đề xuất biện pháp sửa lỗi phát âm cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số trường tiểu học nà nghịu sông mã sơn la - Pdf 22


DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT

TV: Tiếng Việt
SGK: Sách giáo khoa
SGV: Sách giáo viên
GV: Giáo viên
HS: Học sinh
HSDTTS: Học sinh dân tộc thiểu số MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn khóa luận 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích nghiên cứu 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5. Đối tƣợng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4
6. Phƣơng pháp nghiên cứu 5
7. Giả thuyết khoa học 5
8. Đóng góp của khóa luận 6
9. Cấu trúc của khóa luận 6
PHẦN NỘI DUNG 8
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 8
1.1. Học vần và phát âm trong tiếng Việt 8
1.1.1. Quan niệm về dạy học vần cho học sinh lớp 1 8
1.1.2. Quan niệm về phát âm và lỗi phát âm 8
1.2. Cơ sở dạy học vần và phát âm 9
1.2.1. Cơ sở khoa học 9
1.2.2. Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 1 11

3.3.3. Nội dung thực nghiệm 44
3.3.4. Kết quả thực nghiệm 44
PHẦN KẾT LUẬN 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
PHỤ LỤC 49

1
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn khóa luận
1.1. Đảng ta đã nhận định “ Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo
dục quốc dân”. Nền tảng có vững chắc thì toàn hệ thống mới tạo nên cấu trúc
bền vững và phát triển hài hòa, mục tiêu của giáo dục tiểu học nhằm hình thành
cho học sinh cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về trí tuệ, thể
chất, tình cảm và các kĩ năng cơ bản. Giáo dục tiểu học tạo tiền đề cơ bản để
nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng để đào tạo thế hệ trẻ trở
thành ngƣời có ích trong giai đoạn mới, vì thế trƣờng tiểu học có vị trí, nhiệm vụ
đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp giáo dục. Là nơi tổ chức các hoạt động giáo
dục tạo tính tự giác trong quá trình phát triển của trẻ, là công trình giáo dục bền
vững, là nơi diễn ra cuộc sống thực của trẻ. Học sinh tiểu học là những chủ nhân
tƣơng lai của đất nƣớc mà bậc học tiểu học là những viên gạch đầu tiên đặt nền
móng để các em bƣớc vào ngƣỡng cửa tƣơng lai. Hiện nay, ở tiểu học, với mục
tiêu giáo dục toàn diện cho trẻ ngay từ những bƣớc đi đầu tiên, các em đƣợc học
9 môn học. Trong đó, môn Tiếng Việt là môn học chính, môn học cơ bản nhằm
hình thành ở học sinh cấp tiểu học các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói,
đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trƣờng hoạt động của lứa tuổi
đặc biệt môn Tiếng Việt lại có một vai trò quan trọng hơn nữa đối với HS dân
tộc thiểu số, thông qua việc dạy học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác
tƣ duy; Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt, về tự
nhiên-xã hội-con ngƣời, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nƣớc ngoài, qua

các em phát âm đúng đang là vấn đề đƣợc nhà trƣờng và phụ huynh quan tâm.
Căn cứ vào thực tế và nhận thấy tầm quan trọng của việc sửa lỗi phát âm
cho học sinh tiểu học cùng với thực trạng phát âm lệch chuẩn của học sinh dân tộc
thiểu số lớp 1 ở trƣờng Tiểu học Nà Nghịu tôi mạnh dạn chọn đề tài “Đề xuất biện
pháp sửa lỗi phát âm cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số trường Tiểu học Nà Nghịu
– Sông Mã – Sơn La”.
2. Lịch sử vấn đề
Ngoài nhiệm vụ hình thành năng lực đọc, Tập đọc còn giúp cho học sinh
có kĩ năng phát âm chuẩn, đọc chính xác, rõ ràng. Phát âm chuẩn giúp ngƣời
nghe cảm nhận đầy đủ và chính xác giá trị nội dung của văn bản. Vì vậy việc

