Hình 3.5: Hình ảnh sản xuất đậu thực tế
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 53
Đậu tương (Đậu nành)
Loại bỏ tạp chất
Nước,
Na2CO3
Ngâm hạt
Nước thải
Đãi vỏ
Nước thải
3
Nước
Chất phá bọt,
Na2CO3
Bã thải: Vỏ đậu,
vụn bột đỗ, …
Xay ướt
tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người dân, giải quyết các vấn đề xã
hội phức tạp ở khu vực nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực
nông thôn theo hướng CNH – HĐH, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của địa
phương, góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
Theo điều tra thực tế tại làng nghề, làng Viên Tiêu có 121 hộ tham gia sản
xuất bún, đậu, hơn 50 hộ gia đình khác sản xuất nông nghiệp, sản xuất phục vụ
làng nghề như cơ khí sản xuất công cụ làm bún, xay xát gạo, cung cấp than củi,
... và nghề khác. Trong số các hộ tham gia sản xuất nghề bún, đậu có khoảng
57% hộ sản xuất bún và 43% hộ sản xuất đậu. Mỗi hộ có sản xuất với năng suất
khác nhau, căn cứ vào năng suất sản xuất của các hộ ta có thể chia các hộ theo
các nhóm như sau:
Bảng 3.3: Phân loại nhóm hộ sản xuất bún, đậu tại làng nghề
Sản xuất bún
Sản xuất đậu
Số hộ
Năng suất
sản xuất
(tạ bún/ngày)
9
>3
7
Năng suất
sản xuất (kg đậu/ngày)
52
( Nguồn: Tổng hợp điều tra)
Hiện nay, ở Viên Tiêu, quy mô sản xuất của các hộ gia đình còn ở mức vừa
và nhỏ, chỉ có một số hộ tìm được thị trường tiêu thụ lớn, ổn định, có đủ điều
kiện phát triển quy mô sản xuất lớn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 55
Hình 3.7: Quy mô sản xuất bún, đậu
Cụ thể nhìn vào biểu đồ trên ta thấy: đối với sản xuất bún, số hộ có quy mô
sản xuất lớn là 9 hộ (chiếm 13%), số hộ có quy mô sản xuất vừa là 39 hộ (chiếm
57%), còn lại là hộ sản xuất với quy mô nhỏ ( chiếm 30%); Đối với sản xuất
đậu, số hộ có quy mô sản xuất lớn là 7 hộ (chiếm 13%), số hộ có quy mô sản
xuất vừa là 26 hộ ( chiếm 50%), còn lại 37% là số hộ có quy mô sản xuất nhỏ.
Nhìn chung, nghề làm bún, đậu là nghề chính đem lại nguồn thu nhập chủ
yếu cho người dân Viên Tiêu. Hoạt động sản xuất của nghề mang tính thời vụ do
nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng và nguồn nguyên liệu. Ngoài nghề làm
bún, do quá trình đô thị hóa nhanh nên các ngành nghề khác cũng ngày càng
được mở rộng.
3.2.3.1 Tình hình sản xuất bún và hiệu quả kinh tế của các nhóm hộ làm nghề
sản xuất bún.
Trước kia Viên Tiêu làm bún bằng thủ công, để làm ra sợi bún người làm
Nhóm1
Tổng
Nhóm 2
Tổng
Nhóm 3
Tổng
Bình
quân
181
Thu
Điện
Giá
năng tiêu
gạo (đ)
thụ (kw)
Giá
điện
(đ)
12.500
1.400
80
181x 12.500 + 80 x 1.400 = 2.374.500
Kg/ngày/ hộ
250
8.000
250 x 8.000=2.000.000
1.388
150
8.000
68 x 12.500 + 30 x 1.388 = 891.640
150 x 8.000=1.200.000
1.425.700
1.913.000
505.600
308.360
487.300
( Nguồn: Tổng hợp phiểu điều tra và điều tra phỏng vấn)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 57
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 58
Bảng 3.5: Nguyên liệu đầu vào, khối lượng nước sử dụng và
khối lượng nước thải ra
Số hộ
Kg gạo
điều tra /ngày/hộ
Nhóm hộ
Nhóm 1(nhiều)
Nhóm 2 (Trung bình)
Nhóm 3 (Ít)
Bình quân/hộ
5
32
18
55
181
114
68
105
kg bún
/ngày/hộ
lực đáng kể tới môi trường. Đặc biệt, nhóm hộ 2, sản xuất ở mức trung bình,
tổng lượng nước thải ra môi trường là 46,4 m3, lượng thải ra lớn, chiếm gần 60%
tổng lượng thải của các hộ sản xuất bún. Theo điều tra thực tế, dây truyền sản
xuất bún đều sử dụng điện để vận hành, hầu như không phát sinh chất thải rắn.
Lượng chất thải rắn phát sinh chỉ là xỉ than được sử dụng trong giai đoạn luộc
bột. Tuy nhiên, hầu như các hộ có chăn nuôi, chất thải chăn nuôi được xử lý
bằng biện pháp Biogas,
3.2.3.2 Tình hình sản xuất đậu và hiệu quả kinh tế của các nhóm hộ làm nghề
sản xuất đậu.
Đậu phụ là món ăn quen thuộc, hầu như mỗi ngày đều có mặt trong bữa
cơm của mọi gia đình, bất kể sang giàu hay nghèo hèn. Nghề làm đậu luôn có thị
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 59
trường tiêu thụ ổn định quanh năm, lợi nhuận thu được không cao nhưng ổn
định. Vì lợi nhuận mà nhiều cơ sở đã quá lạm dụng thạch cao để làm đậu phụ
săn chắc và tăng năng suất. Những chiếc đậu càng vàng, trông chắc mịn nhưng
khô cứng thì càng nhiều nguy cơ dùng thạch cao - một chất gây ngộ độc cho cơ
thể. Chính những điều này đã gây ảnh hưởng đến tâm lý người tiêu dùng, ảnh
hưởng đến việc sản xuất đậu. Tuy nhiên, đậu phụ Viên Tiêu có đặc điểm khác
biệt với đậu có sử dụng thạch cao, đậu có màu trắng ngà, hạt đậu sau khi ngâm
được tách vỏ nên đậu ở đây mịn, chắc, dẻo, thơm, ngậy.
Nghề làm đầu phụ đã đem lại thu nhập ổn định cho nhiều gia đình trong
thôn. Trung bình, sau khi trừ đi các khoản chi phí nguyên vật liệu mỗi người làm
nghề có thu nhập khoảng 200.000 – 300.000 đồng/ngày.
Bảng 3.6: Hiệu quả kinh tế của sản xuất đậu
Chi phí
Sản lượng
TB
Kg/ngày/
hộ
Giá
bán
đậu
(đ)
42,9
18.000
45
4.500
10
1.550
90
18.000
42,9x18.000 + 45x4.500 + 15.500 = 990.200
Nhóm 2
Tổng
nhập
629.800
90 x 18.000 =
1.620.000
80
18.000
565.150
80 x 18.000 =
1.440.000
60
18.000
28,6x18.000 + 28x4.500 + 7.750 = 648.550
60 x 18.000 =
1.080.000
431.450
Tổng
Bình
quân
837.000
Kg đậu/ngày/hộ m3 nước/ngày/hộ
kg/ngày/hộ
Nhóm 1(nhiều)
Nhóm 2 (Trung bình)
5
25
42,9
38
90
80
0,43
0,38
Nhóm 3 (Ít)
Bình quân/hộ
15
45
28,6
35,4
60
64
m3 nước
khác kg/ngày/hộ
thải/ngày/hộ
(vỏ đậu)
Số hộ
điều tra
Bã tinh bột
kg/ngày/hộ
Xỉ than
kg/ngày/hộ
5
41,8
15
18
0,4
25
33,5
13,3
Không những làm giàu từ việc bán bún, đậu mà các sản phẩm thừa từ khâu
sản xuất còn được tận dụng làm thức ăn chăn nuôi rất hiệu quả. Hàng năm,
ngoài khoản thu nhập từ bún, đậu, người dân còn thu về hơn 1 tỉ đồng từ chăn
nuôi. Chất thải trong chăn nuôi được sử dụng làm nguyên liệu cho hầm khí
Biogas, tạo ra nguồn nhiên liệu phục vụ việc sản xuất bún, đậu. Việc áp dụng
quá trình khép kín trong sản xuất vừa giảm thiểu ô nhiễm môi trường, vừa tận
dụng hết các nguyên liệu trong sản xuất. Nhờ vậy, thu nhập bình quân của người
dân trong thôn đạt khoảng 15 - 17 triệu đồng/năm.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 62
3.3 Hiện trạng môi trường làng nghề sản xuất bún, đậu Viên Tiêu, xã Tân
Hưng, huyện Tiên Lữ.
