TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA: SP TIỂU HỌC- MẦM NON
ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP SỬA LỖI PHÁT ÂM
CHO HỌC SINH LỚP 1 DÂN TỘC THIỂU
SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 2 THƯỢNG
TRẠCH- BỐ TRẠCH- QUẢNG BÌNH
DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG TIỂU LUẬN
HS
GV
HSDTTS
SGK
TH
Học sinh
Giáo viên
Học sinh dân tộc thiểu sô
Sách giáo khoa
Tiểu học
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ..................................................................................................
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................
2. Mục đích nghiên cứu .........................................................................................
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................
Nguyên nhân về phía gia đình, phụ huynh học sinh .................................
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO HỌC
SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ LỚP 1 TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 2
THƯỢNG
TRẠCH.......................................................................................................
1. Một sô phương pháp thông dụng dạy học sinh lớp 1 cách phát
âm ...........
a. Phương pháp luyện tập phát âm theo mẫu ...............................................
b. Phương pháp luyện tập tổng hợp, phân tích cách phát âm ......................
c. Phương pháp trò chơi học tập ..................................................................
2. Quy trình sửa lỗi phát âm
…………………………………………..
a. Sửa lỗi phát âm phụ âm
đầu .....................................................................
b. Sửa lỗi phát âm phần
vần ..........................................................................
c. Sửa lỗi phát âm về thanh
điệu ...................................................................
d. Một số biện pháp
khác ...............................................................................
3. Thực nghiệm dạy học ……………………………………….
a. Mục đích thực nghiệm ………………………………………….
b. Đối tượng, thời gian, địa bàn thực nghiệm ………………………
c. Nội dung thực nghiệm …………………………………………..
d. Kết quả thực nghiệm …………………………………………….
PHẦN KẾT LUẬN ............................................................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................
làm hấp dẫn người nghe hơn. Đặc biệt ở phân môn Tập đọc việc rèn phát âm
cho HS là một phần quan trọng của tiếng Việt. Sửa lỗi phát âm cho học sinh
tiểu học được thực hiện chủ yếu qua quá trình học Tập đọc và ở nhiều phân
môn khác giúp học sinh nắm vững cách phát âm đúng và rèn kĩ năng đọc.
Nói cách khác, nó giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen phát âm
chuẩn.
Phát âm chuẩn có tầm rất quan trọng nhưng trong thực tế việc dạy và
học phát âm chưa đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của ngành giáo dục
và toàn xã hội. Thực trạng dạy học trong thời gian gần đây cho thấy, ở đa
số các trường Tiểu học miền núi tình trạng học sinh phát âm sai còn phổ
biến đặc biệt là đối với học sinh dân tộc thiểu số ở đầu cấp. Qua khảo sát
quá trình phát âm của học sinh một số trường Tiểu học ở khu vực miền núi,
ta thấy việc sửa lỗi phát âm cho học sinh vẫn còn mang tính chủ quan áp
đặt, hệ thống bài tập sửa lỗi phát âm hầu như chưa được xây dựng. Trường
Tiểu học số 2 Thượng Trạch( Bố Trạch- Quảng Bình) là trường có số lượng
học sinh dân tộc thiểu số tương đối đông. Học sinh khối lớp 1 phát âm còn
hạn chế và còn ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ. Việc giúp các em phát âm đúng
đang là vấn đề được nhà trường và phụ huynh quan tâm.
Căn cứ vào thực tế và nhận thấy tầm quan trọng của việc sửa lỗi phát
âm cho học sinh tiểu học cùng với thực trạng phát âm lệch chuẩn của học
sinh dân tộc thiểu số lớp 1 ở Trường Tiểu học số 2 Thượng Trạch tôi mạnh
dạn chọn đề tài “Đề xuất biện pháp sửa lỗi phát âm cho học sinh lớp 1 dân
tộc thiểu số trường Tiểu học Số 2 Thượng Trạch– Bố Trạch – Quảng
Bình”.
2.Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng phát âm, nguyên nhân phát âm sai của
học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số Trường Tiểu học số 2 Thượng Trạch- Bố
Trường Tiểu học số 2 Thượng Trạch – Bố Trạch – Quảng Bình nhằm khắc
phục thực trạng phát âm lệch chuẩn cho các em.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng hai nhóm phương pháp:
a. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Mục đích khi sử dụng nhóm phương pháp này là nhằm thu thập
thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản tài liệu, các công trình
khoa học có liên quan làm cơ sơ lí luận của tiểu luận.