3
vận dụng các phƣơng pháp, biện pháp để sửa lỗi và rèn luyện kĩ năng phát âm
cho học sinh tiểu học đặc biệt là phát âm đúng ngay từ khi học lớp 1 là vấn đề
mà nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu.
Trong cuốn “ Tiếng Việt đại cương – ngữ âm” của Đặng Thị Lanh, Bùi
Minh Toán (NXB ĐHSP, 2006) đã giới thiệu một cái nhìn tổng thể về tiếng Việt
và đi sâu vào hai đơn vị cơ bản của ngữ âm tiếng việt là âm tiết và âm vị. Cuốn
sách là căn cứ quan trọng giúp chúng ta xác định và tìm ra đƣợc các lỗi phát âm
mà học sinh thƣờng mắc phải. Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ dùng ở việc nghiên
cứu lý thuyết chung của ngữ âm mà chƣa đi sâu vào việc xác định các lỗi phát
âm sai của học sinh nên chƣa đƣa ra đƣợc biện pháp khắc phục cụ thể.
“Phương pháp dạy học tiếng Việt 1” của tác giả Lê Phƣơng Nga – Lê A. –
Lê Hữu Tỉnh – Đỗ Xuân Thảo – Đặng Kim Nga (NXB ĐHSP Hà Nội, 2003)
cũng đề cập đến phân môn học vần về: Môi trƣờng, cơ sở tâm lí học, ngôn ngữ
học của việc dạy học vần ở lớp 1, một số nguyên tắc dạy học vần, phƣơng pháp
dạy học vần.
Tác giả Cù Đình Tú, Hoàng Văn Thung, Nguyễn Công Trứ với công trình
nghiên cứu “Ngữ âm học tiếng Việt hiện đại” (NXBGD -1978) đã đề cập đến
một số vấn đề liên quan đến ngữ âm học trong nhà trƣờng. Tuy có nêu lên một

Khóa luận nghiên cứu quá trình sửa lỗi phát âm cho học sinh dân tộc thiểu
số lớp 1 của trƣờng tiểu học Nà Nghịu – Sông Mã – Sơn La.
5.2. Khách thể nghiên cứu
Tôi tiến hành điều tra, nghiên cứu trên các đối tƣợng là giáo viên và học
sinh dân tộc thiểu số lớp 1 của trƣờng tiểu học Nà nghịu- Sông mã- Sơn la.
5.3. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu một số vấn đề về cơ sở lí luận có liên quan đến đề tài nhƣ vấn
đề về ngôn ngữ, một số yếu tố ảnh hƣởng đến quá trình phát âm của học sinh.
Tập trung tìm hiểu, điều tra thực trạng phát âm của học sinh lớp 1 trƣờng
Tiểu học Nà Nghịu – Sông mã, vấn đề phát âm lệch chuẩn, nguyên nhân và lỗi
phát âm của các em học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số trong nhà trƣờng.
Trên cơ sở kết quả điều tra nghiên cứu thực trạng tôi đề xuất một số biện
pháp sửa lỗi phát âm cho học sinh lớp 1 là ngƣời dân tộc thiểu số ở trƣờng Tiểu

5
học Nà Nghịu – Sông Mã – Sơn La nhằm khắc phục thực trạng phát âm lệch
chuẩn cho các em.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện khóa luận này tôi sử dụng hai nhóm phƣơng pháp:
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Mục đích khi sử dụng nhóm phƣơng pháp này là nhằm thu thập thông tin
khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản tài liệu, các công trình khoa học có
liên quan làm cơ sơ lí luận của khóa luận.
Phƣơng pháp chủ yếu: phƣơng pháp đọc tài liệu, phƣơng pháp phân tích,
phƣơng pháp tổng hợp hóa và khái quát hóa.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát: thu thập những biểu hiện phát âm sai ở học sinh
lớp 1 dân tộc thiểu số tại một số trƣờng tiểu học miền núi thông qua thực tiễn,
các phƣơng tiện thông tin nhằm phục vụ cho việc đánh giá thực trạng và đề xuất
các biện pháp sửa lỗi phát âm cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1 trƣờng tiểu