3.3.1 Phế thải rắn làng nghề sản xuất bún, đậu
Nguồn phát thải chất thải rắn từ các hoạt động sản xuất làng nghề, sinh hoạt
và chăn nuôi ngày càng gia tăng, trong khi đó công tác quản lý, xử lý chất thải
rắn chưa đạt tiêu chuẩn. Chất thải rắn ở nông thôn ngày càng nhiều, phần lớn
chưa được tổ chức thu gom, chủ yếu người dân tự xử lý (đốt, ủ làm phân bón, đổ
trong vườn, ngoài ngõ, nơi đất trống và các ao làng, …)
3.3.1.1 Tình hình phát sinh, khối lượng thành phần chất thải rắn
Khi tìm hiểu về nguồn gốc phát sinh chất thải rắn tại các làng nghề, ngoài
chất thải rắn phát sinh trực tiếp trong quá trình sản xuất, phải tính đến việc phát
sinh chất thải rắn trong sinh hoạt và chăn nuôi vì các hoạt động sản xuất của
làng nghề gắn liền với hoạt động sinh hoạt, chăn nuôi của người dân. Với đặc
điểm là làng nghề chế biến thực phẩm, chất thải trong quá trình sản xuất hầu như
được tận dụng chăn nuôi, chất thải rắn trong quá trình chăn nuôi như phân động
vật được xử lý để tạo khí đốt hoặc ủ tạo phân bón cho cây.
hiện chương trình phát triển vùng Tiên Lữ đầu tư, hỗ trợ người dân.
Phế thải làng nghề thải bỏ chủ yếu là rác thải sinh hoạt. Lượng rác trong
làng nghề chỉ thu được 75% số hộ gia đình, số hộ còn lại không nộp lệ phí thì
mang rác đổ ra các vùng trũng như ao, hồ, mương. Kết quả điều tra tổng khối
lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh của làng nghề là 434,01 kg/ngày, tương
đương 158,41 tấn/năm. Hiện nay, UBND xã đã tổ chức được đội thu gom rác
tuy nhiên việc hoạt động chưa đem lại hiệu quả cao.
Bảng 3.9: Khối lượng RTSH phát sinh tại xã Tân Hưng
T
T
Thôn
Dân số
(người)
Lượng rác bình quân
(kg/ngày/người)
Khối lượng phát sinh
(kg/ngày)
1 Thôn Quyết Thắng
811
0,45
364,95
0,48
2.687,33
Thôn Viên Tiêu
Thôn Minh Khai
Thôn Tiền Phong
Thôn Quang Trung
6 Thôn Lê Lợi
7 Thôn Trần Phú
8 Toàn xã
( Nguồn:Báo cáo của UBND xã Tân Hưng)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 64
Nhìn vào bảng trên ta thấy: lượng rác phát sinh tại các thôn gần giống nhau,
có thôn Viên Tiêu và thôn Trần Phú cao hơn so với các thôn còn lại do thôn Viên
Tiêu và thôn Trần Phú có hoạt động sản xuất nghề bún, đậu và chế biến nông sản,
dân số cũng đông hơn so với các thôn khác. Lượng rác thải bình quân từ 0,45 –
0,52 kg/ngày/người. Với mức phát thải bình quân này thì toàn xã phát thải khoảng
2,7 tấn/ngày. Đây là một lượng rác thải khá lớn cần được thu gom và xử lý.
Nhìn chung, RTSH ở xã Tân Hưng nói chung, đặc biệt ở 2 thôn có hoạt
động làng nghề nói riêng đang là vấn đề còn nhiều bất cập, gây bức xúc trong
nhân dân, công tác quản lý cũng chưa được chặt chẽ. Hiện nay xã đang tích cực
gốm, sứ, gạch vỡ,…
Nhựa
Tổng
III
Khối lượng (kg/ngày/hộ)
% Khối lượng
1,73
0,45
1,03
0,07
0,18
0,68
0,15
0,32
70,90
18,44
42,21
2,87
7,38
27,87
6,15
13,11
0,21
Về mức lương của công nhân thu gom: các công nhân tham gia vào việc
thu gom do sự vận động của đoàn thể, phụ nữ, các đơn vị, họ không có lương,
cũng không được hưởng chế độ theo quy định của Nhà nước mà chỉ được chi trả
phần lệ phí môi trường do người dân đóng góp. Mức phí môi trường là
3.000đ/người/tháng. Mức phí môi trường ở đây là sự thỏa thuận giữa người dân
với tổ VSMT nên nó phần nào phản ánh được mức sống và khối lượng rác thải
phát sinh của từng hộ dân.
b/ Về khối lượng, tỷ lệ thu gom, tần suất thu gom
Theo điều tra thực tế thì 75% các hộ gia đình trong làng được thu gom rác
bởi công nhân thu gom; trong đó, vẫn có một số hộ gia đình đổ rác không đúng
nơi quy định, đốt rác cùng lá cây quét trong vườn, đổ xuống ao hồ, xác động vật
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 66
chết vứt ra sông, lá rau già, hỏng không sử dụng được còn vứt bên lề đường, bờ
ruộng gây ô nhiễm và khó khăn cho người thu gom dẫn đến tỷ lệ thu gom còn
thấp so với lượng phát thải của cả làng.
Kết quả điều tra tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh của làng
nghề là 434,01 kg/ngày, tương đương 158,41 tấn/năm. Tuy nhiên chỉ thu gom
rác thải sinh hoạt được từ 75% số hộ dân trong làng. Do đó khối lượng thu gom
được là 283,19 kg/ngày tương đương với tỷ lệ thu gom bình quân là 87%.
Tần suất thu gom: thu gom 2 lần/tuần và quét sạch đường trong xã.
Theo điều tra, một phần không nhỏ số người được hỏi phản ánh thái độ của
công nhân thu gom còn chưa tốt; chỉ thu gom rác của các hộ gia đình để ở túi
nilon, xô hoặc bao tải, không quét dọn đường làng, ngõ xóm và rác rơi vãi, không
thu gom rác thường xuyên theo đúng thời gian quy định gây mùi hôi thối,…
3.3.2 Nước thải làng nghề sản xuất bún, đậu
Một đặc điểm chung của các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm là các
Nước sử dụng trong sản xuất bún là rất lớn. Trong mỗi quá trình sản xuất
bún đều cần sử dụng nước, lượng nước đầu vào cao hơn lượng nước thải ra.
Nguyên liệu sử dụng để làm bún hoàn toàn từ gạo, do vậy, tính chất nước thải
bún là giàu các chất hữu cơ, dễ phân hủy sinh học. Trong sản xuất bún, ước tính
cứ 1 kg gạo sản xuất được từ 2 - 2,3 kg bún và tiêu thụ khoảng 14 lít nước. Với
năng suất trung bình 2,5 tạ bún/ngày, mỗi hộ sản xuất trong làng sử dụng
khoảng 1,14 tạ gạo/ngày, tương ứng với việc sử dụng 1,6 m3 nước/ngày và thải
ra 1,45 m3 nước thải/ngày. Trong số đó, chỉ một phần nhỏ dùng cho chăn nuôi,
còn lại hầu hết nước thải đổ vào hệ thống cống trong làng. Cụ thể lượng nước
thải ra ở các công đoạn trong quá trình sản xuất bún như sau:
Bảng 3.11 : Ước tính lượng nước thải từ các công đoạn sản xuất bún
Lượng nước sử dụng
Lượng nước thải ra
Vo gạo
đầu vào (lít/2,5 tạ bún)
320
(lit/2,5 tạ bún)
320
2
3
Ngâm gạo
Chắt nước (bột ngâm)
240
Công đoạn sản xuất
1
(Nguồn: Tổng hợp phiếu điều tra)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 68
Nhìn vào bảng trên nhận thấy giai đoạn vo gạo, đãi bún cần sử dụng nhiều
nước nhất, lượng nước đầu vào và lượng thải ra gần như không có sự chênh lệch
nhau, đều được thải ra môi trường, chiếm 52% lượng nước thải ra trong quá
trình sản xuất.
- Nước thải trong sản xuất đậu
Trong sản xuất đậu, ước tính cứ 1 kg đậu tương khô có thể sản xuất được từ
2 – 2,2 kg đậu thành phẩm và tiêu thụ khoảng 10 lít nước. Với năng suất trung
bình 80kg/ngày đậu phụ được sản xuất cần sử dụng khoảng 32 - 36 kg/ngày đậu
tương khô, tiêu thụ khoảng 363 - 400 lít nước và thải ra 320 - 360 lít nước thải.
Bảng 3.12 Ước tính lượng nước thải từ các công đoạn sản xuất đậu
STT Công đoạn sản xuất
Lượng nước sử dụng
đầu vào (lít/80kg đậu)
Lượng nước thải ra
(lít/80kg đậu)
1
Nhìn vào bảng trên nhận thấy giai đoạn ngâm đỗ và đãi đỗ cần sử dụng
nhiều nước nhất, chiếm 44,73% lượng nước cần sử dụng. Giai đoạn xay ướt chỉ
sử dụng nước đầu vào để tạo sữa đậu và không có nước thải ra. Giai đoạn ép đậu
không cần sử dụng nước giai đoạn đầu vào, chỉ sử dụng khoảng 5 lít nước đậu
chua để tạo kết tủa đậu hoa, nước ép đậu một phần được sử dụng quay vòng tạo
nước đậu chua, một phần thải bỏ.
Ngoài nước thải sản xuất bún, đậu kèm theo đó là nước thải sinh hoạt và
nước thải từ hoạt động chăn nuôi. Một hộ gia đình trung bình có 5 người thì một
ngày thải ra khoảng 1 - 1,2 m3 nước thải sinh hoạt. Đối với các hộ sản xuất kèm
theo chăn nuôi thì lượng nước thải tăng thêm 0,8 m3 nước từ hoạt động chăn
nuôi lợn (rửa chuồng, tắm cho lợn, ...). Như vậy, ước tính lượng nước thải đối
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 69
với các hộ sản xuất bún là 3,25 – 3,5 m3/ngày/hộ gia đình, đối với các hộ sản
xuất đậu là 2,14 – 2,35 m3/ngày/hộ gia đình.
-
Thực trạng công tác xử lý nước thải
Với nhu cầu nước và lượng nước thải lớn như làng nghề sản xuất bún, đậu
Viên Tiêu, thêm vào đó là đặc điểm của làng nghề hiện nay là sản xuất còn mang
tính tự phát, nhỏ lẻ, vốn ít… nên việc đầu tư các công nghệ cho xử lý môi trường
hầu như chưa có. Do đó 100% nước thải được xả trực tiếp ra môi trường tự nhiên
mà không qua xử lý.