Phương pháp chủ yếu: phương pháp đọc tài liệu, phương pháp phân
tích, phương pháp tổng hợp hóa và khái quát hóa.
b. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát: thu thập những biểu hiện phát âm sai ở học
sinh lớp 1 dân tộc thiểu số tại một số trường tiểu học miền núi thông qua
thực tiễn, các phương tiện thông tin nhằm phục vụ cho việc đánh giá thực
trạng và đề xuất các biện pháp sửa lỗi phát âm cho học sinh dân tộc thiểu số
lớp 1 Trường Tiểu học số 2 Thượng Trạch.
Phương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp lí thuyết và thực
tiễn để khái quát và rút ra những kết luận cần thiết.
6. Đóng góp của tiểu luận
Đề tài nghiên cứu thành công là tài liệu tham khảo cho giáo viên Tiểu
học dạy lớp 1 Trường Tiểu học số 2 Thượng Trạch và sinh viên khoa Tiểu
học – Mầm non trường Đại học Quảng Bình trong quá trình học tập, nghiên
cứu và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
Sửa lỗi phát âm cho học sinh lớp 1 đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số
là vấn đề được nhiều giáo viên quan tâm. Hy vọng các đề xuất trong tiểu
luận sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sửa lỗi phát âm cho học sinh dân tộc
pháp luyện tập phát âm theo mẫu, phương pháp luyện tập tổng hợp – phân
tích, phương pháp cấu âm, phương pháp trò chơi học tập. Đồng thời nêu lên
mô hình lý thuyết của biện pháp trên
Tiến hành thiết kế giáo án mẫu có vận dụng các phương pháp đề xuất
đối với lớp 1 để kiểm tra mô hình lý thuyết đã đưa ra.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. Học vần và phát âm trong tiếng Việt
a. Quan niệm về dạy học vần cho học sinh lớp 1
Dạy học vần ở lớp 1 là việc tổ chức cho học sinh làm quen, nhận diện
các âm, vần, tiếng, … rèn cho học sinh các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết.
Tuy nhiên do chữ viết là một đối tượng mới của học sinh lớp 1 nên kĩ năng
viết và kĩ năng nói (kĩ năng phát âm) được chú trọng. Đồng thời thông qua
việc dạy chữ, dạy âm, học vần còn cung cấp vốn từ cho học sinh rèn cho
học sinh đọc, phát âm đúng, nói đúng các câu ngắn, tạo cho các em lòng
yêu thích thơ văn. Phân môn Học vần và phát âm ở tiểu học giúp cho học
sinh có kĩ năng nghe, nói, đọc, viết trong đó đọc và viết được đặc biệt ưu
tiên. Học vần có nhiệm vụ giúp học sinh nắm được một cách có hệ thống
các âm vị trong tiếng Việt như nguyên âm, phụ âm, thanh điệu. Nắm được
cách dạy chữ ghi âm như a, b, c,…; các dấu ghi thanh như thanh huyền,
thanh sắc, thanh ngã, thanh hỏi, thanh nặng. Thuộc bảng chữ cái tiếng Việt
và phát âm một cách chính xác. Biết ghép âm, thanh điệu, vần, nắm được vị
trí các âm trong vần, biết ghép phụ âm đầu với vần tạo thành tiếng và phát
âm đúng. Biết phát âm đúng chính âm, viết đúng chính tả, biết đọc các từ,
các câu trong đoạn văn, thơ trong bài học.
thú của mình. Thầy cô là hình tượng mẫu mực được trẻ tôn sùng, mọi điều
trẻ đều nhất nhất nghe theo thầy cô, sự phát triển nhân cách của học sinh
lớp 1 phụ thuộc phần lớn vào quá trình dạy học và giáo dục của thầy, cô
trong nhà trường vì vậy sửa lỗi phát âm cho học sinh lớp 1 giúp các em phát
âm chuẩn tiếng Việt, đọc đúng tiếng Việt từ đó phát triển khả năng học tốt
môn Tiếng Việt và các môn học khác là điều kiện phát triển toàn diện cho
học sinh tiểu học trong giai đoạn hiện nay.
* Cơ sở ngôn ngữ
Môn Tiếng Việt lớp 1 là hệ thống khái niệm ngữ âm, được định nghĩa
bằng cấu trúc ngữ âm của tiếng. Rời khỏi điểm xuất phát, tư duy đi sâu vào
bên trong, nhưng mới đạt đến mức độ thô, phân giải cấu trúc ngữ âm ra làm
ba bộ phận cấu thành: Thanh – phần đầu – phần vần. Trong ba bộ phận ấy
thanh thì đã rõ ràng gồm 6 thanh là thanh huyền, thanh sắc, thanh hỏi, thanh
ngã, thanh nặng, thanh ngang (tên chữ không ghi dấu khi viết). Với hai bộ
phận âm đầu vần, còn phải tiếp tục phân giải khi nào đến đơn vị ngữ âm
nhỏ nhất (âm vị) thì mới dừng lại.
Có thể mô tả cấu trúc đầy đủ như sau: hệ thống ngữ âm của âm tiết tiếng
Việt có 5 thành phần được sắp xếp theo sơ đồ sau:
Thanh điệu
Phụ âm đầu
Âm đệm
Âm chính
Âm cuối
* Thành phần ở vị trí 1 là âm đầu do các phụ âm đảm nhiệm.
k, m, p, ng.
- Phụ âm sát: Hơi đi qua kẽ hở miệng: p, v, s, z, l, x, y, h.
- Phụ âm vang: Hơi thoát ra đầu lưỡi và bên lưỡi: m, n, nh.
- Phụ âm ồn: Hơi thoát ra đường miệng có tiếng ồn: b, d, t, k, p, f, v, x,
z, y, h.
- Phụ âm hữu thanh, vô thanh trong các âm ồn: Căn cứ vào chỗ dây
thanh có rung hay không rung người ta chia ra:
+ Phụ âm hữu thanh: Dây thanh rung (d, v, y).
+ Phụ âm vô thanh: Dây thanh không rung (t, k, c, b, s, x, h).
- Về vị trí cấu âm ta phân phụ âm thành:
+ Phụ âm môi: p, b, m, f, v,
+ Phụ âm lưỡi: d, t, s, z, l, n
+ Phụ âm hầu: h
Trong các âm lưỡi sự đối lập nhau giữa đầu lưỡi hẹp: r, t, s, z, l, n; đầu
lưỡi quật: đ, a.
Phần vần là do thành phần của âm đệm, âm chính, âm cuối ghép với
nhau thành một bộ phận gọi là phần vần.
Ví dụ: Âm tiết Loan:
O là âm đệm
A là âm chính
N là âm cuối
Oan
là
phần
vần.
đầu bậc tiểu học, tri giác thường gắn với hành động, hoạt động thực tiễn của
trẻ.
* Trí nhớ
Do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất của học sinh ở lứa tuổi
này tương đối chiếm ưu thế nên trí nhớ trực quan – hình tượng được phát
triển hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic. Các em nhớ và giữ gìn chính xác những sự
vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa những lời
giải thích dài dòng. Học sinh lớp 1 có khuynh hướng ghi nhớ máy móc
bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần, có khi chưa hiểu được những mối liên hệ,
ý nghĩa của tài liệu học tập đó. Các em thường học thuộc lòng tài liệu theo
đúng từng câu, từng chữ và không sắp xếp lại, sửa đổi lại những lời lẽ của
mình. Trong quá trình dạy học, giáo viên cần giúp học sinh biết cách khái
quát hóa đơn giản mọi vấn đề.
* Ngôn ngữ
Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo tuy nhiên học
sinh dân tộc thiểu số ngôn ngữ nói còn hạn chế. Nhờ có ngôn ngữ mà trẻ có
khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và khám phá bản
thân thông qua các kênh thông tin khác nhau. Ngôn ngữ có vai trò quan
trọng với quá trình nhận thức cảm tính và lí tính của trẻ. Nhờ có ngôn ngữ
mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển.