gồm 3 chƣơng.
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận
Ở chƣơng này tác giả đi sâu tìm hiểu về vấn đề học vần và phát âm trong
tiếng Việt, cơ sở tâm sinh lí, đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học và cơ sở ngôn
ngữ. Tìm hiểu đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số tại trƣờng
Tiểu học Nà Nghịu.
Chƣơng 2: Tìm hiểu thực trạng dạy học và một số nguyên nhân mắc lỗi
của học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số trƣờng Tiểu học Nà Nghịu – Sông Mã – Sơn
La. Từ đó đề xuất một số biện pháp sửa lỗi phát âm cho học sinh dân tộc thiểu
số tại trƣờng Tiểu học Nà Nghịu đã đƣa ra ở chƣơng 3
Chƣơng 3: Đề xuất biện pháp sửa lỗi phát âm cho học sinh lớp 1 dân tộc
thiểu số
Căn cứ vào cơ sở và thực trạng đƣa ra ở trên chúng tôi đề xuất một số
biện pháp giúp giáo viên các trƣờng tiểu học sửa lỗi phát âm cho học sinh dân
tộc thiểu số. Đó là các biện pháp sửa lỗi phát âm sai hệ thống phụ âm đầu, sửa
lỗi phát âm phần vần, sửa lỗi phát âm hệ thống thanh điệu bằng các phƣơng
pháp thông dụng dạy học sinh lớp 1 cách phát âm: phƣơng pháp luyện tập phát

7
âm theo mẫu, phƣơng pháp luyện tập tổng hợp – phân tích, phƣơng pháp cấu
âm, phƣơng pháp trò chơi học tập. Đồng thời nêu lên mô hình lý thuyết của biện
pháp trên
Tiến hành thiết kế giáo án mẫu có vận dụng các phƣơng pháp đề xuất đối
với lớp 1 để kiểm tra mô hình lý thuyết đã đƣa ra.

nói (kĩ năng phát âm) đƣợc chú trọng. Đồng thời thông qua việc dạy chữ, dạy
âm, học vần còn cung cấp vốn từ cho học sinh rèn cho học sinh đọc, phát âm
đúng, nói đúng các câu ngắn, tạo cho các em lòng yêu thích thơ văn. Phân môn
Học vần và phát âm ở tiểu học giúp cho học sinh có kĩ năng nghe, nói, đọc, viết
trong đó đọc và viết đƣợc đặc biệt ƣu tiên. Học vần có nhiệm vụ giúp học sinh
nắm đƣợc một cách có hệ thống các âm vị trong tiếng Việt nhƣ nguyên âm, phụ
âm, thanh điệu. Nắm đƣợc cách dạy chữ ghi âm nhƣ a, b, c,…; các dấu ghi thanh
nhƣ thanh huyền, thanh sắc, thanh ngã, thanh nặng. Thuộc bảng chữ cái tiếng
Việt và phát âm một cách chính xác. Biết ghép âm, thanh điệu, vần, nắm đƣợc vị
trí các âm trong vần, biết ghép phụ âm đầu với vần tạo thành tiếng và phát âm
đúng. Biết phát âm đúng chính âm, viết đúng chính tả, biết đọc các từ, các câu
trong đoạn văn, thơ trong bài học.
1.1.2. Quan niệm về phát âm và lỗi phát âm
Theo cuốn từ điển tiếng Việt: “ Phát âm là phát ra âm thanh của ngôn ngữ
bằng các động tác, lƣỡi”. Phát âm trong giờ học vần của học sinh lớp 1 cấp tiểu
học đƣợc thể hiện thông qua việc đọc đúng, ghép đúng tiếng, từ phát âm đúng
chuẩn góp phần quan trọng vào việc giúp học sinh đọc đúng trong chƣơng trình
tiếng Việt và nói đúng trong giao tiếp.
Muốn phát âm chuẩn cho học sinh thì giáo viên cần nắm vững những đơn
vị ngữ âm của một đơn vị ngôn ngữ đƣợc sử dụng trong hoạt động phát âm nhƣ:
âm vị và âm tiết. Âm vị là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất của một ngôn ngữ có chức
năng phân biệt nghĩa và nhận diện từ. Âm tiết tiếng Việt là đơn vị phát âm nhỏ

9
nhất, đơn giản nhất về mặt tổ chức, có giá trị về mặt ngữ pháp. Âm tiết tiếng
Việt là đơn vị ngữ âm mang tính ổn định về mặt hình thức cho nên ổn định và
bất biến. Phát âm đúng, chuẩn chỉ có thể có đƣợc trên cơ sở hiểu rõ các yếu tố
âm vị, âm tiết vì đó là những cơ sở quan trọng để sửa lỗi phát âm cho học sinh.
Đặc biệt là học sinh lớp 1. Từ đó ta đƣa ra đƣợc biện pháp sửa lỗi phát âm cho
học sinh.

triển khả năng học tốt môn Tiếng Việt và các môn học khác là điều kiện phát
triển toàn diện cho học sinh tiểu học trong giai đoạn hiện nay. Nhân cách học
sinh tiểu học phát triển đúng đắn hay lệch lạc phụ thuộc vào quá trình giáo dục
của ngƣời thầy mà trong đó phƣơng tiện chủ yếu là nghe, nói, đọc, viết có đƣợc
trong quá trình học tập. Dạy đọc rất quan trọng đặc biệt là chú trọng việc sửa lỗi
phát âm tiếng Việt cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số, đòi hỏi ngƣời thầy phải
phát âm chuẩn và có phƣơng pháp dạy học phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của
học sinh tiểu học. Ngày nay với sự phát triển tiến bộ của khoa học, xã hội, giáo
dục cần đáp ứng nhu cầu ham hiểu biết của học sinh tiểu học và tăng cƣờng giáo
dục đạo đức nhân cách, rèn kĩ năng sống cho trẻ.
1.2.1.2. Cơ sở ngôn ngữ
Môn Tiếng Việt lớp 1 là hệ thống khái niệm ngữ âm, đƣợc định nghĩa bằng
cấu trúc ngữ âm của tiếng. Ở điểm xuất phát cấu trúc ngữ âm của tiếng là một
khối liền, một thể thống nhất. Rời khỏi điểm xuất phát, tƣ duy đi sâu vào bên
trong, nhƣng mới đạt đến mức độ thô, phân giải cấu trúc ngữ âm ra làm ba bộ
phận cấu thành: Thanh – phần đầu – phần vần. Trong ba bộ phận ấy thanh thì
đã rõ ràng gồm 6 thanh là thanh huyền, thanh sắc, thanh hỏi, thanh ngã, thanh
nặng, thanh ngang (tên chữ không ghi dấu khi viết). Với hai bộ phận âm đầu
vần, còn phải tiếp tục phân giải khi nào đến đơn vị ngữ âm nhỏ nhất (âm vị)
thì mới dừng lại.
Có thể mô tả cấu trúc đầy đủ nhƣ sau: hệ thống ngữ âm của âm tiết tiếng
Việt có 5 thành phần đƣợc sắp xếp theo sơ đồ sau:

Phụ âm đầu

Thanh điệu
Âm đệm
Âm chính
Âm cuối


Sự tập chung chú ý của học sinh lớp 1 thiếu bền vững, khả năng phát triển
chú ý có chủ định bền vững. vì vậy trong quá trình dạy học giáo viên cần tạo

12
điều kiện cho học sinh tham gia học tập bằng đồ dùng trực quan, nhiều màu sắc
sinh động dễ thu hút sự chú ý của học sinh.
* Trí nhớ
Do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất của học sinh ở lứa tuổi này
tƣơng đối chiếm ƣu thế nên trí nhớ trực quan – hình tƣợng đƣợc phát triển hơn
trí nhớ từ ngữ - lôgic. Các em nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tƣợng
cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa những lời giải thích dài dòng.
Học sinh lớp 1 có khuynh hƣớng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều
lần, có khi chƣa hiểu đƣợc những mối liên hệ, ý nghĩa của tài liệu học tập đó.
Các em thƣờng học thuộc lòng tài liệu theo đúng từng câu, từng chữ và không
sắp xếp lại, sửa đổi lại những lời lẽ của mình. Trong quá trình dạy học, giáo viên
cần giúp học sinh biết cách khái quát hóa đơn giản mọi vấn đề. Xác định đâu là
nội dung cần ghi nhớ, hình thành ở các em tâm lí hứng thú, vui vẻ khi ghi nhớ
kiến thức.
* Ngôn ngữ
Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo tuy nhiên học sinh
dân tộc thiểu số ngôn ngữ nói còn hạn chế. Nhờ có ngôn ngữ mà trẻ có khả năng
tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và khám phá bản thân thông
qua các kênh thông tin khác nhau. Ngôn ngữ có vai trò quan trọng với quá trình
nhận thức cảm tính và lí tính của trẻ. Nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tƣ
duy, tƣởng tƣợng của trẻ phát triển.
* Tƣ duy
Tƣ duy của trẻ mới đến trƣờng là tƣ duy cụ thể mang tính hình thức bằng
cách dựa vào các đặc điểm trực quan của những đối tƣợng và hiện tƣợng cụ thể.
Nhờ ảnh hƣởng của việc học tập, học sinh tiểu học dần dần chuyển từ nhận thức
các mặt bên ngoài của hình tƣợng đến nhận thức những thuộc tính và dấu hiệu

ngữ nói và ngôn ngữ viết. các em phải làm quen với một hệ thông ngữ âm không
hoàn toàn giống với tiếng mẹ đẻ. Với ngƣời học ngôn ngữ 2 thì khâu phát âm
đóng vai trò quan trọng, khi đã quen với cách phát âm thì những khâu tiếp theo
nhƣ đọc tiếng, từ, câu sẽ dễ dàng hơn. Bởi vậy, cần phải dạy cho các em phát âm
đúng ngay từ khi học âm vần TV. HSDTTS học TV bắt đầu bằng việc học vần.
mỗi bài học vần với thời lƣợng 70 phút các em đƣợc học từ một đến hai âm, vần

14
mới, một đến hai tiếng mới, từ mới; đƣợc làm quen và học đọc từ bốn đến sáu từ
ứng dụng cùng một bài đọc ngắn từ một đến ba hoặc bốn câu. Giáo viên cần
quan tâm đến việc phát âm đúng với những âm, vần, tiếng, từ cụ thể ngay từ
những bài học âm vần đầu tiên. Nếu các em phát âm không tốt sẽ ảnh hƣởng tới
chất lƣợng đọc, viết và ảnh hƣởng tới chất lƣợng các môn học khác.
Để phát âm đúng đòi hỏi các em phải đƣợc hƣớng dẫn theo những phƣơng
pháp phù hợp, có thời gian thực hành luyện tập. Giáo viên là ngƣời có vai trò
quan trọng trong các hoạt động tiếp nhận hệ thống âm vần TV của các em, ngoài
ra sự nỗ lực của bản thân ngƣời học cũng rất cần thiết.
1.3. Phân môn Học vần lớp 1
1.3.1. Nội dung chương trình dạy học vần ở lớp 1
Nội dung chƣơng trình môn TV lớp 1 đƣợc xác định: về kĩ năng, kiến thức,
ngữ liệu.
1.3.1.1. Kĩ năng
Xác định đƣợc kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết.
* Kĩ năng nghe
- Nghe trong hội thoại:
+ Nhận biết sự khác nhau của các âm, các thanh và kết hợp của chúng;
nhận biết sự thay đổi về độ cao, ngắt, nghỉ hơi.
+ Nghe hiểu câu kể, câu hỏi đơn giản.
+ Nghe hƣớng dẫn hoặc yêu cầu.
- Nghe hiểu văn bản: nghe hiểu một câu chuyện nội dung thích hợp với

- Bƣớc đầu nhận biết sự tƣơng ứng giữa âm và chữ cái, thanh điệu và dấu
ghi thanh.
- Chính tả: bƣớc đầu nhận biết một số quy tắc chính tả.
* Từ vựng
- Học thêm 200 đến 300 từ ngữ ( kể cả thành ngữ, tục ngữ).
* Ngữ pháp
- Nhận biết cách dùng dấu chấm, dấu chấm hỏi
- Ghi nhớ các nghi thức lời nói.
* Văn
- Làm quen với các bài dạng văn vần, văn xuôi.
1.3.1.3. Ngữ liệu
* Giai đoạn học chữ: là những từ, ngữ, câu ngắn, đoạn ngắn, các thành

16
ngữ, tục ngữ, ca dao, … phù hợp với yêu cầu học chữ và rèn kĩ năng. Ngữ liệu
phù hợp với lứa tuổi của HS, có tác dụng và mở rộng sự hiểu biết.
* Giai đoạn sau học chữ: là những câu, đoạn nói về thiên nhiên, gia đình,
trƣờng học, thiếu nhi. Ngữ liệu có cách diễn đạt trong sáng, dễ hiểu, có tác dụng
giáo dục giá trị nhân văn và bƣớc đầu cung cấp cho HS những hiểu biết về cuộc
sống. Chú ý thích đáng đến các văn bản phản ánh đặc điểm về thiên nhiên, đời
sống văn hóa, xã hội … của các địa phƣơng trên đất nƣớc ta.
1.3.2. Sách giáo khoa
1.3.2.1. Cấu trúc sách
TV 1 phần Học vần gồm 103 bài chia làm 3 phần:
- Phần thứ nhất gồm 6 bài đầu, dành cho việc làm quen với chữ cái e, b ,
các dấu thanh và cấu trúc tiếng dạng đơn giản nhất.
- Phần thứ hai gồm 25 bài tiếp theo dành cho việc học chữ cái và âm, cấu
trúc tiếng có vần là một nguyên âm.
- Phần thứ 3 gồm 72 bài còn lại dành cho việc học các vần thƣờng gặp, cấu
trúc tiếng có vần phức tạp dần.

+ Tranh gợi ý chủ đề luyện nói.
* Cấu trúc bài dạy Âm- vần mới
- Trang 1:
+ Các đơn vị chữ ghi âm/vần đƣợc dạy trong bài.
+ Tiếng chứa các đơn vị chữ đƣợc dạy trong bài ( tiếng khóa).
+ Tranh minh họa cho từ chứa tiếng chứa đơn vị chữ học trong bài.
+ Từ chứa tiếng chứa đơn vị chữ học trong bài ( từ khóa).
+ Từ/ ngữ ứng dụng chứa đơn vị chữ vừa học.
+ Thể hiện chữ viết thƣờng của các đơn vị chữ vừa học.
- Trang 2:
+ Tranh minh họa câu/ đoạn chứa đơn vị chữ vừa học.
+ Câu/ đoạn chứa đơn vị chữ vừa học ( câu/ đoạn ứng dụng).
+ Chủ đề luyện nói
+ Tranh minh họa chủ đề luyện nói.
* Cấu trúc bài ôn tập:
- Trang 1:
+ Tiêu đề ôn tập.
+ Mô hình tiếng/vần chứa đơn vị mẫu đã học.
+ Tranh minh họa ( hoặc gợi ý) từ chứa tiếng/vần chứa các đơn vị mẫu
đã học.
+ Bảng ôn tập chứa các kết hợp cùng loại.
+ Từ ngữ ứng dụng chứa các kết hợp cùng loại.
+ Thể hiện chữ viết thƣờng của các đơn vị cùng loại.
- Trang 2:
+ Tranh minh họa câu/ đoạn ứng dụng chứa các tiếng có âm/vần cùng loại
vừa ôn.
+ Câu/ đoạn ứng dụng chứa các tiếng có âm/vần cùng loại vừa ôn.
+ Nhan đề truyện kể.
+ Tranh minh họa cho truyện kể.

19
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG HỌC TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH LỚP 1 TRƢỜNG
TIỂU HỌC NÀ NGHỊU

2.1. Thực trạng phát âm của học sinh lớp 1 trƣờng Tiểu học Nà Nghịu
2.1.1. Thực trạng dạy
Trƣờng Tiểu học Nà Nghịu có 35 GV với trình độ đào tạo chủ yếu là cao
đẳng, đại học. Trong đó có 5 GV là ngƣời dân tộc thiểu số chiếm 14,2%. Đa số
GV có số năm công tác tƣơng đối cao, có nhiều kinh nghiệm, có lòng yêu nghề,
mến trẻ. Đặc biệt đội ngũ GV đƣợc phân công giảng dạy lớp 1 đều có trình độ
cao đẳng trở lên, trong đó có 2 GV trình độ đại học, 1 GV trình độ cao đẳng, số
năm công tác từ 10 đến 15 năm. Các GV dạy lớp 1 đều là dân tộc Kinh, không
có GV bản ngữ. Đây là một điều kiện hết sức thuận lợi khi dạy học vần nói
chung và sửa lỗi phát âm nói riêng. Vì vậy GV có phát âm chuẩn TV mới có thể
giúp HS sửa lỗi phát âm, diễn đạt cho đúng chuẩn TV đƣợc.
Ngoài ra, ở trƣờng Tiểu học Nà Nghịu các thiết bị đồ dùng dạy học đƣợc
trang bị đã tƣơng đối đầy đủ. Cơ sở vật chất của nhà trƣờng đƣợc đảm bảo, phụ
huynh HS quan tâm và tạo điều kiện cho việc học tập của con em mình nhiều
hơn … những điều kiện thuận lợi nhƣ vậy có tác động rất lớn đến quá trình dạy
và học, sửa lỗi phát âm cho học sinh trong chƣơng trình Học vần lớp 1
Bên cạnh đó trƣờng Tiểu học Nà Nghịu còn gặp nhiều khó khăn: Cơ sở vật
chất, kĩ thuật phục vụ cho quá trình dạy học đã lạc hậu, chủ yếu GV vẫn sử dụng
các phƣơng pháp dạy học truyền thống nhƣ: phƣơng pháp trực quan, phƣơng
pháp luyện tập, … đó là những phƣơng pháp dạy học mà học sinh đã quen thuộc
và không tạo đƣợc hứng thú cho bài học. Vì vậy việc dạy học và sửa lỗi phát âm
cho HS chƣa đạt hiệu quả nhƣ mong muốn.
Đối với HS lớp 1 GV cần sử dụng các phƣơng pháp dạy học mới nhằm phát

