồi hợp thú vị. Trong đó,
- 21 -
như chúng đã nói, những cảm xúc này có thể được xem như liên quan rất ích
đến kết quả: thắng thua của cuộc chơi.
1.5.3 Trò chơi trong chu kỳ tập luyện và trong giờ học.
Thành tích trong thể thao thế giới được nâng cao vô cùng nhanh chóng.
Để đạt được những thành tích đó phải huy động tối đa những khả năng của
con người, đôi khi còn “hơn một chút” nữa.
Ta biết rằng chỉ bằng cách thường xuyên tập luyện các bài tập trong bất
kỳ loại hình thể thao nào mới đảm bảo được việc tạo ra những kỹ xảo vững
chắc, cũng cố những sự hoàn hảo về kỹ thuật. Nhưng ngay cả ở các vận động
viên có ý thức và cần cù nhất điều đó cũng thường gây ra một kiểu “ trì trệ ”
về tâm lý, một sự mệt mỏi, mất hứng thú. Phản ứng tự nhiên của cơ thể đối
với những giờ tập luyện đơn điệu ấy là có. Song, chỉ cần huấn luyện viên thay
đổi hình thái những giờ đó, đưa ra việc thi tốc độ, thì độ chính xác, khéo léo,
cho tiến hành trò chơi hay trò chơi tiếp sức, có nghĩa là đưa thêm buổi tập yếu
tố kích thích xúc cảm, thì người học sẽ quên mệt mỏi và tiếp tục tập luyện
một cách thích thú và say mê.
Đối với quá trình tập luyện thì một vòng quay tương đối trọn vẹn gồm
các thời kỳ nhất định là một đặc điểm tiêu biểu. Cũng không phải nói quá
đáng khi nói rằng, việc áp dụng các trò chơi vận động có thể tiến hành trong
bất kỳ thời kỳ nào (thời kỳ chuẩn bị, thời kỳ thi đấu hay thời kỳ chuyển tiếp),
nhưng khối lượng và tính chất của trò chơi phải khác nhau tùy theo nhiệm vụ
trong từng giai đoạn tập luyện.
Do nhiệm vụ của giai đoạn đầu thời kỳ chuẩn bị là nhằm nâng cao trình
độ phát triển chung của các tố chất thể lực, mở rộng kỹ năng, kỹ xảo vận động
đấu có thể biểu hiện theo công thức: “thi đấu là một trò chơi bao giờ cũng hấp
dẫn mà tất cả các nhà vô địch đều yêu thích.
Trong hệ thống tập luyện, một trong những hình thức cho phép tạo ra
sự sẵn sàng về mặt tâm lý đối với thi đấu (nhất là trong loại hình thể thao
- 23 -
không cần tính chất trò chơi) là việc áp dụng các trò chơi vận động mà trong
điều kiện thi đấu sẽ củng cố và hoàn thiện được các bài tập đã học. Những trò
chơi đó giúp vận động viên hình thành cho mình một tâm lý nhất định. Có thể
gọi việc áp dụng các trò chơi này là sự tập luyện cảm xúc, giáo dục đạo đức ý chí, giúp vận động viên sau này dễ dàng tiếp nhận và vượt qua những căng
thẳng về thần kinh trong thời điểm quan trọng của thi đấu. Trong quá trình
đưa các trò chơi vào tập luyện, huấn luyện viên rèn luyện được sự ăn ý về tâm
lý giữa các vận động viên trong tập thể, một yếu tố quan trọng trong thi đấu
đồng đội hay thi đấu cá nhân. Hệ thống huấn luyện được xây dựng đúng đắn
ở thời kỳ chuẩn bị, trong đo có áp dụng cả những trò chơi vận động, sẽ giúp
vận động viên khi cần thiết đạt được trạng thái sung sức thể thao tốt nhất. Đó
là khi cảm thấy sức lực, khả năng hoạt động rất dồi dào, khi xuất hiện “cảm
giác của cơ thể, của đường chạy, của xà ngang, của trái bóng…”, khi thôi thúc
nguyện vọng được thi đấu và xuất hiện cả khả năng hồi phục rất tốt ngay sau
những khối lượng tập luyện tối đa.
Một phương tiện hoàn thiện hết sức quan trọng thời kỳ thi đấu là chính
bản thân thi đấu vì nó đòi hỏi phải động viên đối đa toàn bộ sức mạnh thể chất
và tinh thần.
Kỹ xảo hình thành trong thể thao, như ta thường thấy, được xuất hiện
không có sự tham gia của cảm xúc trong trò chơi. Hơn nữa nếu chúng xuất
hiện, chúng chỉ phá vỡ các động tác và cản trở việc đạt tới mục đích. Còn
những giờ tập luyện tiến hành giữa các lần thi đấu lại mang tính chất khác.
Một mặt những giờ đó nhằm bảo tồn và hoàn thiện các tiểu xảo có được từ
Do vấn đề chủ yếu của thời kỳ chuyển tiếp là chuẩn bị thể lực chung
được tiến hành trong chế độ nghỉ ngơi tích cực, nên nội dung và tính chất của
trò chơi đưa vào những buổi tập có thể hết sức đa dạng. Điều đó tùy thuộc và
sở thích của huấn luyện viên và các vận động viên. Học thêm những trò chơi
- 25 -
mới chưa biết cũng không phải là không thú vị. Và nếu lại tiến hành các trò
chơi đó ở các địa điểm khác nhau thì càng bổ ích.
Còn về chính giờ tập luyện thì tùy theo nhiệm vụ cơ bản và bổ trợ của
thời kỳ đó mà có thể hoàn toàn không đưa trò chơi vận động vào nội dung của
nó, hoặc đưa vào với tính chất là một bộ phận của khâu chuẩn bị, khâu cơ bản
hay khâu cuối cùng của giờ tập. Không ai có thể khẳng định trước một cách
dứt khoát rằng phải ứng dụng những trò chơi nào, trong những giờ học nào.
Theo chúng tôi, trò chơi chỉ là phần bổ sung của một quá trình học tập tập luyện bình thường. Vấn đề lựa chọn trò chơi và các bài tập giải trí để ứng
dụng trong các thời kỳ tập luyện khác nhau hay trong từng giờ học riêng biệt
hoàn toàn phụ thuộc vào cách nhìn nhận, cách sắp xếp kế hoạch của huấn
luyện viên. Ở đây các cảm tính sư phạm, sự tính toán chính xác về tâm lý có ý
nghĩa quan trọng. Chỉ có thể tổ chức được một quá trình luyện tập nhằm đảm
bảo đạt được những thành tích cao trong thể thao khi hiểu được một cách sâu
sắc những qui luật hoạt động của cơ thể con người.
Cũng như trong các bài tập khác, một quy luật phổ biến trong các trò
chơi là du trò chơi (hay bài tập) có thú vị hay gây cảm xúc tốt, nhưng nếu áp
dụng quá nhiều thì người học có thể sẽ mất hứng thú đối với nó. Dễ hiểu là
trong giờ tập luyện, càng áp dụng nhiều các phương tiện thì giờ học càng
hứng thú. Người huấn luyện giởi bao giờ cũng phải kết hợp với sự cẩn thận,
chính xác trong chuẩn bị bài với sự linh hoạt, đối sử cá biệt trên từng học
sinh. Sự sáng tạo cá nhân kết hợp với kinh nghiệm phong phú và những hiểu
biết tinh tế về chuyên môn (vận dụng trò chơi như một môn học) là vô cùng to