* Tư duy
Tư duy của trẻ mới đến trường là tư duy cụ thể mang tính hình thức
bằng cách dựa vào các đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiện
tượng cụ thể. Nhờ ảnh hưởng của việc học tập, học sinh tiểu học dần dần
chuyển từ nhận thức các mặt bên ngoài của hình tượng đến nhận thức
những thuộc tính và dấu hiệu bản chất của hình tượng vào tư duy. Trong
quá trình dạy học, giáo viên phải nắm vững những đặc điểm của quá trình
học âm vần TV. HSDTTS học TV bắt đầu bằng việc học vần. Mỗi bài học
vần các em được học từ một đến hai âm, vần mới, một đến hai tiếng mới, từ
mới; được làm quen và học đọc từ bốn đến sáu từ ứng dụng cùng một bài
đọc ngắn từ một đến ba hoặc bốn câu. Giáo viên cần quan tâm đến việc phát
âm đúng với những âm, vần, tiếng, từ cụ thể ngay từ những bài học âm vần
đầu tiên.
Để phát âm đúng đòi hỏi các em phải được hướng dẫn theo những
phương pháp phù hợp, có thời gian thực hành luyện tập. Giáo viên là người
có vai trò quan trọng trong các hoạt động tiếp nhận hệ thống âm vần TV
của các em.
3. Phân môn Học vần lớp 1
a. Nội dung chương trình dạy học vần lớp 1.
Nội dung chương trình môn TV lớp 1 được xác định: về kĩ năng, kiến
thức, ngữ liệu.
Kĩ năng:
Xác định được kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết.
* Kĩ năng nghe.
- Nghe trong hội thoại:
+ Nhận biết sự khác nhau của các âm, các thanh và kết hợp của
chúng; nhận biết sự thay đổi về độ cao, ngắt, nghỉ hơi.
+ Nghe hiểu câu kể, câu hỏi đơn giản.
+ Nghe hướng dẫn hoặc yêu cầu.
- Nghe hiểu văn bản: nghe hiểu một câu chuyện nội dung thích hợp với
HS lớp 1.
* Kĩ năng nói.
- Nói trong hội thoại:
+ Nói đủ to, rõ ràng, thành câu.
+ Biết đặt và trả lời câu hỏi lựa chọn về đối tượng.
- Học thêm 200 đến 300 từ ngữ ( kể cả thành ngữ, tục ngữ).
* Ngữ pháp.
- Nhận biết cách dùng dấu chấm, dấu
chấm hỏi
- Ghi nhớ các nghi thức lời nói.
* Văn
- Làm quen với các bài dạng văn vần, văn xuôi.
Ngữ liệu:
* Giai đoạn học chữ: là những từ, ngữ, câu ngắn, đoạn ngắn, các thành ngữ,
tục ngữ, ca dao, … phù hợp với yêu cầu học chữ và rèn kĩ năng. Ngữ liệu
phù hợp với lứa tuổi của HS, có tác dụng và mở rộng sự hiểu biết.
* Giai đoạn sau học chữ: là những câu, đoạn nói về thiên nhiên, gia đình,
trường học, thiếu nhi. Ngữ liệu có cách diễn đạt trong sáng, dễ hiểu, có tác
dụng giáo dục giá trị nhân văn và bước đầu cung cấp cho HS những hiểu biết
về cuộc sống. Chú ý thích đáng đến các văn bản phản ánh đặc điểm về thiên
nhiên, đời sống văn hóa, xã hội … của các địa phương trên đất nước ta.
b. Sách giáo khoa.
Cấu trúc sách
TV 1 phần Học vần gồm 103 bài chia làm 3 phần:
-Phần thứ nhất gồm 6 bài đầu, dành cho việc làm quen với chữ cái e, b , các dấu
thanh và cấu trúc tiếng dạng đơn giản nhất.
-Phần thứ hai gồm 25 bài tiếp theo dành cho việc học chữ cái và âm, cấu trúc
tiếng có vần là một nguyên âm.
-Phần thứ 3 gồm 72 bài còn lại dành cho việc học các vần thường gặp, cấu trúc
tiếng có vần phức tạp dần.
Phần Học vần của sách TV 1 được in ở hai tập. Tập 1 gồm 83 bài, tập
hai gồm 20 bài, cụ thể như sau:
Phần
làm quen.
- Trang 2
+ Tranh gợi ý chủ đề luyện nói.
Cấu trúc của bài dạy âm- vần mới:
- Trang 1:
+ Các đơn vị chữ ghi âm/vần được dạy trong bài.
+ Tiếng chứa các đơn vị chữ được dạy trong bài ( tiếng khóa).
+ Tranh minh họa cho từ chứa tiếng chứa đơn vị chữ học trong bài.
+ Từ chứa tiếng chứa đơn vị chữ học trong bài ( từ khóa).
+ Từ/ ngữ ứng dụng chứa đơn vị chữ vừa học.
+ Thể hiện chữ viết thường của các đơn vị
chữ vừa học.
- Trang 2:
+ Tranh minh họa câu/ đoạn chứa đơn vị chữ vừa học.
+ Câu/ đoạn chứa đơn vị chữ vừa học ( câu/ đoạn ứng dụng).
+ Chủ đề luyện nói
+ Tranh minh họa chủ đề luyện nói.
Cấu trúc bài ôn tập:
- Trang 1:
+ Tiêu đề ôn tập.
+ Mô hình tiếng/vần chứa đơn vị mẫu đã học.
+ Tranh minh họa ( hoặc gợi ý) từ chứa tiếng/vần chứa các đơn vị
mẫu đã học.
+ Bảng ôn tập chứa các kết hợp cùng loại.
+ Từ ngữ ứng dụng chứa các kết hợp cùng loại.
+ Thể hiện chữ viết thường của các đơn vị cùng loại.
- Trang 2:
“Thượng Trạch là 1 trong 10 xã vùng cao biên giới đặc biệt khó khăn của
tỉnh Quảng Bình, điện lưới quốc gia chưa đến được. Trường tiểu học Thượng
Trạch có 19 điểm trường phân bố khắp 19 bản, xa nhất là bản Aky cách điểm
trung tâm 30 Km đường rừng. Do điều kiện khắc nghiệt, nên trong 49 giáo
viên ở trường thì chỉ có duy nhất 1 cô giáo, chỗ ăn ngủ của các thầy cô cũng
được dựng tạm bằng thân nứa và lá cọ. Ở những điểm trường xa, các thầy cô
phải đi bộ 2 ngày đường rừng mới đến được, đường đi lên dốc xuống khe,
những tảng đá to xếp chồng lên nhau tầng tầng lớp lớp, nếu bất cẩn có thể rơi
xuống vực thẳm… Điều thiệt thòi nhất của học sinh nơi đây đó là cả khi ở lớp
hay ở nhà các em đều phải học tập và sinh hoạt trong tình trạng không có
điện, không có sóng điện thoại. Đường xá hiểm trở khó đi, thiên nhiên
“Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây” lại vô cùng khắc nghiệt nên việc học
tập, tiếp thu cái mới của học sinh Thương Trạch gần như bị cô lập với thế
giới bên ngoài. Bên cạnh đó, hoàn cảnh gia đình đông anh em, khó khăn
chồng chất khó khăn nên để được tiếp tục đến trường, hầu hết các em đổng
bào dân tộc Ma Coong ở Thượng Trạch đều phải cần mẫn lên nương lên rẫy
lao động phụ giúp gia đình, nhiều bữa phải ăn rau rừng thay cơm để chống
đói...”.
Đối với HS lớp 1 GV cần sử dụng các phương pháp dạy học mới nhằm
phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của
từng trường để thu hút HS tham gia học tập. Qua điều tra ở một số GV dạy
lớp 1, các GV cho biết họ rất ngại tổ chức trò chơi cho HS trong giờ Học vần
vì đây là phương pháp đòi hỏi GV phải có sự quản lý lớp học khá tốt. Ngoài
ra do môi trường lớp học nhỏ nên khi tổ chức trò chơi. HS lớp 1 đang bước
vào giai đoạn chuyển đổi hoạt động: từ hoạt động vui chơi sang hoạt động
học tập nên khi được tham gia trò chơi, HS sẽ quá khích làm ảnh hưởng đến
các lớp học khác và GV khó dẫn dắt HS quay trở lại hoạt động học tập sau
khi kết thúc trò chơi. Tuy nhiên đây là những suy nghĩ hết sức sai lầm vì khi