có tỉ lệ HSDTTS khá cao, cụ thể là:
41 HS dân tộc Thái chiếm 55,4%
18 HS dân tộc H’Mông chiếm 24,3%
1 HS dân tộc Khơ- mú chiếm 1.4%
14 HS dân tộc Kinh chiếm 18,9%

21
100% học sinh lớp 1 ở trƣờng Nà Nghịu đã đƣợc đi học Mẫu giáo trƣớc
khi vào lớp 1. Nhờ đó các em thích đi học, thích đƣợc đến trƣờng, có sự tự tin
hơn. Song vì các em phần lớn là học sinh dân tộc thiểu số nên vốn từ để giao
tiếp, để tham gia học tập chƣơng trình các môn học ở lớp 1 vẫn còn thiếu một số
lớn về số lƣợng từ. Việc sử dụng về từ, cũng nhƣ hiểu về từ tiếng Việt lại càng
hạn chế hơn. Từ đó dẫn tới học sinh lớp 1 trƣờng Tiểu học Nà Nghịu còn lúng
túng về các kĩ năng nghe, nói.
Cụ thể:
Về số lƣợng từ các em sử dụng đƣợc trong giao tiếp chỉ ở mức có thể nói
đƣợc những từ đơn giản nhƣ: chào cô, chào thầy, thƣa cô, thƣa thầy, cha, mẹ,
ông, bà hay các sự vật gần gũi nhƣ cái bàn, cái ghế, quyển sách, cái bút,…Chỉ
nghe và hiểu những câu lệnh thƣờng xuyên nhƣ ra chơi, vào lớp, ngồi xuống,
đứng lên,… Số lƣợng từ các em sử dụng chỉ ngang với một trẻ em miền xuôi ở
khoảng ba đến bốn tuổi. Với vốn từ ít ỏi nhƣ trên các em thƣờng chỉ diễn đạt
một vấn đề bằng cách nói từng tiếng thay vì nói cả câu.
Ví dụ: Giáo viên hỏi “ nhà em có mấy người ?” Các em chỉ nói đƣợc
“bốn” trong khi đó học sinh bình thƣờng phải trả lời đƣợc “ thưa thầy (cô) nhà
em có bốn người”
Do ảnh hƣởng của tiếng mẹ đẻ và thổ âm nên các em học sinh dân tộc
thiểu số phát âm sai ở hầu hết các dấu thanh và phần vần. Có một số em phát âm
sai ở một số âm đầu.
Học sinh thƣờng mắc những lỗi phát âm nhƣ sau:
* Sai phụ âm đầu

Đèn pin
Đi đâu
b / p
đ / l
Đèn bin
Li lau
Khơ Mú
V / b
Con vịt
b / v
Con bịt

* Phát âm sai phần vần
Một số dân tộc thuộc nhóm Tày, Thái, H’Mông thƣờng khó phát âm các
nguyên âm đôi và biến chúng thành các nguyên âm đơn.
Dân tộc
Phần vần
Từ tiếng Việt
Phát âm sai
Từ phát âm sai
Thái
ƣu / iu
ƣơu / iêu
anh / enh
uôt / uât
at / ơt
Bƣu điện
Bƣớu cổ
Cánh chim
Con chuột

Gà điên
Luân luân
Khơ Mú
âp / ât
uôn / ôn
ƣơn / ơn
Phấp phới
Chuồn chuồn
Bay lƣợn
ât / âp
ôn / uôn
ơn / ƣơn
Phất phới
Chồn chồn
Bay lợn

* Phát âm sai về thanh điệu
Tiếng Việt có 6 âm thanh, mỗi thanh đều có thể tham gia vào cấu tạo từ và
tạo nghĩa cho từ. Trong khi đó nhiều ngôn ngữ dân tộc không có thanh điệu, có
một số ngôn ngữ có thanh điệu nhƣng số lƣợng và tính chất các thanh không

Trích đoạn Phương pháp trò chơi học tập sửa lỗi phát âm phần vần Một số biện pháp khác Đối tượng, thời gian, địa bàn thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status