Viên Tiêu là làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, với các hoạt động có
lượng nước thải lớn nhất là sản xuất bún, đậu, chăn nuôi. Vào thời điểm sản xuất
trung bình mỗi ngày đêm toàn xã thải ra khoảng hơn 360 m3 nước, được tập
pH
T
rắn lơ
lửng
Mẫu
(TSS)
Nhu
Nhu cầu
cầu oxy
oxy hóa
Hàm
Amoni
lượng
+
hóa học sinh học (N-NH4 ) photphat
(COD)
190
156,8
2,735
0,942
15500
2
M2
6,43
102,1
296
157,1
2,073
0,653
5500
3
3,662
5800
5
M5
6,58
56,7
136
74,7
1,596
0,369
6900
6
QCVN
5,5-9
50
30
Hình 3.9: Biểu đồ so sánh hàm lượng BOD5 các mẫu với
QCVN 08 – 2008 cột B1
Hình 3.10: Biểu đồ so sánh hàm lượng COD các mẫu với
QCVN 08 – 2008 cột B1
Nhìn vào biểu đồ ta thấy: Với các mẫu nước thải lấy tại nguồn (M1 và M3)
so sánh với QCVN 08-2008 nhận thấy hàm lượng BOD5, COD cao hơn nhiều
lần so với tiêu chuẩn cho phép. Cụ thể: mẫu M1 – mẫu nước thải sản xuất đậu
hàm lượng COD vượt tiêu chuẩn thải 6,3 lần, mẫu M3 – mẫu nước thải sản xuất
bún vượt tiêu chuẩn thải 5,9 lần; mẫu nước thải sản xuất đậu (mẫu M1) hàm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 72
lượng BOD5 vượt tiêu chuẩn thải 10 lần, mẫu nước thải sản xuất bún (mẫu M3)
vượt tiêu chuẩn thải 11 lần. Như vậy có thể thấy rằng, nước thải sản xuất của
làng nghề làm bún, đậu Viên Tiêu chứa lượng chất hữu cơ rất lớn.
Đối với nước mặt, các mẫu M2, M4, M5 là các mẫu lấy tại mương thải chung
của các hộ gia đình và của làng, nơi tập trung và hòa trộn nhiều nước thải nhất tôi
nhận thấy rằng, M2 là mẫu lấy tại điểm hòa trộn nước thải sản xuất đậu, sinh hoạt,
chăn nuôi tại các hộ gia đình, hàm lượng BOD5 là 157,1 mg/l, COD là 296 mg/l;
M4 là mẫu lấy tại điểm hòa trộn nước thải sản xuất bún, sinh hoạt, chăn nuôi tại các
hộ gia đình, hàm lượng BOD5 là 144,3 mg/l, COD là 152 mg/l. Tuy nhiên, sau khi
chảy qua các cống thải và tại ao tiếp nhận nước thải của cả làng tại mẫu M5 hàm
lượng COD và BOD5 giảm dần, giảm 2 lần so với 2 mẫu lấy tại cống thải tập chung
của các hộ gia đình (hàm lượng BOD5 là 74,7 mg/l và hàm lượng COD là 136
mg/l). Nếu so sánh với QCVN 08 - 2008 cột B1 nhận thấy các mẫu nước mặt (từ
lượng PO43- - P của mẫu M4 cao hơn hẳn các mẫu còn lại, hàm lượng PO43- - P
cao gấp 12 lần so với QCCP. Còn mẫu M5 lấy tại ao tiếp nhận của cả làng có
hàm lượng PO43- - P cao gấp 1,2 lần so với QCCP.
Hình 3.12: Biểu đồ so sánh hàm lượng PO43- - P các mẫu với
QCVN 08 – 2008 cột B1
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 74
Như vậy, lượng chất dinh dưỡng qua phân tích tại các mẫu đã lấy ta nhận
thấy đều vượt quá QCCP nhiều lần, tại điểm tiếp nhận cuối cùng, hàm lượng
chất hữu cơ có giảm nhiều so với các mẫu lấy trực tiếp tại các nguồn thải, chứng
tỏ khả năng tự làm sạch của ao tiếp nhận chung của làng rất tốt. Tuy nhiên khả
năng làm sạch của ao là có giới hạn, với mức xả thải như hiện nay đã gây nên
hiện tượng phú dưỡng tại các ao ở đây.
* Coliform
Coliform là một chỉ tiêu thông dụng để đánh giá mức an toàn vệ sinh trong
nước vì số lượng của chúng hiện diện trong mẫu chỉ thị khả năng có sự hiện diện
của vi sinh vật có khả năng gây bệnh. Các mẫu nước thải có hàm lượng chất hữu
cơ càng lớn thì sự xuất hiện vi sinh vật có khả năng gây bệnh càng cao.
Hình 3.13: Biểu đồ so sánh chỉ thị số lượng Coliform các mẫu với
QCVN 08 – 2008 cột B1
Nhìn vào biểu đồ trên ta nhận thấy chỉ tiêu tổng Coliform chưa vượt
QCVN. Đặc biệt có mẫu M1 vượt tiêu chuẩn cho phép hơn 3 lần, mẫu M3 vượt
tiêu chuẩn cho phép 1,58 lần. Giải thích cho kết quả này ta có thể thấy đây là 2
mẫu nước thải được lấy trực tiếp trong hoạt động sản xuất bún, đậu thải trước
khi thải chung vào cống thải chung của gia đình, điều này chứng tỏ hàm lượng
trước khi thải vào cống thải chung của gia đình, đây là nước thải được lấy trong
giai đoạn ép đậu.
Từ các so sánh trên có thể kết luận rằng, nước mặt tại Viên Tiêu đang bị ô
nhiễm, mà nguyên nhân chủ yếu là do lượng chất hữu cơ lớn được thải trực tiếp
từ quá trình sản xuất bún, đậu và hoạt động chăn nuôi lợn tận dụng phụ phẩm
của quá trình sản xuất.
3.4 Đề xuất một số giải pháp bảo vệ môi trường làng nghề sản xuất bún,
đậu tại xã Tân Hưng, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
Sự phát triển của các làng nghề sản xuất bún đậu Viên Tiêu đã tạo việc làm
và tăng thu nhập đáng kể cho người dân, góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh
tế địa phương. Tuy nhiên, cùng sự phát triển của làng nghề thì mặt trái là vấn đề
ô nhiễm môi trường đi cùng đặc thù của hoạt động sản xuất theo ngành nghề và
loại hình sản phẩm đang là thách thức. Làng nghề bún đậu Viên Tiêu trong quá
trình sản xuất nhu cầu sử dụng nước rất lớn và nước thải có thành phần hữu cơ
cao, vì vậy xử lý nước thải là vấn đề đáng quan tâm. Để giải quyết vấn đề thải
tại làng nghề, địa phương cần phải tiến hành nhanh chóng và triệt để nhiều giải
pháp nhằm khắc phục tình trạng ảnh hưởng đến môi trường.
3.4.1. Hoàn thiện cơ chế, chính sách về BVMT làng nghề
Để bảo vệ môi trường làng nghề thì trước hết cần xây dựng và ban hành
các văn bản quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa Luật Bảo vệ môi trường và
hướng dẫn về bảo vệ môi trường làng nghề, chính sách về BVMT phù hợp với
đặc thù của làng nghề: Quy chế BVMT làng nghề; quy chuẩn kỹ thuật địa
phương về môi trường; phí bảo vệ môi trường đối với chất thải; hướng dẫn kỹ
thuật áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn và xử lý chất thải.
3.4.2. Tăng cường công tác truyền thông, đào tạo và nâng cao năng lực và ý
thức BVMT làng nghề
Để thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường thì việc cần thiết là phải nắm
vững được pháp luật về BVMT. Vì vậy đây là việc hết sức quan trọng, bao gồm: