SKKN sáng kiến kinh nghiệm tiểu học bồi dưỡng hứng thú học tập môn tiếng việt cho học sinh tiểu học thông qua việc xây dựng hệ thống trò chơi học tập - Pdf 39

Bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học
qua việc xây dựng hệ thống trò chơi học tập

thông

MỤC LỤC
MỤC LỤC.............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài...............................................................................................2
2. Lịch sử nghiên cứu...........................................................................................3
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu........................................................................5
3.1. Mục đích nghiên cứu......................................................................................5
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.....................................................................................5
4. Đối tượng nghiên cứu........................................................................................5
5. Giới hạn nghiên cứu của đề tài..........................................................................5
6. Phương pháp nghiên cứu...................................................................................5
7. Đóng góp của đề tài...........................................................................................6
8. Cấu trúc của đề tài.............................................................................................6
B . PHẦN NỘI DUNG..........................................................................................7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG
HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
THÔNG QUA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG.................................................7
TRÒ CHƠI HỌC TẬP..........................................................................................7
1.Cơ sở tâm lí học..................................................................................................7
1.1. Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học.....................................................7
1.1.1. Chú ý của học sinh tiểu học.........................................................................7
1.1.2 Trí nhớ của học sinh tiểu học......................................................................8
1.1.3. Tưởng tượng của học sinh...........................................................................9
1.1.4. Tư duy của học sinh tiểu học.......................................................................9
1.2. Năng lực học tập của học sinh......................................................................10
1.2.1. Khái niệm..................................................................................................10
1.2.2. Đặc điểm năng lực học tập của học sinh tiểu học.....................................10

2.4. Tìm nhanh các từ trái nghĩa..........................................................................22
2.5. Thi học giỏi, thuộc nhanh.............................................................................23
3. Một số giáo án thực nghiệm............................................................................24
C: PHẦN KẾT LUẬN.........................................................................................36
D: PHẦN TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................37

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giảng dạy là một quá trình mang tính chất nghệ thuật tạo sự kích thích,hứng
thú, định hướng và hướng dẫn. Dạy không chỉ là sự truyền đạt đơn thuần kiến
thức mà là một quá trình tạo mối tương quan giữa người dạy, người học lấy
người học làm trung tâm và tư liệu giảng dạy. Thông thường con người chỉ nhớ:
10% những gì họ đọc, 20% những gì họ nghe, 80% những gì họ nói và đến 90%
những gì họ nói và làm, tức là khi họ tự khám phá cho chính họ. Đặc biệt với
cấp học Tiểu học các em luôn luôn hiếu động và hay tìm tòi những cái mới cái
hay . Vì vậy chúng ta phải làm sao cho học sinh vẫn nắm bắt được những kiến
thức về môn học là điều quan trọng đối với học sinh. Trò chơi học tập chính là
một trong những chiếc cầu nối hữu hiệu thân thiện nhất, tự nhiên nhất giữa
người dạy và người học trong việc tự giải quyết nhiệm vụ học tập chung đạt
được mục đích đề ra làm thoả mãn nhu cầu của cá nhân trong quá trình học tập.
Áp dụng hình thức dạy học trò chơi học tập là một phương pháp đổi mới đáp
ứng yêu cầu dạy học lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cức tự giác
của người học.
SVTH: Nguyễn Thị Trang

2

Lớp: ĐHGD Tiểu học – K54



phú và đa dạng.
2. Lịch sử nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu về hứng thú học tập môn Tiếng Việt xuất hiện sớm
nhưng việc nghiên cứu về bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt chưa
SVTH: Nguyễn Thị Trang

3

Lớp: ĐHGD Tiểu học – K54


Bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học
qua việc xây dựng hệ thống trò chơi học tập

thông

được các nhà khoa học và các nhà giáo quan tâm. Hiện tại chỉ những tài liệu
gián tiếp bàn về hứng thú học tập Tiếng Việt chủ yếu khơi gợi, tìm tòi các biện
pháp dạy học Tiếng Việt sao cho hay, cho vui. Đó là những cuốn sách tham
khảo như: “Những bài tập Tiếng Việt lí thú” (Trương Đức Thành), “Chuyện vui
chữ nghĩa” (Nguyễn Văn Tứ), “Tiếng Việt lí thú” (Trịnh Mạnh), “Vui học Tiếng
Việt” (Trần Mạnh Hưởng), “Trò chơi học tập Tiếng Việt ở Tiểu học” ( Trần
Mạnh Hưởng, Lê Phương Nga, Nguyễn Thị Hạnh). Các quyển sách trên đều dẫn
người đọc đi đến một kết luận: Nếu biết sử dụng nguồn tư liệu và bài tập phù
hợp kết hợp với phương pháp tổ chức học tập nhạy bén hợp với ngữ cảnh…thì
người thầy sẽ có được một buổi lên lớp với môn Tiếng Việt thành công, học sinh
sẽ có được một buổi học Tiếng Việt đầy hứng thú. Tiếp theo là những tài liệu đi
sâu hơn vào vấn đề tạo hứng thú cho học sinh trong việc học tập Tiếng Việt. Đó
là những giáo trình hoặc những chuyên đề được đăng trên các tạp chí khoa học
giáo dục như: “Bồi dưỡng hứng thú của học sinh đối với môn Tiếng Việt” (Lê

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt những mục tiêu đề ra việc xây dựng và giải quyết các nhiệm vụ là
hết sức quan trọng. Thông qua các nhiệm vụ tôi sẽ tiến hành từng bước như thế
nào để hoàn chỉnh đề tài nghiên cứu. Các nhiệm vụ đó là: Đầu tiên tôi nghiên
cứu cơ sở lý luận nắm bắt những nền tảng cơ sở ban đầu của vấn đề. Lí thuyết là
một vấn đề và thực tiễn là vấn đề khác tôi đi vào nghiên cứu cơ sở thực tiễn:
Vấn đề sử dụng trò chơi trong dạy học các bài thuộc môn Tiếng việt . Nhiệm vụ
cuối cùng là xây dựng một số trò chơi mới kết hợp các sưu tầm được tạo nên
tính hệ thống phục vụ các bài ở môn Tiếng việt.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là: “ Bồi dưỡng hứng thú học tập
môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học thông qua việc xây dựng hệ thống trò
chơi học tập”.
5. Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu việc bồi dưỡng hứng thú học tập môn
Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học thông qua việc xây dựng hệ thống trò chơi học
tập.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để thực tốt các nhiệm vụ đề ra đạt được mục tiêu nghiên cứu thì không
thể thiếu được các phương pháp nghiên cứu. Có rất nhiều phương pháp trong
nghiên cứu khoa học thường được áp dụng, với các vấn đề của đề tài này tôi đã
sử dụng các phương pháp sau:
+ Phương pháp thu thập tài liệu:

SVTH: Nguyễn Thị Trang

5

Lớp: ĐHGD Tiểu học – K54



SVTH: Nguyễn Thị Trang

6

Lớp: ĐHGD Tiểu học – K54


Bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học
qua việc xây dựng hệ thống trò chơi học tập

thông

B . PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG
HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TIỂU
HỌC THÔNG QUA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG
TRÒ CHƠI HỌC TẬP
1.Cơ sở tâm lí học
Tâm lý học định nghĩa rằng học sinh Tiểu học là lứa tuổi từ 6 đến 11 tuổi.
Các em là những thực thể hồn nhiên, tiềm tàng khả năng phát triển. Khi bước
vào bậc tiểu học thì các em thực hiện bước chuyển từ hoạt động vui chơi là hoạt
động chủ đạo sang hoạt động học là hoạt động chủ đạo. Điều này có vai trò và ý
nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển tâm lý của học sinh tiểu học. Đối với các em,
tất cả còn ở phía trước, các em sống luôn hướng tới tương lai chứ chưa bị níu
kéo bởi quá khứ. Do đó người ta gọi học sinh tiểu học là phạm trù tương lai.
1.1. Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học
1.1.1. Chú ý của học sinh tiểu học
a. Khái niệm chú ý: Chú ý là một trạng thái tâm lý của học sinh giúp các em tập
trung vào một hay một nhóm đối tượng nào đó để phản ánh các đối tượng này

chưa biết tập trung chú ý của mình vào nội dung bài học chưa có khả năng phân
phối chú ý giữa các hoạt động diễn ra cùng một lúc. Ở giai đoạn 2 của cấp học
khối lượng chú ý được tăng lên, học sinh có khả năng phân phối chú ý giữa các
hành động, biết định hướng chú ý của mình vào nội dung cơ bản của tài liệu.
1.1.2 Trí nhớ của học sinh tiểu học.
Trí nhớ là quá trình tâm lý giúp học sinh ghi lại, giữ lại những tri thức
cũng như cách thức tiến hành hoạt động học mà các em tiếp thu được khi cần có
thể nhớ lại được, nhận lại được.
Có hai loại trí nhớ: trí nhớ có chủ định và trí nhớ không chủ định.
Tính trực quan trong hình ảnh trìu tượng giảm dần từ lớp 1 đến lớp 5; ở
học sinh đầu cấp tiểu học tính trực quan thể hiện rất rõ trong hình ảnh trìu
tượng. Đến lớp 4, 5 hình ảnh trìu tượng bắt đầu mang tính khái quát.

SVTH: Nguyễn Thị Trang

8

Lớp: ĐHGD Tiểu học – K54


Bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học
qua việc xây dựng hệ thống trò chơi học tập

thông

1.1.3. Tưởng tượng của học sinh.
a. Khái niệm tưởng tượng.
Tưởng tượng của học sinh là một quá trình tâm lý nhằm tạo ra các hình
ảnh mới dựa vào các hình ảnh đã biết.
Ở học sinh Tiểu học có hai loại tưởng tượng: Tưởng tượng tái tạo (hình


Bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học
qua việc xây dựng hệ thống trò chơi học tập

thông

học sinh tiếp thu tri thức mới phải tiến hành các thao tác với vật thực hoặc các
hình ảnh trực quan.
Tư duy trừu tượng bắt đầu được hình thành bởi vì tri thức các môn học là
các tri thức khái quát.
Tuy nhiên tư duy này phải dựa vào tư duy cụ thể.
*Giai đoạn 2: Đặc điểm học sinh tiểu học lớp 4, 5.
Tư duy trìu tượng bắt đầu chiếm ưu thế so với tư duy cụ thể nghĩa là học
sinh tiếp thu tri thức của các môn học bằng cách tiến hành các thao tác tư duy
với ngôn ngữ, với các loại ký hiệu quy tắc.
1.2. Năng lực học tập của học sinh.
1.2.1. Khái niệm.
Năng lực học tập của học sinh là tổ hợp các thuộc tính tâm lý của học sinh
đáp ứng được yêu cầu của hoạt động học đảm bảo cho hoạt động đó diễn ra có
kết quả.
Năng lực học tập của học sinh gồm:
+ Biết định hướng nhiệm vụ học, phân tích nhiệm vụ học thành các yếu
tố, mối liên hệ giữa chúng từ đó lập kế hoạch giải quyết.
+ Hệ thống kỹ năng, kỹ xảo cơ bản: phẩm chất nhân cách, năng lực quan
sát, ghi nhớ, các phẩm chất tư duy: tính độc lập, tính khái quát, linh hoạt...
1.2.2. Đặc điểm năng lực học tập của học sinh tiểu học.
Nhờ thực hiện hoạt động học mà hình thành ở học sinh những năng lực
học tập với cách học và hệ thống kỹ năng học tập cơ bản.
Năng lực học tập của học sinh được hình thành qua 3 giai đoạn.
+ Giai đoạn hình thành (tiếp thu cách học)

động nhận thức, tăng sức làm việc.
Từ khái niệm về hứng thú ta có thể suy ra được định nghĩa của hứng thú học
tập: hứng thú học tập là thái độ đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạt
động học tập, vì sự cuốn hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nó trong
đời sống cá nhân.
2.1.2. Ý nghĩa của việc bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho học
sinh Tiểu học
Hứng thú giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả
của quá trình học tập, nhờ hứng thú mà quá trình học tập có thể giảm mệt mỏi,
căng thẳng, tăng sự chú ý, thúc đẩy tính tích cực, tìm tòi, sáng tạo và quyết định
kết quả học tập của học sinh. Đồng thời, hứng thú học tập có mối quan hệ khăng
khít với tri thức của học sinh mà còn tăng thích thú học tập của học sinh Tiểu
học trong giai đoạn hiện nay.
Hứng thú học tập góp phần hình thành quan hệ nhân cách cho học sinh là
cơ sở để học sinh đề ra nhiệm vụ học tập điều khiển hoạt động tự học ở nhà của
học sinh.
SVTH: Nguyễn Thị Trang

11

Lớp: ĐHGD Tiểu học – K54


Bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học
qua việc xây dựng hệ thống trò chơi học tập

thông

Hứng thú học tập là phương tiện góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy
của giáo viên , là điều kiện và khả năng giáo dục hứng thú học tập và lao động


Lớp: ĐHGD Tiểu học – K54


Bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học
qua việc xây dựng hệ thống trò chơi học tập

thông

Học sinh Tiểu học là lứa tuổi ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và
chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa, chú ý có chủ định của trẻ còn yếu
khả năng ghi nhớ chưa cao. Đối tượng cảm xúc của các em là những sự vật hiện
tượng cụ thể, sinh động mà theo quan điểm dạy học, quá trình dạy học là một
quá trình đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng
đến thực tế cuộc sống. Học sinh tiểu học tư duy cụ thể còn chiếm ưu thế,
phương pháp dạy học truyền thống theo hướng một chiều: giáo viên truyền thụ
học sinh tiếp nhận làm cho học sinh dễ mệt mỏi chán nản trong giờ học, khó tiếp
thu bài học. Giờ học diễn ra nặng nề, không duy trì được khả năng chú ý của học
sinh. Học là một hoạt động trong đó học sinh là chủ thể, tổ chức dạy học sao cho
học sinh phải luôn được vận động vừa sức, tiếp thu những kiến thức cần đạt. Trò
chơi là nhu cầu không thể thiếu đối với trẻ và là một trong những hình thức đáp
ứng yêu cầu đó.
Vì vậy, việc sử dụng trò chơi học tập là rất cần thiết, đa dạng hình thức
dạy học thay đổi không khí lớp học, giáo viên vẫn cho học sinh nắm bắt mọi nội
dung bài học trong tâm thế thoải mái, tự giác cao. Trò chơi góp phần đổi mới
phương pháp dạy học. Hoạt động vui chơi là điều kiện, là môi trường, là giải
pháp, là cơ hội thuận lợi nhất góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục, tạo điều
kiện để trẻ phát triển tâm lực, thể lực, trí lực một cách tổng hợp. Trò chơi giúp
cho học sinh phát triển thêm những điều mới mà các em đã tiếp cận trong sách
giáo khoa, luyện tập những kĩ năng thao tác mà các em được học tập. Qua vui

Nội dung chương trình ở giai đoạn 1 có nhiệm vụ hình thành những kĩ
năng ban đầu cho việc học đọc, học viết; định hướng cho việc học nghe, học nói
trên cơ sở vốn Tiếng Việt mà trẻ đã có. Những bài học ở giai đoạn này chủ yếu
là bài thực hành nge, nói, đọc, viết, nge, nói. Tri thức Tiếng Việt không được
dạy thành bài riêng mà được rút ra từ những bài thực hành, được thấm vào học
sinh một cách tự nhiên qua hoạt động thực hành. Trình độ nắm tri thức của học
sinh chỉ dừng lại ở mức các em nhận diện và sử dụng được các đơn vị của Tiếng
Việt, các quy tắc trong sử dụng Tiếng Việt lúc đọc, viết, nghe, nói. Phần tri thức
có trong nội dung chương trình của các lớp 1,2,3 chỉ có ý nghĩa xác định những
tri thức học sinh cần làm quen.
Nội dung chương trình ở giai đoạn 2 nhằm phát triển các kĩ năng đọc,nói,
nghe,viết lên một mức độ cao hơn, hoàn thiện hơn, trong đó yêu cầu viết hoàn
chỉnh một số văn bản, yêu cầu đọc-hiểu cần được xem trọng.Học sinh ở giai
đoạn này đã được cung cấp những khái niệm cơ bản về một số đơn vị ngôn ngữ
và quy tắc sử dụng Tiếng Việt làm nền móng cho việc phát triển kĩ năng.Bên
cạnh những bài thực hành các em được học các bài về tri thức Tiếng Việt.
Những bài học này cũng không phải là lí thuyết đơn thuần , được tiếp nhận hoàn
toàn bằng con đường tư duy trừu tượng, mà chủ yếu vẫn bằng con đường nhận

SVTH: Nguyễn Thị Trang

14

Lớp: ĐHGD Tiểu học – K54


Bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học
qua việc xây dựng hệ thống trò chơi học tập

thông

SVTH: Nguyễn Thị Trang

15

Lớp: ĐHGD Tiểu học – K54


Bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học
qua việc xây dựng hệ thống trò chơi học tập

thông

chơi trong dạy học làm cho học sinh không nhàm chán, giờ học nhẹ nhàng thoải
mái,sinh động nâng cao hiệu quả giờ dạy học trên lớp giúp các em yêu thích bộ
môn của mình đang học.
Trong khi đó một số giáo viên có tuổi vẫn nặng về áp dụng các phương
pháp dạy học truyền thống, kĩ năng tổ chức trò chơi còn hạn chế, giáo viên vẫn
làm việc nhiều còn học sinh thụ động trong viêc học cung như trong quá trình
giao tiếp. Thêm vào đó, do tác động của điều kiện thời gian, cơ sở vật chất còn
thiếu thốn, đặc điểm của học sinh một số em ít chú ý trong quá trình học các em
còn thụ động cho nên việc áp dụng phương pháp trò chơi cho học sinh Tiểu học
trong học tập chưa phổ biến và áp dụng chưa có hiệu quả. Tài liệu tham khảo về
trò chơi học tập rất nhiều nhưng phần lớn các trò chơi có sự lặp lại, chưa có tính
hệ thống cụ thể. Sách giáo viên hướng dẫn soạn bài giảng đưa ra rất ít, đơn điệu,
chưa có tính hệ thống các trò chơi chỉ có một số trò chơi đơn giản. Một số trò
chơi yêu cầu về sự chuẩn bị rất phức tạp, với đặc điểm hiếu động của học sinh
giáo viên rất khó quản lí lớp học. Hơn 2/3 giáo viên đều rất hạn chế trong việc tổ
chức trò chơi, khi sử dụng thì các thầy cô đều áp dụng vào phần củng cố bài
cuối giờ học, rất ít thầy cô sử dụng trò chơi như là một hình thức dạy học bài
mới. Vẫn tồn tại số ít giáo viên luôn có sự rập khuôn từ sách thiết kế bài giảng


CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM
BỒI DƯỠNG HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC
SINH TIỂU HỌC VÀ MỘT SỐ GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM.
1. Một số nguyên tắc và lưu ý khi xây dựng trò chơi học tập
1.1. Nguyên tắc xây dựng trò chơi học tập
Khi xây dựng trò chơi học tập cần tuân thủ những nguyên tắc sau đây:
-Nguyên tắc 1: Trò chơi đảm bảo tính giáo dục
-Nguyên tắc 2: Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu.
-Nguyên tắc 3: Trò chơi đảm bảo tính vừa sức.
-Nguyên tắc 4: Trò chơi đảm bảo tính khả thi.
- Nguyên tắc 5: Đảm bảo tính hiệu quả.
- Nguyên tắc 6: Đảm bảo tính khoa học và sư phạm.
1.2. Một số điểm cần lưu ý khi xây dựng trò chơi học tập
Sử dụng trò chơi học tập là phương pháp có thể vận dụng để dạy học ở Tiểu
học.
Khi sử dụng phương pháp này, GV cần chú ý một số điểm sau:
SVTH: Nguyễn Thị Trang

17

Lớp: ĐHGD Tiểu học – K54


Bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học
qua việc xây dựng hệ thống trò chơi học tập

thông

- Không lạm dụng hình thức trò chơi trong tiết học.

18

Lớp: ĐHGD Tiểu học – K54


Bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học
qua việc xây dựng hệ thống trò chơi học tập

thông

- Khi giáo viên hô "bắt đầu", tất cả cùng ghi số thứ tự của câu thơ và chữ
ghi tiếng đã điền âm đầu.
- Sau 10 (hoặc 15 phút, tuỳ giáo viên quy định), tất cả dừng bút. Từng
người lần lượt đọc bài thơ đã khôi phục lại đầy đủ các tiếng thiếu âm đầu cho cả
nhóm nghe. Giáo viên cùng các bạn tính điểm: Cứ mỗi tiếng khôi phục đúng,
được 1 điểm. (Ở bài thơ trên, đúng toàn bộ 19 tiếng, được 19 điểm).
- Căn cứ vào số điểm đạt được của từng người, có thể xếp hạng Nhất, Nhì,
Ba, hoặc tặng danh hiệu "Người khôi phục bài thơ giỏi nhất".

2.2. Thi đọc nhanh và đọc đúng câu có âm đầu, vần, thanh dễ lẫn
*Mục đích
- Rèn kỹ năng phát âm tiếng Việt, khắc phục lỗi phát âm lẫn lộn âm đầu
(phụ âm đầu), vần, thanh do ảnh hưởng cách phát âm địa phương
- Góp phần trau dồi kĩ năng viết đúng chính tả tiếng Việt.
*Chuẩn bị
Mỗi em có thể tự nghĩ ra hoặc sâu tầm một số câu thơ, câu văn cõ những
cặp âm đầu, vần, thanh dễ đọc - viết lẫn lộn (do đặc điểm của cách phát âm ở
địa phương) rồi ghi vào mảnh giấy làm "đề bài" thi đọc trong nhóm.
*Cách tiến hành
- Đưa ra từng "đề bài" để lần lượt từng người đọc to trước các bạn. Nhóm

(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
(6)
(7)
(8)
(9)
(10)
(11)
(12)
- Ghi vào một tờ giấy to (hoặc bảng đen) những câu ca dao có chỗ trống, theo
thứ tự như sau:
(1)

Công lênh chẳng quản bao lâu

(2)

Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm..............
Làng ta phong cảnh hữu tình

(3)

.............cư giang khúc như hình con long.
Nhơ ai dãi năng dầm .............

(4)


............... cha như núi Thái Sơn

(9)

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu

thông

....................cày , vợ cấy, con trâu đi bừa
(10) Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ................
(11) Ai ơi bưng bát ................. đầy
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.
(12) Cá không ăn muối cá ươn
Con cãi cha................. trăm đường con hư
(Theo Minh Thương Báo Nhi đồng chăm học, số 36/2001)
Chú ý: Bảng chép những câu ca dao trên cần được che lại cho đến khi bắt
đầu cuộc chơi mới mở ra.
- Bút mực (hoặc bút chì) để làm bài.
* Cách tiến hành
- Phát cho mỗi người tham gia cuộc thi một bảng ô chữ.
- Giáo viên phát lệnh "bắt đầu" và mở bảng ghi các câu ca dao để mọi người
đọc và làm bài theo yêu cầu sâu: Tìm chữ còn thiếu (chỗ trống ở từng câu ca
dao) để ghi vào các ô trong bảng ô chữ - mỗi ô chỉ ghi 1 chữ cái.
- Sau 10 phút (hoặc 15 phút), tất cả đều phải nộp lại bảng ô chữ đã điền.
- Đối chiếu bảng ô chữ của từng người với phần "giải đáp" để đánh giá điểm
số: Điền đúng mỗi chữ (theo thứ tự các ô chữ trong bảng, từ 1 đến 12), được 1
điểm. Ai điền đúng toàn bộ 12 chữ, được 12 điểm và là người thắng cuộc hoặc
đạt giải Nhất (có thể có nhiều giải Nhất nếu nhiều người đạt kết quả đúng toàn

nhỏ
gầy
thấp

(2)
A
ồn ào
vui vẻ
chăm chỉ
nhanh nhẹn
hạnh phúc

B
lười biếng
chậm chạp
đau khổ
im lặng
buồn bã

- Chuẩn bị bút để thực hiện yêu cầu bài tập. Có thể mời một bạn làm trọng
tài để đánh giá kết quả và cho điểm (nối đúng mỗi cặp từ trái nghĩa, được 1
điểm)
* Cách tiến hành
- Đọc những từ ở cột A và cột B rồi dùng bút nối những cặp từ trái nghĩa ở
cột 2 cột với nhau trong khoảng thời gian nhanh nhất.

SVTH: Nguyễn Thị Trang

22


- Giáo viên làm trọng tài để điều khiển và đánh giá cuộc thi.

* Cách tiến hành

SVTH: Nguyễn Thị Trang

23

Lớp: ĐHGD Tiểu học – K54


Bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học
qua việc xây dựng hệ thống trò chơi học tập

thông

- Giáo viên đặt trước mỗi người tham gia thi một bộ băng giấy đã chuẩn bị
(cần xáo trộn thứ tự các băng giấy và úp mặt có chữ xuống bàn; các vị trí đặt
băng nên cách xa nhau để mọi người không bị ảnh hưởng lẫn nhau)
- Giáo viên nêu yêu cầu (luật chơi):
+ Không lật băng trước khi có lệnh.
+ Không nhìn bài của bạn cùng chơi.
+ Nghe lệnh "bắt đầu", tất cả cùng lật băng, đọc và xếp lại đúng thứ tự các
câu thơ trong bài; cần đặt (trình bày) các băng ngay ngắn, đúng hình thức trình
bày thể thơ như trong sách giáo khoa.
Giáo viên hô lệnh "bắt đầu", mọi người cùng thực hiện yêu cầu đã nêu. Ai
xếp đúng, đủ, đẹp và nhanh nhất là người thắng cuộc (Đọc giỏi, thuộc nhanh)
nếu có nhiều người cùng xếp đúng bài thơ với thời gian bằng nhau, giáo viên có
thể xét thêm và cách trình bày đẹp, cách chơi đúng luật... để chọn người giỏi
nhất, hoặc xếp 2 - 3... người đồng giải Nhất.

-Sách giáo viên, sách giáo khoa, tranh minh họa.
2. Học sinh:
- Sách giáo khoa.
III.CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Tiến trình

Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
dạy học
1.Ổn định -Cho lớp hát một bài hát tập -Hát.
lớp

thể

2.Kiểm tra -Gọi 3 HS lên bảng đọc nối -3 HS lên bảng để thực hiện
bài cũ

tiếp đoạn trích Dế Mèn bênh yêu cầu , cả lớp theo dõi để
vực kẻ yếu và trả lời câu hỏi:

nhận xét bài đọc và câu trả

HS1: Qua đoạn trích em thích lời của các bạn.
nhất hình ảnh nào về Dế Mèn.
Vì sao?
HS2: Em hiểu như thế nào về
nội dung, ý nghĩa của câu
chuyện?
HS3: Dế Mèn đi nói như thế
nòa để bọn nhện nhận ra lẽ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status