Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt
MỤC LỤC
TT
I
1
2
3
4
5
II
1
2
2.1
2.2
2.3
2.4
2.5
3
3.1
3.2
3.3
3.4
3.5
4
III
1
2
2
2
3
3
3
4
4
5
5
5
6
7
7
8- 16
16
16
16
17
18
Kiến nghị
18
18
Tài liệu tham khảo
20
1
nâng cao chất lượng môn học tiếng Việt của học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số, góp
phần đưa chất lượng giáo dục ngày một tốt hơn.
Tìm ra được biện pháp sửa sai trong quá trình phát âm tiếng Việt cho học
sinh lớp 1 dân tộc thiểu số để giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt. Khắc phục
được những lỗi mà học sinh thường mắc phải để mỗi giáo viên có hướng rèn
luyện, bồi dưỡng hiệu quả việc phát âm tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu số
khi bắt đầu bước vào lớp đầu cấp.
3. Đối tượng nghiên cúu
Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số học tốt môn tiếng
Việt.
4. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
Học sinh lớp 1A, Trường Tiểu học Võ Thị Sáu năm học 2013 – 2014,
2
Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt
2014 – 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp trải nghiệm thực tế
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp thống kê, tổng hợp
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
Với đặc điểm tâm, sinh lí học sinh Tiểu học, các em đang phát triển cả về thể
lực lẫn thể chất. Trong đó, cơ quan phát âm, ngôn ngữ phát triển mạnh, phù hợp
với sự tiếp nhận và thực hiện dễ dàng các hoạt động mới theo chức năng của
chúng: chức năng phát âm - tập đọc. Khả năng nhận thức, tư duy, tưởng tượng,
học tập. Biết đọc, biết viết là mục tiêu số một ở học sinh Tiểu học. Vốn tiếng Việt
là rất cần thiết trước khi học chữ. Không biết hoặc biết ít tiếng Việt là trở ngại lớn
nhất cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số. Tập nói tiếng Việt là nhiệm vụ đầu tiên
với các em. Học sinh dân tộc cần có vốn tiếng Việt trước để học chữ. Bộ giáo dục
đã có nhiều văn bản chỉ đạo như công văn 9832/ BGD&ĐT - GDTH ngày 1 tháng
9 năm 2006, công văn 9890/ BGD&ĐT – GDTH ngày 17 tháng 9 năm 2007 về
việc hướng dẫn nội dung, phương pháp giáo dục cho học sinh có hoàn cảnh khó
khăn. Ngày 9 tháng 8 năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức hội nghị
"Triển khai các phương án tăng cường tiếng Việt (lớp 1) cho học sinh dân tộc thiểu
số ". Tại hội nghị, xuất phát từ những quan điểm, lý luận giáo dục và cách tiếp cận
gắn với đặc điểm học sinh dân tộc các vùng miền, năm phương án về chủ đề này đã
được trình bày, và trao đổi ý kiến rộng rãi. Đó là: Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ mẫu
giáo trước tuổi đến trường (Vụ GD Mầm non). Dạy tiếng Việt trên cơ sở tiếng mẹ
đẻ trong chương trình song ngữ Ê-đê - Việt (Vụ GD Dân tộc). Nghiên cứu thử
nghiệm giáo dục song ngữ dựa trên tiếng mẹ đẻ (Trung tâm Nghiên cứu GD dân
tộc). Dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở lớp 1(Nhóm
tăng cường năng lực dạy và học- Dự án PEDC). Dạy học lớp 1 cho học sinh dân
tộc chưa biết nói tiếng Việt (Trung tâm Công nghệ GD). Công văn số 8114/
BGD&ĐT- GDTH V/v nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số
ban hành ngày 15 tháng 9 năm 2009.
2. Thực trạng
2.1 Thuận lơi, khó khăn
* Thuận lợi
Được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo nhà trường nên ngay từ đầu
năm học các em học sinh lớp 1 đã được làm quen với môi trường học tập mới.
Bản thân nhiều năm liền dạy lớp 1.
Học sinh dân tộc thiểu số được Đảng và nhà nước quan tâm cấp phát đầy đủ
sách vở và đồ dùng học tập.
100% học sinh được học 8 buổi / tuần.
* Mặt yếu
Một số em còn thụ động khi tiếp thu kiến thức, đọc còn chưa rõ ràng rụt rè
khi được gọi đọc bài, khả năng ghi nhớ chưa cao.
2.4 Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
Trong những năm gần đây nhờ sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Phòng
GD&ĐT, sự quan tâm phối hợp của địa phương, sự chỉ đạo linh hoạt của Ban lãnh
đạo nhà trường, sự nỗ lực của các anh chị em giáo viên và sự hợp tác của cha mẹ
học sinh đã tạo nên nguồn động lực lớn thúc đẩy việc dạy và học ngày càng đi vào
khuôn khổ, nề nếp đối với thầy và trò.
Bên cạnh đó việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ ở một số giáo viên còn
hạn chế, bởi:
Một vài đồng chí giáo viên tuổi cao, một số giáo viên là người dân tộc thiểu
số khả năng ứng dụng công nghệ thông tin hạn chế.
Một số giáo viên chưa biết vận dụng các nguyên tắc dạy học môn Tiếng Việt
trong thực hành giảng dạy.
Việc chuẩn bị bài và lập kế hoạch bài dạy chưa cụ thể, vận dụng phương
pháp dạy học chưa linh hoạt, chưa đảm bảo quy trình và đặc trưng bộ môn.
5
Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt
Việc hướng dẫn học sinh sửa sai chưa kịp thời, chưa tỉ mỉ, chưa quan tâm
đến việc học tập và sử dụng tiếng phổ thông cho các em ở tại gia đình và trong
cộng đồng.
Việc sử dụng đồ dùng, thiết bị trong quá trình dạy của thầy và học của trò
chưa hiệu quả.
Một số giáo viên chưa đầu tư về chuyên môn.
Một số giáo viên chưa coi trọng việc đọc mẫu nên phát âm (đọc mẫu) chưa
hiện tuy nhiên việc thực hiện chưa đúng cách, chưa phù hợp với thực tế dẫn đến
hiệu quả đạt được chưa cao. Đa số học sinh mặc dù đã được học qua trường mầm
6
Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt
non nhưng chưa nắm được 29 chữ cái, chưa biết cách cầm bút, chưa nhận biết được
dòng kẻ trên bảng con và vở viết. Một số em gia đình khó khăn cha mẹ đi làm xa
không quan tâm nhắc nhở các em học tập. Một số em bố mẹ mất sớm phải ở với
ông bà nên thiếu sự giúp đỡ, an ủi khi học tập. Một số em hay nghỉ học theo cha mẹ
đi làm nên tiếp thu kiến thức không liền mạnh dẫn đến không đọc, viết được. Một
số em do tuổi lớn, khó khăn về học khả năng tiếp thu bài hạn chế. Nhận thức được
sự cần thiết của việc nghe, nói, đọc viết tiếng Việt đối với các em học sinh lớp 1
dân tộc thiểu số, tôi đã tìm tòi đổi mới hình thức tổ chức, đổi mới phương pháp dạy
học nhằm nâng cao hiệu quả học môn tiếng Việt đối với học sinh dân tộc thiểu số.
Việc học tiếng Việt với học sinh dân tộc thiểu số đặc biệt là học sinh lớp 1
chủ yếu học qua các hoạt động ở trường. Ở nhà, các em ít được giao tiếp bằng tiếng
Việt bởi lẽ vốn tiếng Việt của bố mẹ, anh, chị và những người sống xung quanh các
em còn hạn chế. Chính vì vậy các em không được tiếp cận vốn tiếng Việt do người
thân mang lại cho nên việc dạy học tiếng Việt đối với học sinh lớp 1 càng khó khăn
đối với các thầy, cô giáo, những người tâm huyết với nghề dạy trẻ nhất là những
người đang trực tiếp tham gia giảng dạy trong vùng dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó
một số gia đình còn cho con em nghỉ học đi nương đi rẫy trong dịp mùa màng.
Một số em ít được cha mẹ quan tâm nhắc nhở các em đi học, còn đổ lỗi và đẩy
trách nhiệm cho giáo viên. Việc đi học không đều cũng ảnh hưởng đến việc học tập
của các em. Lớp học có nhiều đối tượng khác nhau, việc phân chia kiến thức trong
một tiết học còn nhiều khó khăn và hạn chế.
Đặc biệt ở lớp tôi dạy với 100% là học sinh dân tộc thiểu số, hoàn cảnh gia
30/ TT – BGD&ĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 hướng dẫn đánh giá xếp loại học
sinh. Được lãnh đạo nhà trường giao quyền chủ động cho giáo viên nên ngay từ đầu
năm học, sau khi nhận lớp được một tuần, tôi tiến hành kiểm tra khảo sát, lập kế
hoạch dạy học, xin ý kiến chỉ đạo của tổ chuyện môn và nhà trường và phân loại
học sinh trong lớp thành những nhóm đối tượng như sau:
Nhóm 1: Gồm những học sinh khó khăn ( khó khăn về đọc viết, khó khăn về
hoàn cảnh gia đính)
Nhóm 2: Gồm những học sinh đạt chuẩn
Nhóm 3: Gồm những học sinh năng khiếu
Căn cứ vào các đối tượng học sinh, trong các giờ học, tôi luôn luôn gần gũi,
thân thiện, quan tâm tất cả HS nắm bắt đặc điểm tâm sinh lý từng em. Kiểm tra sĩ
số hàng ngày và giành thời gian giúp đỡ HS khó khăn. Các giờ ôn của buổi chiều
tôi yêu cầu các em thực hiện nhiệm vụ với 4 mức khác nhau trong cùng một giờ
học.
Đối với nhóm 1, trong mỗi tiết học tôi hướng dẫn thật kĩ rồi phát âm mẫu sau
đó gọi các em đọc nhiều lần hơn các em ở nhóm 3. Khi viết tôi chỉ yêu cầu các em
viết 1 dòng. Các dạng bài đọc và viết về vần, các bài luyện tập tổng đều có thể vận
dụng phương pháp này.
Ví dụ; Khi dạy bài 7 âm / ê /, / v / trang 16 Sách giáo khoa Tiếng Việt 1 Tập
1: Tôi phát âm mẫu, hướng dẫn cách mở miệng để phát âm, tôi cho các em ở nhóm
3 phát âm lại rồi gọi các em ở nhóm 1 phát âm, lúc này tôi quan sát xem phát hiện
những khó khăn mà các em thường gặp khi phát âm để uốn nắn kịp thời. tôi cho
các em đó phát âm lại 2 đến 3 lần rồi mới chuyển sang em khác. Trước khi chuyển
sang phần viết, tôi lại cho các em ở nhóm 1 phát âm lại sau đó yêu cầu viết chữ ghi
âm ê, v mỗi chữ chỉ một nửa dòng, trong khi đó các em ở nhóm 2 viết thêm chữ
ứng dụng mỗi chữ một nửa dòng còn các em ở nhóm 3 viết cả chữ ghi âm lẫn chữa
ứng dụng nhiều hơn mỗi loại như trên từ 1 dòng. Sau khi học xong phần âm, tôi
hướng dẫn các em ôn tập phát hiện xem âm nào còn nhiều em chưa phát âm được
đưa ra biện pháp giúp đỡ trong các tiết học sau. Hoặc dạy bài 29 vần /ia/ trang 60
Sách giáo khoa Tiếng Việt 1 Tập 1, lúc này chuyển sang phần vần, tôi hướng thật
đọc câu ứng dụng hoặc luyện nói. Trong quá trình dạy, tôi luôn luôn theo dõi khen
ngợi và có biện pháp hỗ trợ các em ngay. Có như vậy các em mới nhận thấy mình
đã làm được việc gì và việc gì chua làm được từ đó các em cố gắng hơn.
Ví dụ: dạy bài 58 vần /inh/, /ênh/ trang 118 Sách giáo khoa Tiếng Việt 1
Tập 1, sau khi đã cho các em nhận biết vần /inh/, tôi yêu cầu tất cả các em trong lớp
đều đọc vần /inh/, theo dõi phát hiện những em chưa đọc được, lúc này tôi tiếp tục
cho các em phân tích lại vần, tiếng rồi cho các em đọc đi đọc lại nhiều lần đến khi
các em đã đọc đúng thì mới chuyển sang dạy vần /ênh/, từ ngữ ứng dụng,… Trước
khi vào học tiết học sau phải kiểm tra các em học sinh khó khăn hoặc kiểm tra xen
lẫn trong tiết học.
Khi dạy phần luyện tập tổng hợp, đây là kết quả của việc dạy phần âm và
vần. Nếu các em phát âm và đọc đúng các phụ âm, nguyên âm và vần thì phần
luyện tập tổng hợp sẽ dễ dàng hơn. Nhưng không phải em nào cũng đọc và phát âm
tốt. Vì vậy, tôi lựa chọn phương pháp hình thức dạy học sao cho tất cả các em đều
đọc được.
9
Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt
Ví dụ dạy bài Trường em: Việc đầu tiên tôi đọc mẫu thật chuẩn, sau đó
hướng dẫn đọc tiếng, từ khó. Trường hợp em nào chưa đọc được, tôi lại dùng
phương pháp phân tích tổng hợp để các em nhớ lại phụ âm, nguyên âm, vần từ đó
ghép thành tiếng và đọc. Khi đã đọc đứng các tiếng từ khó, tôi tiếp tục hướng dẫn
xác định câu rồi tổ chức luyện đọc cá nhân, đọc nhóm, đọc đồng thanh. Em khó
khăn đọc theo em năng khiếu, dần dần đọc đúng và tốt hơn.
* Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan
Như chúng ta biết học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp Một nói riêng
và nhất là đối với học sinh dân tộc thiểu số khả năng tư duy trừu tượng còn hạn
10
Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt
Ví dụ: Bài Quà của bố – Trang 86 Sách giáo khoa Tiếng Việt 1 tập 2. Sau
phần luyện đọc, tôi tiến hành cho các em nói câu chứa tiếng có vần /oan/, /oat/. Nếu
cứ dạy chay không có tranh thì đối với các em sẽ rất khó nói được một câu đầy đủ.
Tôi lần lượt treo tranh chụp cảnh các bạn đang quay quần bên mâm hoa quả bánh
kẹo cùng một ngọn đuốc. Sau khi quan sát, với sự gợi ý của tôi, các em khó khăn
cũng nói được câu hoàn chỉnh Chúng em vui liên hoan và phát hiện tiếng hoan
chứa vần oan. Còn các em năng khiếu không những nói được câu theo tranh mà
còn nói câu khác cũng có tiếng chứa vần /oan/ mà không cần dựa vào tranh.
Như vậy rõ ràng trong cùng một giờ học, tôi đã vận dụng khéo léo tranh, ảnh
nên vừa phát huy được tính sáng tạo chủ động cho học sinh năng khiếu lại vừa tạo
sự hứng thú cố gắng vươn lên cho học sinh học chậm, khó khăn.
Thường xuyên kiểm tra việc học tập của học sinh. Hệ thống kiến thức cơ bản
cho học sinh theo từng chương, từng chủ đề. Học sinh quên chỗ nào, không rõ chỗ
nào tôi bổ sung kịp thời chỗ đó. Cho học sinh thực hành nhiều lần, nhiều bài để
khắc sâu kiến thức. Đối với những bài ôn tập, hệ thống kiến thức cơ bản, tôi đã sử
dụng bảng phụ ghi những nội dung cần ghi nhớ. Ví dụ : Tôi ghi tất cả các âm, vần
đã học vào bảng phụ treo cạnh bảng. Yêu cầu học sinh tự nhẩm đọc và đọc đồng
thanh cả lớp trước khi vào bài mới. Những lúc quên, các em có thể nhìn vào bảng
phụ để nhớ lại.
* Phương pháp trò chơi
Như chúng ta đã biết học sinh lớp Một rất hiếu động hay bắt chước và học
theo. Trò chơi học tập là một loại hoạt động không thể thiếu được trong mọi lứa
tuổi. Trò chơi giúp các em phát triển cả về năng khiếu lẫn tư duy. Trò chơi học tập
là hình thức học tập thông qua trò chơi. ''Học mà chơi, chơi mà học '' tạo ra sự hứng
gọi các em lên bảng gắn từ tương ứng. Qua trò chơi này giúp các em nhớ vần mới,
phát triển tư duy sáng tạo tìm nhanh các tiếng có vần mới, đọc và viết các tiếng, từ
đó .
Hoặc khi dạy bài 103: Ôn tập, tôi đã tổ chức cho các em trò chơi hái hoa dân
chủ. Tôi chuẩn bị một số bông hoa bằng giấy trên mỗi bông hoa ghi một từ có âm
hoặc vần mới học ở mặt giấy phía trong. Các em lần lượt lên hái rồi đọc từ ghi ở
bông hoa. Đối với các em năng khiếu sau khi đọc xong học sinh phải nói một
cụm từ hoặc một câu trong đó có các từ đã học. Thông qua trò chơi giúp các em
luyện nhẩm đánh vần nhanh để đọc trơn cả tiếng, cả từ, dùng từ đã học để tạo từ
ngữ hoặc câu ngắn.
Với những trò chơi mà tôi đã tổ chức trong các giờ học đã tạo cho các em sự
chú ý, tinh thi đua, khắc sâu kiến thức. Thông qua việc tổ chức các trò chơi này, tôi
nhận thấy để trò chơi có hiệu quả, ngoài việc chuẩn bị trò chơi thì việc lựa chọn sao
cho phù hợp với nội dung bài cũng là điều quan trọng.
* Phương pháp làm mẫu
Làm mẫu cũng là việc làm quan trong khi dạy tiếng Việt đối với học sinh
dân tộc thiểu số. Nếu thầy phát âm chuẩn thì trò cũng phát âm chuẩn. Bởi vậy trong
mỗi giờ dạy tiếng Việt, tôi đều chú ý đến khâu phát âm mẫu, khâu rèn kỹ năng đọc
(kỹ năng phát âm) cho học sinh. Chú ý lắng nghe, quan sát và kịp thời hướng dẫn
sửa sai cho các em, vì đọc mẫu và rèn kỹ năng đọc không tốt dẫn đến học sinh bắt
chước đọc sai, đọc ngọng lâu dần thành quen rất khó sửa. Học sinh các dân tộc
khác nhau thì cách phát âm cũng khác nhau. Ví dụ học sinh dân tộc Ê- đê khi phát
âm các âm lưỡi đều uốn cong và bật mạnh dẫn đến các âm phát ra gần như đều có
thêm dấu nặng. Vì vậy khi dạy phát âm, tôi chú ý làm mẫu để học sinh quan sát
được các cơ quan phát âm như môi, răng, lưỡi... Ví dụ khi dạy bài 13: /n/, /m/
trang 28 sách giáo khoa Tiếng Việt 1, tập 1, sau khi viết âm /n/ lên bảng tôi phát âm
mẫu và hướng dẫn cách phát âm rồi gọi từng em phát âm và sửa sai ngay. Tôi chú
ý rèn học sinh bắt đầu từ phần âm tiếng Việt nhất là các phụ âm tiếng Việt, rèn kỹ
việc phát âm khi học ở phần âm như sau:
12
em, phát hiện chỗ các em đọc sai để kịp thời sửa ngay và hướng dẫn các em đọc
theo tốc độ quy định, không quá chậm hoặc quá nhanh, đọc, nói đủ to cho tất cả các
bạn trong lớp nghe được, rèn tư thế đứng tự tin, thỏa mái khi đọc, nói tiếng Việt.
Đối với những em đọc sai chính âm tiếng Việt, tôi đã rèn luyện để các em đọc
đúng, đọc đủ, không đọc thừa, đọc sót âm, tiếng, từ,…Đọc với tốc độ vừa phải,
giọng đọc phải phù hợp với yêu cầu và nội dung từng bài.
Bên cạnh đó vẫn có những em phát âm bị khuyết âm trong tiếng tiếng Việt,
còn lẫn lộn giữa vần ưng/ ưn, uông/ uôn, iêng/iên. Ví dụ khi dạy đọc từ ngữ ứng
dụng bài 75: ang, anh có em đọc "bánh chưng" thành "bánh chưn". Nguyên nhân
chính là các em chưa biết vị trí các cơ quan phát âm và phối hợp giữa các cơ quan
đó. Vì thế tôi yêu cầu các em quan sát kĩ tôi phát âm mẫu rồi gọi các em phát âm
lại. Nếu phát âm đúng "bánh chưng" hơi sẽ bị chặn lại ở một vị trí trong khoang
miệng, Khi các em làm sai hay chưa làm được, tôi không la mắng hoặc phê bình
các em, mà nhẹ nhàng chỉ bảo cho các em. Trong giờ học, tôi đi xuống bên học
sinh xem em nào đã làm được còn em nào làm chưa làm được để kịp thời giúp đỡ
13
Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt
các em, chỉ cụ thể cho các em. Nhất là với các em khó khăn về đọc và viết, tôi đọc
lại cho các em nghe rồi gợi ý để các em phân tích nhớ lại cấu tạo của tiếng hay bắt
tay các em viết cho đúng. Hướng dẫn chi tiết cho các em tư thế ngồi học đúng, cách
cầm sách khi đọc, cách cầm bút viết, cách trình bày bài vở, cách học tập ở lớp, ở
nhà. Tất cả cần làm mẫu và yêu cầu học sinh làm theo. Dần dần các em có thói
quen, có kĩ năng kĩ xảo trong việc học tập. Từ đó tạo ra không khí thoải mái, tự tin,
mạnh dạn hơn khi tham gia hoạt động học. Qua đó, tôi nắm được một phần nào
những sở thích, những niềm vui hoặc những khó khăn của các em trong học tập hay
trong sinh hoạt hàng ngày.
Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt
Biện pháp thứ ba: Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà
Đến trường các em được vui chơi và khám phá chiếm lĩnh kiến thức. Thế
còn ở nhà các em làm gì để kiến thức luôn được khắc sâu. Việc ôn bài cũ, chuẩn bị
bài mới tại nhà cũng vô cùng quan trọng. Đa số các em đi học về là vứt cặp sách
vào một chỗ rồi đi chơi. Góc học tập chưa có, chưa biết sắp xếp thời gian học tập ở
nhà. Bên cạnh đó một số cha mẹ lại chưa biết chữ, nhận thức còn hạn chế, họ cho
rằng việc dạy học con em họ là của nhà trường nên không quan tâm nhắc nhở các
em học bài ở nhà. Điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của các em.
Làm thế nào giúp các em có thói quen tự học ở nhà? Tôi đã dành thời gian đến
gặp gỡ cha mẹ các em trao đổi nhờ sự hợp tác của họ để hướng dẫn cách học cho
các em. Gia đình tạo điều kiện cho con em mình có góc học tập phù hợp sao cho
sáng sủa và thoáng mát về ban ngày, đầy đủ ánh sáng về ban đêm. Sách vở, đồ
dùng học tập sắp xếp ngăn nắp, tiện lợi, phía trên góc học tập dán thời khóa biểu.
Mặt khác đa số các em chưa ý thức được việc nào nên làm và làm vào thời gian
nào. Vậy làm thế nào để hướng các em có thói quen sinh hoạt phù hợp, kĩ năng
sống từng bước được phát triển đảm bảo kết quả học tập được nâng cao. Tôi
hướng dẫn các em lập thời gian biểu và yêu cầu cha mẹ kí xác nhận. Thời gian
biểu sẽ là cẩm nang nhắc nhở các em thực hiện tốt các công việc trong ngày, dần
dần các em có thói quen trong sinh hoạt, không mải chơi nữa mà chú tâm đến việc
học tập hơn. Nhờ đó mà cha mẹ các em cũng yên tâm hơn khi mình vắng nhà.
THỜI GIAN BIỂU
Thời gian
Công việc
Buổi sáng
Ngủ dậy, đánh răng,
4 giờ 30 phút5 giờ
Thức dậy.
Học ở trường
Đi chơi thể thao
5 giờ - 7 giờ
Tắm rửa, ăn tối.
7 giờ - 8 giờ
Ôn lại bài cũ, chuẩn
bị đồ dùng, sách vở
bài mới cho hôm sau
8 giờ - 9 giờ
Xem ti vi rồi đi ngủ.
15
Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt
Thời gian biểu được dán trên góc học tập ở nhà bên cạnh thời khóa biểu để
các em tiện theo dõi. Căn cứ vào thời gian biểu, cha mẹ các em theo dõi những
việc các em làm ở nhà, còn tôi theo dõi những việc làm ở trường. Đây chính là cơ
sở để tôi hoàn thành phiếu đánh giá của cha mẹ học sinh. Ngoài ra còn tiện lợi cho
trợ cho nhau.
3.5. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
Nhờ các biện pháp trên mà chất lượng đọc, viết của các em nâng lên. Cụ thể
qua các lần đánh giá, kết quả cụ thể như sau:
16
Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt
TSHS
Thời gian
Giỏi
SL
Năm
Cuối
học học kì I
201 Cả năm
3 201
4
Khá
Tỉ lệ SL
2
4
20,0
20
4
Hoàn thành
Năm
Cuối học
học
kì I
201 Cả năm
4 201
5
T. Bình
27
SL
24
27
Tỉ lệ %
88,9
100%
1
tặng giấy khen cũng tăng dần. Năm học nào lớp cũng xếp loại xuất sắc được Hiệu
trưởng nhà trường tặng giấy khen.
17
Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt
- Giá trị khoa học mang lại khi thực hiện đề tài: Đề tài được áp dụng có hiệu
quả trong trường cũng như đối với những trường có học sinh dân tộc thiểu số. Giờ
học sôi nổi, khả năng đọc, viết được nâng lên, học sinh đọc đúng, tích cực chủ
động, hứng thú học tập, chất lượng dạy học nâng cao. Phát huy được tính năng
động sáng tạo của giáo viên. Rõ ràng qua cách làm này, tôi thấy kết quả giáo dục
của học sinh ngày càng tiến bộ rõ rệt. Tạo điều kiện để học sinh phát huy tối đa
những khả năng vốn có của mình trong học tập cũng như trong giao tiếp.
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Nhiệm vụ và mục tiêu đào tạo trong trường Tiểu học là tạo ra những con
người toàn diện làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại có tư duy sáng tạo
biết áp dụng vào thực tiễn để học tập, lao động. Để nâng cao chất lượng dạy học
môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số không phải là việc làm một
sớm, một chiều mà là cả một quá trình rèn luyện gian nan, bền bỉ, một mình ngành
Giáo dục và Đào tạo không thể làm được mà cần phải có sự tham gia tích cực của
cộng đồng phối hợp với các thầy, cô giáo trong việc vận động học sinh ra lớp và
giáo dục học sinh; đặc biệt là sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, sự chỉ
đạo của các cấp chính quyền địa phương trong việc chỉ đạo, quan tâm xây dựng cơ
sở vật chất, hỗ trợ sách, vở, đồ dùng học tập,... cho học sinh dân tộc.
Dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số là một vấn đề lớn và khó, là
việc làm thường xuyên và lâu dài. Yêu cầu người giáo viên phải có lòng yêu nghề
mến trẻ, tâm huyết với nghề, luôn sự tìm tòi đổi mới phương pháp hình thức giảng
Ea Bông, ngày 15 tháng 2 năm 2016
Người thực hiện
Trần Thị Minh
19
Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt
TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT
TÊN TÀI LIỆU
1
Giáo trình Giáo dục học
2
Một số vấn đề về đổi mới
phương pháp dạy học ở Tiểu học
3.Tài liệu bồi dưỡng chuyên môn
theo chuẩn kiến thức, kĩ năng
Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên
Trò chơi thực hành Tiếng Việt
lớp một
Tài liệu hướng dẫn tăng cường
GHI
BẢN
CHÚ
Trường Đại học Sư phạm Đà
Nẵng; Nguyển Sinh HuyNXBGD- 1997) Vụ Giáo dục
Tiểu học –NXB Giáo dục
Việt Nam
NXB Giáo dục;
hè 2009
BGD-ĐT
NXB Giáo dục, tác giả Vũ
Khắc Tuân;
Ban chỉ đạo thử nghiệm
chương trình Tiếu học năm
2000 thuộc Bộ Giáo dục và
Đào tạo
Bộ GDSX năm 2005
Nguyễn Đức Hoành -2006
Bộ Giáo dục và Đào tạo
20
Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM CẤP TRƯỜNG
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt
22
Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt
23
Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt
24
Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu